NCT Dream – Wikipedia tiếng Việt

NCT DREAM (Hangul: 엔시티 드림, Romaja quốc ngữ: ensiti deurim) là nhóm nhỏ thứ ba được giới thiệu của nhóm nhạc nam Hàn Quốc NCT, hoạt động chủ yếu trong nước, được thành lập và quản lý bởi SM Entertainment.[1] Nhóm bao gồm 7 thành viên: Mark, Renjun, Jeno, Haechan, Jaemin, Chenle và Jisung. Nhóm ra mắt với tư cách ban đầu là nhóm nhỏ gồm các thành viên NCT ở độ tuổi thiếu niên, với độ tuổi trung bình của các thành viên là 15,16,17. Khởi đầu là một nhóm nhạc với hình ảnh trẻ trung, phong cách âm nhạc của nhóm sau này đã phát triển để bao gồm nhiều thể loại nhạc khác nhau, và đã được tái cơ cấu hoạt động vào năm 2021 khi tất cả thành viên đến tuổi trưởng thành. Nhóm ra mắt vào ngày 25 tháng 8 năm 2016 với đĩa đơn “Chewing Gum”. NCT DREAM được biết đến như một trong những nghệ sĩ trẻ nổi tiếng nhất lúc bấy giờ, các sản phẩm âm nhạc của nhóm phản ánh về quá trình trưởng thành của tuổi trẻ. Lời bài hát của họ tập trung vào những bình luận cá nhân và xã hội về các giai đoạn phát triển khác nhau của tuổi vị thành niên, với sự chuyển giao từ trẻ thơ sang nổi loạn và trưởng thành. Từ khi ra mắt, nhóm đã phát hành bốn mini album, sáu đĩa đơn, một album phòng thu và tổ chức một chuyến lưu diễn toàn châu Á. Thành công của EP We Boom vào năm 2019 đã giúp NCT DREAM trở thành một trong 10 nghệ sĩ bán chạy hàng đầu Hàn Quốc trong năm đó và mang về cho nhóm giải Bonsang tại lễ trao giải Golden Disc Awards lần thứ 34 và Seoul Music Awards năm 2020.

Mặc dù NCT DREAM ban đầu hoạt động với hệ thống tốt nghiệp theo tuổi, khi đó các thành viên nhóm sẽ “tốt nghiệp” và dừng hoạt động cùng nhóm khi đủ 19 tuổi (20 tuổi tại Hàn Quốc), năm 2020, nó đã được thông báo rằng SM Entertainment sẽ bãi bỏ hệ thống này với việc Mark trở lại hoạt động cùng nhóm, qua đó nhóm sẽ tiếp tục hoạt động với đội hình 7 thành viên với phong cách âm nhạc đa dạng. Thông báo được đưa ra trước khi đơn đặt hàng trước của EP tiếng Hàn thứ tư của họ, Reload, được công bố đã tích lũy được 500.000 bản trước khi phát hành chính thức vào tháng 4 năm 2020, chính thức đánh dấu sự thay đổi phong cách âm nhạc của họ.

NCT DREAM là nghệ sĩ châu Á đầu tiên và duy nhất cho đến nay xuất hiện ba lần liên tiếp trong danh sách 21 Under 21 của Billboard vào các năm 2018, 2019 và 2020, xếp hạng lần lượt là 20, 13 và 19. Năm 2018, NCT DREAM xuất hiện trong danh sách 25 nhân vật tuổi vị thành niên có tầm ảnh hưởng lớn nhất thế giới của tạp chí Time.

Trước khi ra đời : SM Rookies[sửa|sửa mã nguồn]

Trước khi NCT Dream được thành lập, các thành viên của nhóm đã tham gia nhiều hoạt động khác nhau trong ngành giải trí. Jeno từng tham gia đóng một số quảng cáo. Jisung trước đây được biết đến là một diễn viên nhí và đã tham gia một số bộ phim như Boys, Be Curious (2012), No Cave (2013) và Go, Stop, Murder (2013), và từng là thành viên của nhóm nhảy Poppin’ Hyun Joon. Chenle ban đầu là một ca sĩ nhí hoạt động tại thị trường Trung Quốc, đã phát hành ba album, tổ chức một buổi biểu diễn riêng và từng tham gia nhiều chương trình truyền hình trong nước.

