Tiểu luận Hiện trạng và một số giải pháp xây dựng nông thôn mới – Tài liệu text

Tiểu luận Hiện trạng và một số giải pháp xây dựng nông thôn mới

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (158.38 KB, 27 trang )

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Phát triển nông nghiệp, nông thôn luôn giành được sự quan tâm to lớn của
Đảng và Nhà nước, nhiều chủ trương chính sách đã được ban hành và tổ chức
thực hiện hiệu quả và đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Kết cấu hạ tầng kinh
tế – xã hội nông thôn được tăng cường, điện, đường, trường, trạm…nhất là
thủy lợi, giao thông đã được đầu tư xây dựng tại nhiều nơi, góp phần thúc đẩy
sản xuất, từng bước thay đổi bộ mặt nông thôn. Bên cạnh những thành tựu đã
đạt được có thể thấy hiện nay phát triển nông thôn Việt Nam vẫn còn gặp
nhiều những khó khăn, hạn chế. Trước năm 2009, mặc dù có sự chuyển đổi về
cơ cấu sản xuất nhưng ở nông thôn sản xuất nông nghiệp vẫn là loại hình sản
xuất chủ đạo, trình độ sản xuất còn thấp nên tốc độ tăng trưởng kinh tế, đóng
góp cho GDP của khu vực nông nghiệp còn chưa tương xứng với tiềm năng.
Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội ở nông thôn còn yếu kém, lạc hậu và không
đồng bộ. Kết cấu hạ tầng chưa đảm bảo yêu cầu phát triển kinh tế; Cơ cấu hạ
tầng kết nối giữa các khu vực còn yếu kém. Sự phối hợp trong kết cấu hạ tầng
kinh tế – xã hội của các điểm dân cư mới chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt và
nhanh chóng bị lạc hậu trong quá trình phát triển.
Ngày 16 tháng 4 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
491/QĐ-TTg về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới,
gồm 19 nội dung tiêu chí cụ thể, chia thành 5 nhóm. Nhóm thứ nhất là tiêu chí
về “Quy hoạch và thực hiện quy hoạch”. Nhóm thứ hai về “Hạ tầng kinh tế – xã
hội” với các tiêu chí Giao thông, Thủy lợi, Điện, Trường học, cơ sở vật chất Văn
hóa, Chợ nông thôn, Bưu điện, Nhà ở dân cư. Nhóm thứ ba là về “Kinh tế và tổ
chức sản xuất”, gồm tiêu chí thu nhập, hộ nghèo, cơ cấu lao động và hình thức tổ
chức sản xuất. Nhóm thứ tư “Văn hóa- Xã hội – Môi trường” gồm tiêu chí Giáo
dục, Y tế, Văn hóa và môi trường; và cuối cùng là nhóm về “Hệ thống chính trị”

1

với 2 tiêu chí: Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh và an ninh, trật tự xã
hội.
Qua 04 năm triển khai thực hiện, trên thực tế có những tiêu chí gặp nhiều
khó khăn, vướng mắc, ví dụ, tiêu chí số 2 về giao thông nông thôn, tính đến hết
năm 2014 trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn chưa có xã nào đạt, kể cả các xã làm điểm.
Vì vậy, việc phân tích, đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong quá trình
thực hiện các nhóm tiêu chí xây dựng nông thôn mới nói chung trên địa bàn
nông thôn là một vấn đề cấp thiết nhằm đề xuất một số giải pháp để tiếp tục đẩy
nhanh qúa trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn là lý do em
chọn đề tài “Hiện trạng và một số giải pháp xây dựng nông thôn mới trên địa
bàn tỉnh Bắc Kạn từ nay đến năm 2020” làm tiểu luận của chuyên đề “Xây
dựng mô hình nông thôn mới ở các tỉnh phía Bắc nước ta trong điều kiện mới”.
2. Mục tiêu của đề tài:
– Phân tích hiện trạng quá trình thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn
mới trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn từ năm 2011-2014.
– Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện các tiêu chí xây dựng nông
thôn mới trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn từ nay cho đến năm 2020.
3. Giới hạn:
Đề tài nghiên cứu thực trạng xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh
Bắc Kạn từ năm 2011 đến 2014, từ đó đưa ra những giải pháp để triển khai
thực hiện đến năm 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng các phương pháp: Thu thập thông tin, dữ liệu; phân tích, tổng
hợp, thống kê, so sánh. Phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng.

