Chủ đề dư luận
Giáo dục & Khoa học
Tin khoa học & công nghệ
Khu Công nghệ sinh học Đồng Nai: Nhiều mô hình ứng dụng công nghệ cao hiệu quả
21-10-2015
Sau 4 năm đi vào hoạt động, mặc dù còn những khó khăn nhưng diện mạo Khu công nghệ sinh học (CNSH) Đồng Nai đã có sự đổi thay rõ nét.
Từ một khu đất đồi mênh mông chẳng có đường đi, cỏ dại mọc um tùm, đến nay, nơi đây dần được thay thế bởi những mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao khá đa dạng như: mô hình sản xuất dưa lưới trong nhà màng theo hướng VietGAP (3.000m2); sản xuất thử nghiệm các giống lan Mokara cắt cành (5.000m2); mô hình trồng xen canh cây hồ tiêu, măng cụt trong vườn cà phê; mô hình nuôi chồn sinh thái; mô hình nuôi nhốt và sản xuất dúi mốc bán công nghiệp…

Phát triển mạnh mô hình trồng cây trong nhà màng

Một trong những đề tài mà Trung tâm Ứng dụng CNSH Đồng Nai sớm thực hiện là xây dựng mô hình trồng dưa lưới trong nhà màng theo hướng VietGAP. Qua thực nghiệm, trung tâm đã chọn lựa được giống, quy trình, giá thể trồng của 17 loại dưa lưới, 8 giống dưa leo có năng suất và chất lượng cao trồng trong nhà màng. Quy trình sản xuất dưa lưới trong nhà màng đã hoàn chỉnh và được chuyển giao cho doanh nghiệp đầu tư dự án sản xuất ngay tại trung tâm với vốn đầu tư khoảng 80 tỷ đồng. Hiện nay, dưa lưới được trồng tại trung tâm đã có sản phẩm tham gia vào thị trường qua các siêu thị. Mô hình trồng dưa lưới trong nhà màng cũng đã được chuyển giao đến nông dân và dự định sẽ mở rộng trong thời gian tới.

Ông Nguyễn Quang Tuấn, Giám đốc Trung tâm Ứng dụng CNSH Đồng Nai cho biết, từ thành công trong mô hình trồng dưa lưới, dưa leo trong nhà màng, hiện trung tâm đang nghiên cứu và thực nghiệm giống, quy trình, giá thể trồng cà chua, ớt ngọt và các loại rau ăn lá trong nhà màng.

Hinh1.JPG
Trồng dưa lê, dưa lưới trong nhà màng


Cạnh khu vực trồng dưa lưới, dưa leo là khu vực trồng lan Mokara cắt cành với diện tích 5.000m2. Theo lời giới thiệu của kỹ sư nông nghiệp Lê Thùy Trang, nhóm hoa lan Mokara là nhóm giống chủ lực trong việc phát triển diện tích và cung cấp sản phẩm hoa lan cắt cành trên thị trường hiện nay, nhu cầu tiêu thụ của thị trường nội địa và xuất khẩu rất lớn. Hoa có đủ màu sắc từ trắng, tím, hồng đỏ, cam, vàng nâu, xanh…Nhóm giống này rất thích hợp với việc trồng sản xuất hoa cắt cành do liên tục ra hoa, có thể đạt 6 - 8 phát hoa/năm.

Hinh-2.jpg
Mô hình trồng Lan Mokara trong nhà màng tại Trung tâm Ứng dụng CNSH Đồng Nai


Đánh giá về khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu sâu bệnh của 10 giống lan Mokara đang trồng tại mô hình, Tiến sĩ Dương Hoa Xô, Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu lan Mokara cho hay, có 4 giống gồm: M.Dear Heart, M.Dinah Shore, M.Mutation, M.Bangkhuntein thích nghi tốt, sinh trưởng khỏe, ít sâu bệnh, siêng ra hoa, màu sắc đẹp, có thể phát triển tốt trong điều kiện khí hậu tại Đồng Nai. Trừ chi phí đầu tư, sau 30 tháng thực hiện, vườn lan tại trung tâm đã mang về lợi nhuận gần 1,18 tỷ đồng.

 “Chinh phục” những động vật hoang dã

Đến thăm những mô hình chăn nuôi, chúng tôi thực sự bất ngờ bởi những loài thú hoang dã khó nuôi như: chồn, dúi… lại đang được các kỹ sư trẻ hằng ngày chăm nuôi và nhân giống tại đây. Mô hình nuôi chồn hương và sản xuất cà phê chồn được trung tâm thực hiện từ năm 2012. Với diện tích 1.000m2, trại nuôi chồn được chia thành 3 khu chuồng: khu chuồng thịt, khu chuồng sinh sản và khu chuồng tăng đàn. Giữa khu trại được thiết kế hồ nước, hòn non bộ và các cây xanh lớn, nhằm tạo môi trường tiểu sinh thái, hướng tới việc thả chồn nuôi bán hoang dã sau khi kết thúc quá trình nuôi nhốt đánh giá độ thích nghi.