Mark là thành viên tiên phong gia nhập công ty sau khi vượt qua vòng tuyển chọn tại Canada vào năm 2012. Haechan gia nhập vào năm 2013 sau một buổi tuyển chọn trong nước. Jisung và Jeno gia nhập SM trải qua mạng lưới hệ thống tuyển chọn của công ty, trong khi Jaemin được phát hiện bởi một nhân viên cấp dưới của công ty khi đang làm việc thiện nguyện. Tháng 7 năm năm ngoái, Renjun được trình làng sau khi vượt qua vòng tuyển chọn tại Trung Quốc. Chenle là thành viên sau cuối gia nhập công ty vào năm năm nay, chỉ vài tháng trước khi nhóm ra đời .

Mark, Jeno, Haechan, Jaemin và Jisung trước đây là thành viên của SM Rookies, một nhóm các thực tập sinh của SM Entertainment. Với tư cách là các thành viên của dự án, tháng 10 năm 2014, họ tham gia chương trình EXO 90:2014 của đài Mnet. Từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2015, họ được chọn là các “Mouseketeer” trong chương trình The Mickey Mouse Club của kênh Disney Channel Hàn Quốc. Các thành viên sau đó tổ chức buổi biểu diễn riêng, SMRookies Show, tại Seoul vào tháng 9 năm 2015 và tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 2 năm 2016.

NCT được trình làng lần đầu vào tháng 1 năm năm nay bởi Lee Soo-man, khi ông cho biết công ty đang lên kế hoạch sẽ cho ra đời một nhóm nhạc nam với số lượng thành viên ” không số lượng giới hạn “, sẽ có nhiều nhóm nhỏ khác nhau với những thành viên khác nhau hoạt động giải trí tại những vương quốc khác nhau trên quốc tế. Mark và Haechan đã ra đời trước đó với tư cách là thành viên những nhóm nhỏ khác của NCT. Mark ra đời trong nhóm nhỏ tiên phong NCT U vào tháng 4 năm năm nay. Cùng với Mark, ngày 7 tháng 7, Haechan ra đời trong nhóm nhỏ NCT 127. Ngày 18 tháng 8 năm năm nay, cả hai cùng Renjun, Jeno, Jaemin, Chenle và Jisung được công bố là những thành viên của NCT Dream, nhóm nhỏ thứ ba của NCT .

2016–2017: Ra mắt, The FirstWe Young

[sửa|sửa mã nguồn]

Ngày 24 tháng 8 năm 2016, NCT Dream ra mắt với đĩa đơn ”Chewing Gum”, với 5 thành viên mới: 3 thành viên từ dự án SM Rookies Jeno, Jaemin, Jisung, 2 thực tập sinh chưa từng được tiết lộ Renjun, Chenle và 2 thành viên đã ra mắt trước đó Mark (hiện đang hoạt động cùng 2 nhóm nhỏ NCT U, NCT 127) và Haechan (hiện đang hoạt động cùng NCT U và NCT 127). Họ xuất hiện trên truyền hình lần đầu tiên tại M Countdown vào ngày 25 tháng 8. Ca khúc đứng vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng Billboard World Digital Song Sales và xếp hạng 23 trên bảng xếp hạng Spotify Viral 50. Cả hai bản Hàn-Trung của ca khúc sau đó được thêm vào album đĩa đơn đầu tay của nhóm.

Ngày 1 tháng 2 năm 2017, SM Entertainment xác nhận nhóm sẽ trở lại với album đĩa đơn The First, mặc dù Jaemin bị chấn thương nên không tham gia. Ngày 9 tháng 2 năm 2017, album The First được ra mắt với ca khúc chủ đề My First And Last được thu âm bằng tiếng Hàn và tiếng Trung. Album ra mắt tại vị trí đầu tiên trên bảng xếp hạng album Gaon. Họ sau đó trình diễn “My First and Last” và ca khúc phụ trong album, “Dunk Shot”, tại M Countdown. Ngày 14 tháng 2, NCT Dream giành chiến thắng tại The Show với ca khúc My First And Last”, mang về chiến thắng đầu tiên cho NCT trong các chương trình âm nhạc.