2

5. Ý nghĩa thực tiễn
– Những kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để đánh giá tiến độ quá

trình thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Kạn, nhất là
các tiêu chí thuộc nhóm thứ hai.
– Đề tài đánh giá một cách khách quan, trung thực hiện trạng xây dựng
nông thôn mới của tỉnh nên đây là tài liệu tham khảo bổ ích giúp cho các địa
phương trong tỉnh vận dụng vào thực tiễn ở địa phương mình trong quá trình
xây dựng nông thôn mới trong thời gian tới.
6. Kết cấu tiểu luận: Gồm 3 phần:
– Phần mở đầu;
– Phần nội dung:
– Kết luận:

3

B. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới
1.1. Lý luận về nông thôn và xây dựng nông thôn mới
Khái niệm Nông thôn: Nông thôn là một hệ thống xã hội, một cộng đồng
xã hội có những đặc trưng riêng biệt như một xã hội nhỏ, trong đó có đầy đủ
các yếu tố, các vấn đề xã hội và các thiết chế xã hội. Nông thôn được xem xét
như một cơ cấu xã hội, trong đó có hàng loạt các yếu tố, các lĩnh vực nằm
trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau (nguồn: Nông nghiệp, nông dân, nông
thôn trong đổi mới ở Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn – Tô Huy
Rứa (chủ biên).
Đặc trưng cơ bản của nông thôn
Hệ thống xã hội nông thôn được xác định theo ba đặc trưng cơ bản sau:
* Về các nhóm giai cấp, tầng lớp xã hội: Ở nông thôn, đặc trưng chủ yếu
ở đây là nông dân, ngoài ra ở từng xã hội còn có các giai cấp, tầng lớp như địa
chủ, phú nông, nhóm thợ thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ, v.v…
* Về lĩnh vực sản xuất: Đặc trưng rõ nét nhất của nông thôn là sản xuất nông

nghiệp; ngoài ra, còn có thể kể đến cấu trúc phi nông nghiệp bao gồm: dịch vụ,
buôn bán, tiểu thủ công nghiệp mà có vai trò rất lớn đối với lĩnh vực sản xuất
nông nghiệp.
* Về lối sống, văn hóa của từng loại cộng đồng: Nông thôn thường rất đặc
trưng với lối sống văn hóa của cộng đồng làng xã. Đặc trưng này bao gồm rất
nhiều khía cạnh như từ hệ thống dịch vụ, sự giao tiếp, đời sống tinh thần,
phong tục, tập quán, hệ giá trị, chuẩn mực cho hành vi,… đến khía cạnh dân
số, lối sống gia đình, sinh hoạt kinh tế,… ngay cả đến hệ thống đường xá,
năng lượng, nhà ở,…

4

Đó là những đặc trưng cơ bản nhất về mặt xã hội học để nhận diện nông
thôn. Chính đặc trưng thứ ba đã tạo ra bản sắc riêng, diện mạo riêng cho hệ
thống xã hội nông thôn.
Khái niệm về nông thôn mới
Theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/T.Ư của Trung ương, nông thôn mới là
khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội từng bước hiện đại; cơ
cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với
phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị
theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân
tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống
vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Với tinh thần đó, nông thôn mới có năm nội dung cơ bản. Thứ nhất
là nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại. Hai là sản xuất
bền vững, theo hướng hàng hóa. Ba là đời sống vật chất và tinh thần của
người dân ngày càng được nâng cao. Bốn là bản sắc văn hóa dân tộc được giữ
gìn và phát triển. Năm là xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ.