Nhờ thực hiện tốt khâu kỹ thuật chăm sóc và ứng dụng phương pháp tiêm hormon sinh sản đã giúp chồn lên giống đồng loạt và sinh sản khá cao. Tỷ lệ mang thai đồng loạt chiếm 75%, số con sinh ra trung bình trong một ổ từ 2 đến 6 con và tỉ lệ con sinh ra sống sót chiếm 87%.

Kỹ sư Chu Quang Tấn, người trực tiếp quản lý trại nuôi chồn hồ hởi “khoe”: “Từ 36 con chồn giống được nuôi từ cuối năm 2012 đến nay chồn đã sinh sản lên 45 con”. Anh Tấn cho biết thêm: “Nuôi chồn không khó vì loài vật này ít bị bệnh và hầu như không lo xảy ra dịch, không tốn công chăm sóc vì chỉ cần cho ăn 1 lần/ngày. Thức ăn cho loài vật này rất đơn giản chủ yếu là trái cây và cháo”.

Để tạo ra được cà phê chồn, trung tâm đã tập cho chồn ăn cà phê. Kết quả cho thấy, khả năng tiêu hóa quả cà phê chín mà chồn ăn vào để thu hoạch được hạt cà phê chồn trung bình khoảng 30%... Mùa sản xuất cà phê đầu tiên, trung tâm thu hoạch được hơn 50kg hạt cà phê chồn và đã bán hết cho người tiêu dùng với giá từ 2 - 2,5 triệu đồng/kg.

Trong những động vật hoang dã ở nước ta, dúi mốc lớn là một động vật có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao. Thịt dúi thơm ngon và nhiều chất dinh dưỡng nên rất được ưa chuộng. Ngoài ra, theo các kết quả nghiên cứu thì mỡ dúi mốc còn được dùng để trị bỏng và chứng vô sinh thũng độc. Tuy nhiên, cho đến nay, dúi mốc chỉ được khai thác trong thiên nhiên và do khai thác quá mức nên nguồn tài nguyên  này đã bị cạn kiệt, vì thế, trung tâm đã tiến hành xây dựng mô hình nhân nuôi loài dúi mốc nhằm chủ động cung cấp nguồn thực phẩm và dược phẩm quý, đồng thời góp phần bảo vệ và sử dụng bền vững nguồn lợi dúi mốc trong thiên nhiên.

Mô hình nuôi dúi mốc tại Khu CNSH được xây dựng với 60 con (gồm 30 dúi mốc cái và 30 dúi mốc đực). Bên cạnh các kỹ thuật chăm sóc, nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của dúi mốc, các kỹ sư ở đây đã nghiên cứu về hiệu quả tác động của kích thích tố sinh dục (hCG, PMSG) đến sự sinh sản của dúi mốc và đưa ra chỉ số hàm lượng kích thích tố với liều lượng phù hợp để dúi mốc sinh sản cao nhất. Theo Thạc sĩ Phí Thị Thu Hiền thì sự tác động của kỹ thuật đã bước đầu mang lại hiệu quả về việc tăng số lượng dúi để đáp ứng cho sản xuất giống và thịt. Từ 60 con dúi ban đầu, đến nay dúi đã sinh sản được 120 con. Thời gian tới, trung tâm sẽ tiến hành nhận nuôi dúi thương phẩm và dúi giống để cung cấp cho thị trường.

Sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh vật

Một mô hình nữa đã và đang mang lại hiệu quả tại trung tâm là sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh vật từ phế phụ phẩm trồng nấm và nông nghiệp. Từ phế phụ phẩm trồng nấm và phế thải nông nghiệp, trung tâm đã chế tạo thành công phân bón hữu cơ vi sinh có chất lượng tốt, mang lại hiệu quả bước đầu trong sản xuất nông nghiệp an toàn của tỉnh.

Hinh5.JPG
Mô hình khảo nghiệm phân bón hữu cơ vi sinh trên cây ca cao


Theo Thạc sĩ Phan Thị Thu Dung, Chủ nhiệm dự án, việc sử dụng phân bón hữu cơ bên cạnh chức năng trả lại sự màu mỡ, phì nhiêu cho đất, còn có tác dụng làm tăng khả năng hấp thu chất dinh dưỡng của cây trồng lên 30 - 60%, từ đó giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Ở Đồng Nai, nghề trồng nấm đã và đang được quan tâm phát triển. Với quy mô sản xuất nấm của tỉnh sẽ tạo ra một lượng bã thải khá lớn với lượng phế thải chưa xử lý ước tính khoảng 10.000 tấn/năm. Đây là nguồn nguyên liệu có sẵn có thể sử dụng để sản xuất phân bón hữu cơ, vừa đáp ứng nhu cầu phân bón hữu cơ cho cây trồng, vừa giải quyết vấn đề bã thải sau khi thu hoạch nấm. “Có thể khẳng định, sau 3 năm thực hiện, chúng tôi đã chế tạo thành công 3 sản phẩm: phân bón hữu cơ sinh học SHDOBI, phân hữu cơ vi sinh HDDOBI và phân vi sinh VSDOBI”, Thạc sĩ Phan Thị Thu Dung cho hay.