Cũng trong tháng 2 năm 2017, NCT Dream được chọn là đại sứ của Giải vô địch bóng đá U-20 quốc tế 2017 tổ chức triển khai tại Nước Hàn. Ngày 15 tháng 3 năm 2017, nhóm phát hành ca khúc ” Trigger The Fever “, bài hát chính thức của giải, và trình diễn ca khúc này tại những sự kiện tiếp thị và lễ khai mạc giải .

Ngày 17 tháng 8 năm 2017, NCT Dream phát hành EP We Young với ca khúc chủ đề cùng tên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2017, nhóm phát hành ca khúc Joy nhân dịp lễ Giáng sinh, thuộc dự án SM Station.

NCT Dream nhận được giải thưởng “Nhóm nhạc triển vọng” tại YinYueTai 2017.

2018: NCT 2018: Empathy, We Go Up, Mark tốt nghiệp

[sửa|sửa mã nguồn]

Ngày 4 tháng 3 năm 2018, NCT Dream kết hợp với hai nhóm nhỏ còn lại, NCT U và NCT 127 trong MV “Go” nằm trong dự án NCT 2018 với việc Jaemin trở lại sau hơn 1 năm bị chấn thương. Ngày 27 tháng 8 năm 2018, SM Entertainment xác nhận đây là sẽ lần trở lại cuối cùng của Mark với tư cách là thành viên NCT Dream trước khi tốt nghiệp, khi Mark đến tuổi trưởng thành. Ngày 3 tháng 9 năm 2018, NCT Dream tiếp tục phát hành mini album “We Go Up” trùng tên với ca khúc chủ đề và được thu âm bằng hai ngôn ngữ Hàn-Trung.

Từ ngày 28 tháng 9 đến 5 tháng 10 năm 2018, nhóm tổ chức ”Dream Show”.

Ngày 19 tháng 12, SM Entertainment thông báo Haechan bị chấn thương nên sẽ không tham gia bất kì hoạt động nào cho đến khi hoàn toàn ổn định. Ngày 27 tháng 12, NCT Dream phát hành ca khúc “Candle Light” thuộc dự án SM Station. Ngày 31 tháng 12, Mark chính thức tốt nghiệp NCT Dream.

2019: Hợp tác quốc tế, thành công trong nước với We Boom và chuyến lưu diễn đầu tiên

[sửa|sửa mã nguồn]

Ngày 16 tháng 3 năm 2019, NCT Dream thắng giải Boy Group Daesang của Korean Entertainment Art Award .

Ngày 6 tháng 6 năm 2019, NCT Dream phát hành ”Don’t Need Your Love” hợp tác cùng HRVY nằm trong dự án SM Station.

Ngày 15 tháng 7 năm 2019, NCT Dream phát hành đĩa đơn “Fireflies”.

Ngày 26 tháng 7 năm 2019, NCT Dream phát hành mini album thứ 3 “We Boom” với ca khúc đề “BOOM”.

Ngày 15 tháng 11, nhóm khởi đầu chuyến lưu diễn tiên phong, The Dream Show .

Ngày 21 tháng 11 năm 2019, NCT Dream kết hợp với nhóm nhạc Pretty Much với bài hát “Up to you”.

2020: Phát hành The Dream, Reload tại Nhật Bản, tái cơ cấu hoạt động và NCT 2020

[sửa|sửa mã nguồn]

NCT vẫn sẽ tiếp tục chuyến lưu diễn 29 tháng 4 năm 2020, NCT Dream phát hành mini album thứ tư Reload và có sự tái cấu trúc hoạt động của nhóm. Theo đó các thành viên NCT Dream hiện tại cùng với Mark sẽ được hoạt động cùng với NCT Dream và NCT Dream sẽ hoạt động giống như NCT U.

Ngày 21 tháng 9, dự án Bất Động Sản NCT 2020 khởi động12/10, NCT 2020 phát hành album NCT 2020 Resonance Pt. 1 và NCT Dream tham gia góp mặt vào album với ca khúc ” Déjà Vu ” .23/11, NCT 2020 phát hành album NCT 2020 Resonance Pt. 2

2021: Hot SauceHello Future

[sửa|sửa mã nguồn]

Ngày 11 tháng 4 năm 2021, NCT Dream thông tin sẽ cho ra đời full album đầu tay có tên là 맛 ( Hot Sauce ), công bố sẽ phát hành album vào ngày 10 tháng 5 .