Để xây dựng nông thôn với năm nội dung đó, Thủ tướng Chính phủ cũng
đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn
mới bao gồm 19 tiêu chí.
Sự khác biệt giữa xây dựng nông thôn trước đây với xây dựng nông thôn
mới
Có thể nói, xây dựng nông thôn cũng đã có từ lâu tại Việt Nam. Trước
đây, có thời điểm chúng ta xây dựng mô hình nông thôn ở cấp huyện, cấp
thôn, nay chúng ta xây dựng nông thôn mới ở cấp xã. Sự khác biệt giữa xây
dựng nông thôn trước đây với xây dựng nông thôn mới chính là ở những điểm
sau:

5

Thứ nhất, xây dựng nông thôn mới là xây dựng nông thôn theo tiêu chí
chung cả nước được định trước.
Thứ hai, xây dựng nông thôn địa bàn cấp xã và trong phạm vi cả nước.
Thứ ba, cộng đồng dân cư là chủ thể của xây dựng nông thôn mới, không
phải ai làm hộ, người nông dân tự xây dựng.
Thứ tư, đây là một chương trình khung, bao các chương trình mục tiêu
quốc gia và các chương trình có tính chất mục tiêu đang diễn ra tại nông thôn.
1.2. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về Xây dựng Nông thôn mới
Trong quá trình lãnh đạo xây dựng đất nước, Đảng ta đã xác định rõ quan
điểm nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền nông nghiệp lạc hậu, vì vậy,
xác định tầm quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn, sự đột phá
đầu tiên về chính sách của Đảng trong thời kỳ đổi mới cũng được khởi đầu từ
lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng ta tiếp tục đưa ra những quan
điểm chỉ đạo đối với vấn đề nông thôn, nông dân, nông nghiệp. Đại hội đã
khẳng định những thành tựu trong phát triển kinh tế – xã hội nói chung, những

kết qủa đạt được của nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói riêng và nhấn
mạnh “ Sự phát triển ổn định của nông nghiệp nhất là sản xuất lương thực và
đảm bảo an sinh, an ninh lương thực quốc gia. Kinh tế nông thôn và đời sống
nông dân cải thiện hơn trước, việc tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng
nông thôn, đầu tư phát triển giống mới có năng xuất, chất lượng cao, phát triển
các cụm công nghiệp, làng nghề tiểu thủ công nghiệp….đã có tác động tích cực
đến sản xuất, tạo việc làm và xóa đói giảm nghèo”.
Có thể khẳng định rằng, thành tựu trong nông nghiệp, nông dân, nông
thôn không chỉ góp phần vào ổn định chính trị, xã hội nông thôn và nâng cao
đời sống nông dân trên phạm vi cả nước mà còn ngày càng tạo thêm những

6

tiền đề vật chất cần thiết góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước.
Tuy cùng với những thành tựu đạt được nông nghiệp, nông dân, nông thôn
nước ta trong gia đoạn hiện nay vẫn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém. Nghị
quyết Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm”; “tình trạng thiếu việc làm còn cao”;
đời sống của một bộ phận dân cư nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa còn
nhiều khó khăn; xóa đói giảm nghèo chưa bền vững, tình trạng tái nghèo còn
cao, khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, chất lượng chăm sóc sức khỏe
còn thấp, hệ thống y tế và chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng yêu cầu
khám, chữa bệnh của nhân dân nhất là với người nghèo, đồng bào vùng sâu,
vùng xa, vùng dân tộc thiểu số; “ Môi trường ở nhiều nơi bị ô nhiễm nặng, tài
nguyên đất đai chưa quản lý tốt, khai thác sử dụng kém hiệu quả, chính sách
đất đai có mặt chưa phù hợp”.
Xuất phát từ thực tế, trong đó quan điểm chỉ đạo thực hiện mục tiêu phát
triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong giai đoạn 2011-2015 cũng được

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng xác định rõ những nội dung chính sau:
Thứ nhất; phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, hiệu quả bền vững
trên cơ sở phát huy những lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới gắn với giải
quyết tốt các vấn đề nông dân, nông thôn.
Thứ hai; Xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân chủ thể của
quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn trong toàn bộ quá trình phát triển
nông nghiệp và nông thôn hiện nay, nông dân giữ vai trò chủ thể, đây là sự
khẳng định đúng đắn, cần thiết nhằm khơi dậy và phát huy mọi tiềm lực của
nông dân trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới trên các mặt kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội đồng thời nhằm đảm bảo những quyền lợi chính đáng của
nông dân. Để phát huy vai trò của nông dân hiện nay, Nghị quyết Đại hội

