Ai là người phát minh ra đàn piano? – Tiến Thành Music School

Vào cuối thế kỷ 17 tại Bảo tàng nhạc cụ thành phố Florence nước Ý, có một nhân viên cấp dưới quản trị tên là Bartolomeo Cristofori. Ông suốt đời sống giữa những cây đàn clavicorde, clavecin và tâm lý ông luôn nghĩ đến những dự kiến nâng cấp cải tiến đàn clavecin. Phát minh của ông rất đơn thuần : thay những que gảy dây bằng những búa nhỏ đập vào dây đàn, đập mạnh hay yếu sẽ tạo nên âm thanh lớn hoặc nhỏ. Thật ra điều này không phải là mới, thời thời xưa người ta đã chơi đàn tympanon bằng cách gõ vào dây. Vấn đề ở chỗ là làm cho búa gõ lên dây đàn được liên hệ ngặt nghèo với lực tác động ảnh hưởng trên bàn phím, để ấn mạnh lên phím sẽ có âm thanh lớn, ấn nhẹ thì có âm thanh nhỏ hơn .

Người ta không biết Bartolomeo Cristofori  đã  phải mất bao nhiêu thời gian và thử nghiệm bao nhiêu giải pháp, nhưng tới năm 1709 những người tới bảo tàng Florence đã có thể được chiêm ngưỡng bốn cây đàn clavecin cải tiến do ông chính chế tạo với tên gọi mới cũng do ông đặt là gravicembalo col piano e forte (mà sau này người ta gọi tắt là piano).

The 1722 Cristofori ‘s Piano

Giải pháp ưu việt ở đầu cuối là ông đã tạo ra một thiết bị tinh xảo gồm một đòn kích bẩy kép có gắn búa nhỏ, nhẹ, bọc da, gắn với phím đàn và chịu ảnh hưởng tác động trực tiếp của lực ảnh hưởng tác động trên phím. Búa đập vào dây đàn để tạo ra âm thanh và có bộ phận ngắt âm bằng dạ khi ngón tay không còn ấn xuống phím đàn nữa .

Tuy đàn piano có khá nhiều ưu điểm, nó vẫn chưa được các nhạc sĩ dùng ngay và Bartolomeo Cristofori đã chết trong nghèo túng năm 1731, không kịp chứng kiến giây phút đăng quang của đứa con do mình tạo ra và bản thân ông cũng không được nhiều người biết đến.

Đàn piano sau đó đã được những nhạc sĩ như W.A.Mozart, J.S.Bach, L.V.Beethoven đảm nhiệm và thổi vào đó những giai điệu mê hoặc. Với sự nhạy cảm về cường độ, âm thanh sang và trong trẻo, nhiều sắc thái, những phòng hòa nhạc đã mở toang cửa đảm nhiệm nó .
Câu chuyện về dương cầm đưa ta trở lại quốc gia Tuscany ( thuộc nước Ý thời nay ) vào những năm cuối thế kỷ XVII. Nơi ấy có Thái tử Ferdinando de Medici, một người yêu thích và luôn hỗ trợ vốn cho những hoạt động giải trí nghệ thuật và thẩm mỹ âm nhạc. Năm 1688, Thái tử tới Venice tham gia tiệc tùng Carnival. Trên đường về nhà, khi ngang qua thành phố Padua, ông và Cristofori đã gặp nhau .
Đây là thời gian nhà quý tộc đang tìm một kỹ thuật viên để chăm nom cho những nhạc cụ của ông, sửa chữa thay thế người nhiệm kỳ trước đó đã mất. Tuy nhiên, Thái tử Ferdinando không chỉ mong đợi ở Cristofori dừng lại ở vai trò một kĩ thuật viên, mà còn phải là một người nâng cấp cải tiến những nhạc cụ .
Lúc này ở tuổi 33, Cristofori chưa có phát minh gì đáng kể. Mặc dù tại thời gian ấy có rất nhiều sự lựa chọn, nhưng với nhãn quan cảm và sự cảm nhận của mình, Thái tử đã thấy được tiềm năng ở Cristofori và quyết chọn ông. Sau đó Cristofori chuyển đến sống tại thành phố Florence để thao tác cho Thái tử, ở đây ông được cấp cho một phân xưởng riêng cùng 1 – 2 người giúp việc và được trả lương cao hơn người nhiệm kỳ trước đó với khoảng chừng 12 đồng xu tiền Scudo mỗi tháng .
Tại phân xưởng, Cristofori lên dây đàn, luân chuyển và nâng cấp cải tiến những nhạc cụ. Đặc biệt, ông còn được giao việc làm trùng tu những cây đàn cla-vơ-xanh ( clavecin ) quý giá. Đàn cla-vơ-xanh – loại đàn rất phổ cập thời bấy giờ – có bàn phím và âm thanh được phát ra bằng một mạng lưới hệ thống cần có móc ở đầu cần để gảy vào dây đàn, tuy nhiên nó có một điểm yếu kém lớn là không có năng lực phát tiếng to, nhỏ theo độ mạnh, nhẹ khi người chơi nhấn phím .
David Lanz tâm sự rằng qua bản nhạc “ Cristofori’s Dream ”, ông hình tượng ra Cristofori đang ở phân xưởng của mình lúc về khuya. Nhà phát minh nhạc cụ cất những dụng cụ chế tác rồi thổi tắt những ngọn nến để nghỉ ngơi sau một ngày thao tác dài. Rồi ông phân vân tự hỏi về những âm thanh của loại nhạc cụ do ông tạo ra sẽ như thế nào đây ? Ông chìm dần vào giấc ngủ sâu và trong giấc mơ, ông đã nghe thấy chiều sâu cùng vẻ đẹp tuyệt vời của tiếng dương cầm văn minh của tất cả chúng ta ngày này .
Chẳng ai biết được Cristofori đã phải đổ bao nhiêu công sức của con người và nhiệt huyết, trải qua bao nhiêu phép thử để đi tới quyết định hành động sau cuối là thay những cần có móc để gảy dây trong hộp đàn bằng những búa nhỏ có bọc nỉ ở đầu búa để gõ vào dây đàn. Chính mạng lưới hệ thống cần và búa này đã giúp tạo nên một trong những tính năng quan trọng nhất của dương cầm chính là phát ra những âm thanh to, nhỏ khác nhau do lực nhấn của ngón tay ảnh hưởng tác động lên phím. Chính vì vậy Cristofori đã đặt tên cho cây đàn này là : “ Gravicembalo col piano e forte ”, trong tiếng Ý là, “ Đàn cla-vơ-xanh với âm thanh nhỏ và to ” .