Ngày 9 tháng 5, NCT Dream ra video giới thiệu cho Hot Sauce.

Ngày 10 tháng 5, NCT Dream ra mắt Hot Sauce và bắt đầu quảng bá trên các chương trình âm nhạc. Đến ngày 25 tháng 5, Hot Sauce với lượng tiêu thụ 2.040.360 bản, đã giúp nhóm đạt danh hiệu ‘Million Seller’ trong tuần đầu phát hành, trở thành ‘Double Million Seller’ chỉ trong 16 ngày.

Ngày 28 tháng 6, NCT Dream ra đời album repackage Hello Future .Ngày 7 tháng 7, NCT Dream trở thành nghệ sĩ thứ hai trong K-pop đạt thương hiệu ” Triple Million Seller ” với lệch giá hơn 1 triệu bản so với repackage album Hello Future .Ngày 4 tháng 12, NCT Dream thắng giải Bonsang tại Melon Music Award 2021 .
Ngày 08/01/2022, NCT Dream thắng giải Bonsang tại 36 th Golden Disc Awards .Ngày 23/01/2022, NCT Dream thắng giải Best Album tại The 31 st Seoul Music Awards .Ngày 26/01/2022, album repackage ” Hello Future ” tiêu thụ hơn 1 triệu bản theo Hanteo, giúp NCT Dream trở thành nghệ sĩ tiên phong của SM và thứ hai Kpop đạt được thương hiệu nàyNgày 27/01/2022, NCT Dream thắng giải ” Top Kit Seller of the Year ” và ” Artist Of The Year ( Album ) – 2 nd Quarter ” tại 11 th Gaon Chart Music Awards .

Nghệ danh Tên khai sinh Ngày sinh Quốc tịch
Hangul Latinh Hán tự Hán-Việt
Mark 마크 리 Mark Lee 李敏亨 Lý Mẫn Hưởng 2 tháng 8, 1999 ( 22 tuổi )
 
Canada
Renjun 황런쥔 Huang Renjun 黄仁俊 Hoàng Nhân Tuấn 23 tháng 3, 2000 ( 22 tuổi )  Trung Quốc
Jeno 이제노 Lee Je-no 李帝努 Lý Đế Nỗ 23 tháng 4, 2000 ( 22 tuổi )  Hàn Quốc
Haechan 이동혁 Lee Dong-hyuck 李東赫 Lý Đông Hách 6 tháng 6, 2000 ( 21 tuổi )
Jaemin 나재민 Na Jae-min 羅渽民 La Tại Dân 13 tháng 8, 2000 ( 21 tuổi )
Chenle 종천러 Zhong Chenle 钟辰乐/鐘辰樂 Chung Thần Lạc 22 tháng 11, 2001 ( 20 tuổi )  Trung Quốc
Jisung 박지성 Park Ji-sung 朴志晟 Phác Chí Thịnh 5 tháng 2, 2002 ( 20 tuổi )  Hàn Quốc

Danh sách đĩa nhạc[sửa|sửa mã nguồn]

STT Tiêu đề Ngày phát hành Định dạng Bài hát
1 맛 (Hot Sauce) – The 1st Album 10 tháng 5 năm 2021 CD, tải về, streaming 1. 맛 (Hot Sauce)
2. Diggity3. 고래 ( Dive Into You )4. 우리의 계절 ( My Youth )5. Rocket6. Countdown ( 1, 2, 3 )7. ANL8. 주인공 ( Irreplaceable )

9. 지금처럼만 (Be There For You)

10. Rainbow ( 책갈피 )

2 Glitch Mode – The 2nd Album 28 tháng 3 năm 2022 CD, tải về, streaming 1. Fire Alarm

2. 버퍼링 (Glitch Mode)

3. Arcade4. 너를 위한 단어 ( It’s Your )5. 잘 자 ( Teddy Bear )6. 내일 봐 ( Replay )7. Saturday Drip8. 지금 ( Better Than Gold )9. 미니카 ( Drive )10. 북극성 ( Never Goodbye )11. Rewind

Đĩa đơn album[sửa|sửa mã nguồn]