7

Đảng khóa XI nêu rõ: “Nêu cao trình độ giác ngộ của giai cấp nông dân, tạo
điều kiện để nhân dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Thứ ba: Xây dựng nông thôn mới theo hướng văn minh, giàu đẹp, nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhằm khắc phục hạn chế và bất cập
trong phát triển nông thôn nước ta hiện nay. Đảng xác định: “Xây dựng nông
thôn mới theo hướng văn minh, giàu đẹp đi đôi với nâng cao đời sống vật chất
tinh thần của nhân dân”, đồng thời “quy hoạch phát triển nông thôn và phát triển
đô thị, bố trí các điểm dân cư, phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề
gắn với bảo vệ môi trường”.
Những quan điểm về vấn đề nông nghiệp xây dựng nông thôn mới trong
Nghị quyết Đại hội lần XI của Đảng là sự khẳng định bổ sung và tiếp tục phát
triển chủ trương đường lối lãnh đạo đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn
được đặt ra từ Nghị quyết Trung ương 7 khóa X của Đảng quán triệt sâu sắc
và vận dụng hiệu quả những quan điểm chỉ đạo trên của Đảng là cơ sở vững

chắc để nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta có những bước phát triển
mới.
Nhằm đảm bảo việc xây dựng nông thôn mới hiệu quả và phù hợp với
thực tiễn, ngày 20 tháng 02 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết
định 342/QĐ- TTg sửa đổi một số tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn
mới được ban hành kèm theo quyết định 491/QĐ- TTg. Quyết định 342/QĐTTg đã sửa đổi 05 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban
hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ
tướng Chính phủ cụ thể như sau:
Tiêu chí số 07 về chợ nông thôn được sửa đổi như sau: “Chợ theo quy
hoạch, đạt chuẩn theo quy định”.
Tiêu chí số 10 về thu nhập được sửa đổi như sau:

8

Nội dung tiêu chí: Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn
(triệu đồng/người).
Chỉ tiêu chung cho cả nước:
Năm 2012: Đạt 18 triệu đồng/người;
Đến năm 2015: Đạt 26 triệu đồng/người;
Đến năm 2020: Đạt 44 triệu đồng/người.
Tiêu chí số 12 về cơ cấu lao động được sửa đổi như sau:
Tên tiêu chí: Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên;
Nội dung tiêu chí: Tỷ lệ người làm việc trên dân số trong độ tuổi lao động.
Chỉ tiêu chung và từng vùng: đạt từ 90% trở lên;
Tiêu chí số 14 về giáo dục được sửa đổi như sau: “14.1 Phổ cập giáo dục THCS”.
Tiêu chí số 15 về y tế được sửa đổi như sau:
Nội dung: “15.1 Tỷ lệ người dân tham gia Bảo hiểm y tế”
Chỉ tiêu chung cho cả nước: đạt từ 70% trở lên;
Chỉ tiêu cụ thể cho các vùng: Đạt.

2. Kết quả thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn
mới trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn từ 2011 đến 2014
Theo kết quả tự đánh giá của các xã và báo cáo của huyện, thị xã về kết
quả rà soát 112 xã theo Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới và theo Thông
tư số 41/2013/TT-BNNPTNT như sau:
– 08 xã đạt 10-14 tiêu chí (tăng 04 xã so với năm 2013);
– 79 xã đạt từ đạt 5 – 9 tiêu chí (giảm 02 xã so với năm 2013);
– 25 xã đạt dưới 5 tiêu chí (giảm 02 xã so với năm 2013);
– 0 xã nào trắng tiêu chí (năm 2010 có 02 xã trắng tiêu chí).
Bình quân mỗi xã đạt 6,3 tiêu chí tăng so với năm 2013 là 0,51 tiêu chí
(năm 2013 bình quân 5,79 tiêu chí/xã).
– Cụ thể mức độ đạt tiêu chí:

9

+ Quy hoạch có 112/112 xã hoàn thành;
+ Tiêu chí Giao thông 0/112 xã;
+ Tiêu chí thủy lợi 34/112 xã;
+ Tiêu chí điện 61/112 xã;
+ Tiêu chí trường học 7/112 xã;
+ Tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa 0/112 xã;
+ Tiêu chí chợ 34/112 xã;
+ Tiêu chí bưu điện 66/112 xã;
+ Tiêu chí nhà ở dân cư 12/112 xã;
+ Tiêu chí thu nhập 08/112 xã;
+ Tiêu chí hộ nghèo 30/112 xã;
+ Tiêu chí tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên 70/112 xã;
+ Tiêu chí hình thức tổ chức sản xuất 25/112 xã;
+ Tiêu chí giáo dục 27/112 xã;

+ Tiêu chí y tế 71/112 xã;
+ Tiêu chí văn hóa 3/112 xã;
+ Tiêu chí môi trường 0/112 xã;
+ Tiêu chí hệ thống chính trị 28/112 xã;
+ Tiêu chí an ninh trật tự xã hội 89/112 xã.
2.1. Công tác lập Đồ án quy hoạch, Đề án xây dựng nông thôn mới
– Công tác lập Đồ án quy hoạch: Đến tháng 4/2013 toàn tỉnh hoàn thành
công tác lập Đồ án quy hoạch, 112/112 xã đã phê duyệt xong Đồ án quy
hoạch, công bố niêm yết công khai qui hoạch, đạt 100%. Tuy nhiên, chưa có
xã nào hoàn thành cắm mốc chỉ giới các công trình hạ tầng theo thông tư số
41/2013/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và PTNT.

10

– Công tác xây dựng Đề án: Đã có 112/112 xã được phê duyệt Đề án xây
dựng nông thôn mới (đạt 100%). Chất lượng Đề án nhìn chung còn thấp, quá
trình triển khai thực hiện còn gặp nhiều khó khăn.
2.2. Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân
Trong 4 năm (2011 – 2014) thực hiện nguồn vốn sự nghiệp hỗ trợ phát
triển sản xuất thuộc Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới là 11.736
triệu đồng, giải ngân 11.650 triệu đồng (đạt 99,23% kế hoạch). Nội dung hỗ
trợ chủ yếu tập trung về giống cây trồng, vật nuôi cho các hộ gia đình; hỗ trợ
máy móc cho cơ sở chế biến dong riềng và hợp tác xã nông nghiệp.
Nguồn vốn lồng ghép để hỗ trợ phát triển sản xuất trong 4 năm (20112014) là 21,3 tỷ đồng. Đã triển khai hỗ trợ 18.657 cây giống, 41.677 con
giống vật nuôi, 1.040 máy móc các loại. Số hộ hưởng lợi là 5.903 hộ. Xây
dựng, thực hiện 119 mô hình chăn nuôi, trồng trọt các loại; mở 178 lớp bồi
dưỡng tập huấn về khuyến nông khuyến lâm với 4.770 lượt người tham gia.
2.3. Xây dựng hạ tầng thiết yếu
Qua 4 năm thực hiện, xây dựng hạ tầng kinh tế- xã hội thiết yếu ở nông

thôn đã đạt một số kết quả nhất định góp phần quan trọng tạo diện mạo mới
cho nông thôn Bắc Kạn. Tuy nhiên là tỉnh miền núi khó khăn, đất rộng, người
thưa địa hình phức tạp, suất đầu tư các công trình hạ tầng rất cao, nguồn lực
của địa phương còn hạn chế, đóng góp của người dân chủ yếu là hiến đất và
ngày công lao động nên số lượng các công trình mới được đầu tư chưa nhiều,
chưa làm chuyển biến rõ rệt bộ mặt nông thôn.
2.3.1. Đường giao thông nông thôn
Trong 4 năm (2011-2014) tổng vốn đầu tư trực tiếp từ Chương trình
MTQG xây dựng nông thôn mới là 23.420 triệu đồng, đã đầu tư xây dựng
được 30,3 km đường giao thông nông thôn và 1,43 km kênh mương nội đồng,
nhân dân huy động đóng góp hơn 30.000 ngày công lao động.