Từ tháng 8-2013, trung tâm đã tiến hành sản xuất phân hữu cơ vi sinh bằng nguồn nguyên liệu là phân bò, phân gà, than bùn và bã thải nấm hằng tháng. Kết quả, mỗi tháng, dự án sản xuất được 100 tấn phân hữu cơ vi sinh có chất lượng đảm bảo về độ ẩm, hàm lượng hữu cơ và mật độ vi sinh vật hữu ích. Đến nay, dự án đã sản xuất được 2.250 tấn phân hữu cơ vi sinh đảm bảo chất lượng.

Thạc sĩ Phan Thị Thu Dung cho biết thêm, dự án còn xây dựng 3 mô hình sử dụng phân hữu cơ vi sinh có quy mô 4ha/mô hình là cà phê, tiêu và ca cao.  Kết quả năng suất cây trồng cà phê khoảng 3 tấn/ha, tiêu khoảng 3,58 tấn/ha và ca cao hơn 1 tấn/ha. Cụ thể, đối với cây tiêu đã tăng từ 0,24 - 0,28 tấn/ha/vụ, thu lãi khoảng 34 đến hơn 43 triệu đồng/ha/vụ. Cây cà phê tăng từ 0,33 - 0,39 tấn/ha/vụ với lãi suất tăng từ 6,8 triệu đồng đến hơn 9 triệu đồng/ha/vụ. Cây ca cao tăng từ 0,32 - 0,39 tấn/ha/vụ với lãi thu được tăng từ 12 đến gần 17 triệu đồng/ha/vụ. “Việc xây dựng thành công những mô hình này là cơ sở thực tiễn và có tính thuyết phục cao để bà con nông dân học tập, nhân rộng” , Thạc sĩ Phan Thị Thu Dung khẳng định.

Hinh6.jpg
Sản phẩm phân hữu cơ vi sinh do Trung tâm CNSH Đồng Nai sản xuất


Ngoài ra, dự án đã tập huấn cho 100 hộ nông dân tại địa phương về kỹ thuật chế biến và sử dụng cơ chất hữu cơ tại nhà. Các mô hình tại các hộ dân đã sản xuất được 8 tấn cơ chất hữu cơ bón cho các đối tượng cây trồng của gia đình. Theo tính toán, chi phí người nông dân bỏ ra để tự làm phân hữu cơ vi sinh có thể tiết kiệm được trên 60% so với chi phí mua 1 tấn phân hữu cơ trên thị trường.

Được biết, sau khi kết thúc dự án, trung tâm sẽ tiếp tục sản xuất chế phẩm vi sinh vật và phân hữu cơ vi sinh chất lượng đảm bảo để cung cấp cho nông dân trên địa bàn tỉnh và các tỉnh lân cận...

PGS.TS. Phạm Văn Sáng, Giám đốc Sở Khoa học - công nghệ nhấn mạnh, hiệu quả bước đầu mà các mô hình này đem lại ngày càng khẳng định Trung tâm Ứng dụng CNSH của Đồng Nai sẽ là cầu nối cho những đề tài hay được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất.

Liên Hương
BÌNH LUẬN
Ý kiến của bạn
Tin bài khác cùng chuyên mục
Bạn có thường xuyên đọc báo Lao động Đồng Nai không?
  • Náo nức Xuân về
  • Chúc mừng Năm mới Đinh Dậu. Chúc Báo Lao Động Đồng Nai đạt nhiều thành công mới.
    Trần Hoàng Thanh (24/01/2017 5:28:48 CH)
  • Vui Xuân cùng công nhân lao động
  • Rất vui khi người công nhân lao động được quan tâm về vật chất lẫn tinh thần khi xuân về, Tết đến.
    Nguyễn Trọng Đài (24/01/2017 5:24:14 CH)
  • Lưu giữ nghề thổ cẩm Châu Mạ
  • Nghề dệt thổ cẩm truyền thống cần duy trì và phát triển, nhưng điều này cũng thật khó đấy!
    Nguyễn Hoàng Lộc (24/01/2017 5:13:34 CH)
  • Náo nức Xuân về
  • Năm mới chúc mọi điều tốt lành đến với mọi nhà. Chúc Báo Lao động Đồng Nai ngày càng khởi sắc với nhiều tin, bài có giá trị.
    Nguyễn Minh Trúc (24/01/2017 5:07:05 CH)
Thông tin doanh nghiệp