STT Tiêu đề Ngày phát hành Định dạng Bài hát
1 Chewing Gum 25 tháng 8 năm 2016 Tải về, streaming 1. Chewing Gum
2. Chewing Gum ( 泡泡糖 )
2 The First 9 tháng 2 năm 2017 CD, tải về, streaming 1. 마지막 첫사랑 (My First and Last)
2. 最後的初戀 ( My First and Last )3. 덩크슛 ( Dunk Shot )4. Chewing Gum5. Chewing Gum ( 泡泡糖 )
3 JOY – SM STATION 15 tháng 12 năm 2017 Tải về, streaming 1. Joy
2. Joy ( Inst. )
4 사랑한단 뜻이야 (Candle Light) – SM STATION 27 tháng 12 năm 2018 Tải về, streaming 1. 사랑한단 뜻이야 (Candle Light)
2. 사랑한단 뜻이야 ( Candle Light ) ( Inst. )
5 Don’t Need Your Love – SM STATION 6 tháng 6 năm 2019 Tải về, streaming 1. Don’t Need Your Love
2. Don’t Need Your Love ( Inst. )
6 Fireflies – THE OFFICIAL SONG OF THE WORLD SCOUT FOUNDATION 15 tháng 7 năm 2019 Tải về, streaming 1. Fireflies
STT Tiêu đề Ngày phát hành Định dạng Bài hát
1 We Young 17 tháng 8 năm 2017 CD, tải về, streaming 1. We Young
2. La La Love3. 같은 시간 같은 자리 ( Walk you home )4. My Page5. We Young ( Chinese Ver. )6. ( Bonus Track ) Trigger the fever
2 We Go Up 3 tháng 9 năm 2018 CD, tải về, streaming 1. We Go Up
2. 1,2,33. 너와 나 ( Beautiful Time )4. Drippin5. Dear DREAM6. We Go Up ( 靑春接力 ) ( Chinese Ver. )
3 We Boom 29 tháng 7 năm 2019 CD, tải về, streaming 1. Boom
2. Stronger3. 1194. 사랑이 좀 어려워 ( Bye My First … )5. Best Friend6. Dream Run
4 Reload 29 tháng 4 năm 2020 CD, tải về, streaming 1. Ridin’
2. Quiet Down3. 내게 말해줘 ( 7 Days )4. 사랑은 또다시 ( Love Again )5. 너의 자리 ( Puzzle Piece )

Album tái phát hành[sửa|sửa mã nguồn]

STT Tiêu Đề Ngày phát hành Định dạng Bài hát
1 Hello Future 28 tháng 6 năm 2021 CD, tải về, streaming 1. Hello future
2. Bungee3. 맛 ( Hot Sauce )4. Diggity5. 오르골 ( Life Is Still Going On )6. 고래 ( Dive Into You )7. 우리의 계절 ( My Youth )8. Rocket 9. Countdown ( 3, 2, 1 ) 10. ANL

11. 주인공 (Irreplaceable)

12. 지금처럼만 ( Be There For You )13. Rainbow ( 책갈피 )

Trao Giải và đề cử[sửa|sửa mã nguồn]

Chương trình âm nhạc[sửa|sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát Điểm
2017 14 tháng 2 “My First and Last” 8291
21 tháng 2 8248
28 tháng 2 9162
5 tháng 9 “We Young” 8744
2019 6 tháng 8 “Boom” 9600
Năm Ngày Bài hát Điểm
2021 19 tháng 5 “Hot Sauce”
14 tháng 7 “Hello Future” 6475
2022 6 tháng 4 “Glitch Mode” 5598
Năm Ngày Bài hát Điểm
2021 20 tháng 5 “Hot Sauce” 10800
27 tháng 5 8275
3 tháng 6
8 tháng 7 “Hello Future” 7915
2022 7 tháng 4 “Glitch Mode” 7536
Năm Ngày Bài hát Điểm
2020 8 tháng 5 “Ridin'” 9123
2021 26 tháng 5 “Hot Sauce” 10607
28 tháng 5 9083
9 tháng 7 “Hello Future” 8184
2022 8 tháng 4 “Glitch Mode” 10718
Năm Ngày Bài hát Điểm
2021 22 tháng 5 “Hot Sauce” 10000
10 tháng 7 “Hello Future” 6720
2022 9 tháng 4 “Glitch Mode” 9300
Năm Ngày Bài hát Điểm
2021 23 tháng 5 “Hot Sauce” 9405
11 tháng 7 “Hello Future” 7323
2022 11 tháng 4 “Glitch Mode” 6845