11

Nguồn vốn lồng ghép và đóng góp của nhân dân trong 4 năm (2011-2014)
là hơn 170 tỷ đồng, đã đầu tư xây dựng được 69,9 km đường trục xã, liên xã;
bê tông hóa 46,7 km đường trục thôn, liên thôn, xóm; nâng cấp 48 công trình
đường trục thôn; xây dựng 13 công trình đường giao thông nội đồng.
Đến nay chưa có xã nào đạt tiêu chí về giao thông.
2.3.2. Thuỷ lợi
Các công trình lồng ghép thực hiện xây dựng được 41 công trình, kiên cố
hóa được 84,185 km kênh mương, 2,84 km kè, nạo vét tu sửa được 10,3 km
kênh mương; xây dựng mới 3 trạm bơm; tổng vốn là 119 tỷ đồng. Đến cuối
năm 2014 có 34/112 xã đạt tiêu chí số 3 về thuỷ lợi.
2.3.3. Điện nông thôn
Tỷ lệ số hộ có điện, số thôn bản có điện được nâng cao. Chất lượng điện
năng và độ tin cậy cung cấp điện được cải thiện đáng kể, góp phần quan trọng
phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Đến cuối năm 2014, toàn tỉnh có
112/112 xã có điện; 92,39% số hộ được sử dụng điện lưới quốc gia; có 61 xã

đạt tiêu chí số 4 về điện.
2.3.4. Về chợ nông thôn
Trên địa bàn tỉnh có 65 chợ nông thôn. Đa số các chợ hoạt động tốt, phục
vụ được nhu cầu về giao lưu, trao đổi hàng hoá của thương nhân và bà con
nhân dân địa phương. Đến cuối năm 2014, có 34/112 xã đạt tiêu chí số 7 về
chợ nông thôn.
2.3.5. Bưu điện văn hóa xã
Đến cuối năm 2014, có 66/112 xã đạt tiêu chí số 8 về bưu điện, nhìn
chung các điểm phục vụ bưu chính viễn thông xây dựng đã lâu nên hầu hết
các điểm này đã xuống cấp về cơ sở vật chất, chưa có kinh phí để sửa chữa.
Số xã có Internet đến thôn là 104/112 xã, đạt 92,8%.

12

2.3.6. Trường học và Giáo dục, đào tạo
Trong những năm qua, công tác giáo dục ở khu vực nông thôn đã được
quan tâm. Đến cuối năm 2014, có 32 trường đạt chuẩn Quốc gia. Cụ thể 03
trường THCS, 20 trường tiểu học, 9 trường mầm non, mẫu giáo. Có 112/112
xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được
tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề) đạt tỷ lệ 84,84 %; tỷ lệ
trẻ em trong độ tuổi đi học hàng năm đạt 87,8%. Đến nay có 7 xã đạt tiêu chí
trường học, 27 xã đạt tiêu chí giáo dục.
2.3.7. Về cơ sở chất văn hoá và văn hóa
Xây dựng nhà văn hóa xã, thôn theo chuẩn của Bộ Văn hóa thể thao và du
lịch trên địa bàn tỉnh còn gặp rất nhiều khó khăn về kinh phí và mặt bằng để
xây dựng. Trong 4 năm qua, lồng ghép từ các chương trình, dự án đã xây
dựng được 8 nhà văn hóa thôn (7 nhà văn hoá thôn của xã Bình Văn, huyện
Chợ Mới bằng vốn do doanh nghiệp trên địa bàn tài trợ với tổng vốn 3 tỷ
đồng, 01 nhà văn hóa tại xã Quảng Chu huyện Chợ Mới do Bộ Tư lệnh quân