Theo sử sách ghi chép lại, cây dương cầm đầu tiên được Cristofori chế tạo năm 1709. Như vậy tính đến nay, dương cầm đã hơn 300 tuổi. Theo thời gian, tên của cây đàn được rút ngắn lại với “Pianoforte”, và cuối cùng là “Piano” như ngày nay. Hiện nay còn 3 cây dương cầm do chính tay Cristofori chế tạo, gồm có:

– Cây đàn sản xuất vào năm 1720, có 54 phím với miếng gỗ tăng âm được đặt thêm năm 1938. Hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Metropolitan – New York, Mỹ
– Cây đàn sản xuất vào năm 1722, có âm vực 4 ốc-ta ( octave – quãng tám ), hiện ở tại Bảo tàng Nhạc cụ vương quốc ở Rome, Ý .
– Cây đàn sản xuất vào năm 1726, có âm vực 4 ốc-ta, hiện ở tại Bảo tàng nhạc cụ của Đại học Leipzig, Đức .
Trên những cây dương cầm này đều được khắc dòng chữ : “ BARTHOLOMAEVS DE CHRISTOPHORIS PATAVINUS INVENTOR FACIEBAT FLORENTIAE “ [ date ], nghĩa là : “ Nhà phát minh Bartolomeo Cristofori của Padua tạo ra chiếc đàn này ở Florence ” [ ngày được ghi bằng chữ la mã ]Trong 300 năm qua, dương cầm đã được nhiều nghệ nhân nâng cấp cải tiến và hoàn thành xong nó, nhưng toàn bộ vẫn dựa trên nguyên tắc cấu trúc của Cristofori. Âm thanh những cây dương cầm ngày càng đẹp, âm vực ngày càng được nâng cao. Hiện nay âm vực của nó thường là 8 ốc-ta ( octave – quãng tám ), đặc biệt quan trọng có những cây đàn đạt tới 9 ốc-ta và phân phối được những nhu yếu thẩm mỹ và nghệ thuật cao .
Với lợi thế tạo ra được những âm thanh nghe êm ái như tiếng mưa rơi, tiếng suối chảy hay hùng tráng như tiếng sấm rền, tiến đạn nổ, dương cầm dần chiếm được tình cảm của những nhà soạn nhạc, nghệ sĩ diễn tấu và khán thính giả. Những nhạc phẩm tiên phong được soạn cho dương cầm là 12 bản xô-nát ( sonata ) của nhạc sĩ Ludovico Giustini. Ưu thế tuyệt vời của dương cầm so với đàn cla-vơ-xanh được khẳng định chắc chắn là nhờ những nhạc sĩ lớn theo phe phái Cổ điển Viên ( Vienne ), đặc biệt quan trọng là Franz Joseph Haydn ( 1732 – 1809 ), Wolfgang Amadeus Mozart ( 1756 – 1791 ) và Ludwig van Beethoven ( 1770 – 1827 ) …
David Lanz Kết luận rằng, mỗi tất cả chúng ta – những ai yêu dương cầm – đều cảm thấy nợ Cristofori món nợ tình cảm. Bản nhạc này được David Lanz viết để dành Tặng Ngay riêng cho Cristofori, nhà phát minh vĩ đại mà lịch sử dân tộc đã vô tình quên lãng .
Đối với tình nhân âm thanh tinh xảo của dương cầm, Giấc mơ của Cristofori đã trở thành thực sự và sẽ còn sống mãi. Còn giấc mơ của tôi, từ đây mới chỉ khởi đầu …

 

Tin liên quan