khu I tài trợ 400 triệu đồng). Xây dựng 01 nhà văn hoá xã Vi Hương do Ngân
hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam chi nhánh Bắc Kạn tài trợ 600 triệu
đồng. Kết quả đến nay chưa có xã nào đạt tiêu chí số 6 về cơ sở vật chất văn
hóa, có 03 xã đạt tiêu chí số 16 về văn hóa.
2.3.8. Về Y tế
Tỷ lệ người dân nông thôn tham gia các hình thức bảo hiểm y tế đạt
96,3%. Các trạm y tế xã luôn được quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang
thiết bị. Kết quả đến nay có 71/112 xã có trạm y tế đạt chuẩn.
2.3.9. Về môi trường
Trong 4 năm xây dựng được 15 công trình nước sinh hoạt từ các nguồn
vốn lồng ghép của các chương trình dự án như: chương trình mục tiêu Quốc
gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, chương trình 134, 135, 193,

13

chương trình giảm nghèo…với tổng kinh phí 41.659 triệu đồng. Đến cuối năm
2014, số xã đạt trên 75% số hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh từ
công trình tập trung, công trình tự chảy, giếng khoan, giếng đào, bể lọc là
109/112 xã.
Công tác giữ gìn vệ sinh môi trường, quản lý, thu gom và xử lý chất thải,
nước thải ở các xã đã có sự chuyển biến tích cực. Phong trào trồng cây xanh,
vệ sinh đường làng, ngõ xóm được duy trì ở nhiều khu dân cư. Tuy nhiên, vấn
đề môi trường do khai thác khoáng sản trái phép vẫn chưa được giải quyết dứt
điểm. Các cơ sở sản xuất bột dong riềng chưa đạt chuẩn về môi trường; nước
thải, chất thải chưa được thu gom xư lý triệt để. Vấn đề quy hoạch, xây dựng
nghĩa trang nhân dân của các xã hiện nay khó thực hiện được. Đến nay, chưa
có xã nào đạt tiêu chí số 17 về môi trường.
2.3.10. Về xây dựng hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh và giữ
gìn an ninh, trật tự xã hội

– Về hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh
Đây là tiêu chí không bền vững, thay đổi theo từng năm và rất khó để đạt
được tất cả các tiêu chí nhỏ. Qua đánh giá của các xã có 28/112 xã đạt tiêu chí
số 18, còn 84 xã chưa đạt, do chưa đủ số biên chế và cán bộ xã chưa đạt
chuẩn. Hiện nay các huyện, xã đã có kế hoạch đào tạo số cán bộ chưa đạt
chuẩn.
– An ninh trật tự xã hội
Công tác giữ gìn, đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội được tăng
cường; Công an tỉnh đã chỉ đạo đôn đốc tổ chức khảo sát, đánh giá tình hình
an ninh, trật tự xã hội nông thôn theo tiêu chí số 19. Tổ chức tốt công tác
phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các hoạt động của các đối tượng tội phạm;
thường xuyên nắm bắt tình hình và có biện pháp ngăn chặn kịp thời vi phạm.

14

Công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nông thôn được
các cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm. Kết quả có 89/112 xã đạt tiêu chí 19.
Từ hiện trạng, kết quả đạt được quá trình triển khai xây dựng Nông
thôn mới trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn như phân tích ở phần trên cho thấy,
sau 4 năm thực hiện, kết qủa đạt được cũng đáng mừng nhưng kết qủa đó
chủ yếu tập trung ở các tiêu chí, hạng mục công trình có sự ưu tiên làm
trước và được đầu tư lớn của Nhà nước hoặc được triển khai trước từ
trước như, Bưu điện, Điện, Nước dinh hoạt… Các tiêu chí khác cần sự
đóng góp của địa phương, của nhân dân đều tiến triển chậm, điều đó cho
thấy công tác triển khai xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bắc
Kạn còn gặp một số khó khăn, vướng mắc, cụ thể như sau:
2.4. Một số khó khăn và nguyên nhân trong quá trình thực hiện
Chương trình nông thôn mới trên địa tỉnh Bắc Kạn.
2.4.1. Một số khó khăn, vướng mắc

– Nhận thức và ý thức trách nhiệm của một số cán bộ, đảng viên và nhân
dân về xây dựng Nông thôn mới còn hạn chế; tính chủ động, năng động và
quyết liệt chưa cao. Do vậy, trong quá trình tổ chức triển khai, không xây
dựng được kế hoạch thực hiện, không lường trước được những thuận lợi, khó
khăn, tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện không có.
– Chưa có sự vào cuộc đồng bộ của hệ thống chính trị ở cơ sở, trình độ
năng lực, chuyên môn, tổ chức thực hiện khảo sát, lập báo cáo kỹ thuật và xây
dựng thiết kế xây dựng giao thông nội đồng của cán bộ, công chức cấp xã còn
hạn chế.
– Nguồn lực của tỉnh, huyện dành cho xây dựng Nông thôn mới có hạn
trong khi đó số các công trình cần xây dựng như giao thông, trường học, chợ,
cơ sở văn hóa và nằm rải rác ở các xã nên tổ chức xây dựng phức tạp tốn
nhiều kinh phí; nguồn ngân sách của các xã không có nên gặp nhiều khó khăn

15

trong thực hiện. Mặt khác, sự kỳ vọng của nông dân vào sự hỗ trợ của tỉnh,
huyện, Nhà nước cho xây dựng nông thôn mới rất nhiều.
– Trong qúa trình thực hiện, có một số nội dung cần điều chỉnh so với kế
hoạch để phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương. Ví dụ: Xây dựng nắp
đạy rãnh thoát nước và giao thông nội đồng; điều chỉnh bổ sung thêm một số
tuyến đường giao thông nông thôn trục nhánh, đường ngõ, xóm; điều chỉnh tiêu
chí về chợ.
– Ruộng đất manh mún, chưa được quy hoạch dồn ghép, hạ tầng cơ sở và
phương tiện sản xuất còn thiếu, phần lớn các hộ nông dân trong huyện chưa
có nhận thức đúng về sản xuất nông nghiệp hành hoá, sản xuất nông nghiệp
còn manh mún, nhỏ lẻ phổ biến. Nên việc quy xây dựng hoạch hệ thống
GTNT đồng bộ; mở rộng trường học, sân chơi; xây dựng cơ sở văn hóa; làm
chợ còn gặp nhiều khó khăn. Nhận thức của một bộ phận nhân dân về sự cần

thiết của hệ thống GTNT để tiến hàng sản xuất nông nghiệp hàng hoá chưa
cao nên gặp khó khăn trong quá trình vận động nhân dân tham gia và hiến đất,
công vào qúa trình xây dựng nông thôn mới.
– Công tác thu hồi giải phóng mặt bằng còn gặp nhiều khó khăn do cơ chế hỗ
trợ (giá đất, tài sản trên đất…) hàng năm có sự thay đổi, hiện ở mức thấp so với
giá thị trường. Nhận thức của nhân dân về NTM chưa cao cùng với kinh tế của
nhân dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp nên một số hộ dân không nhận
tiền đền bù, hiến đất.
– Công tác xây dựng NTM chưa được đồng đều, mới chỉ tập trung ở xã
điểm, các xã khác kết quả thực hiện còn thấp. Việc kiểm tra, giám sát xây
dựng GTNT của các xã chưa thực sự dân chủ công khai, việc tham gia của
nhân dân và kiểm tra, giám sát chưa được phát huy.
– Cơ chế đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở sử dụng vốn của chương trình xây
dựng NTM còn cứng nhắc về các thủ tục hành chính, như quy định về hồ sơ

16

thiết kế, dự toán, dẫn đến giá thành công trình tăng cao (so với dân tự làm),
lãng phí chi phí tư vấn đối với các công trình có yêu cầu kỹ thuật đơn giản, cơ
chế đang triển khai chưa thực sự trao quyền cho người dân, cộng đồng (chủ
thể) trong xây dựng NTM. Nhiều công trình được quyết định đầu tư khi chưa
cân đối được nguồn vốn gây tiềm ẩn nợ trọng xây dựng cơ bản.
Mặc dù các cấp, các ngành có tập trung nguồn vốn đầu tư cơ sở vật chất
cho trường, lớp học; tuy nhiên, nguồn vốn đầu tư xây dựng, mua sắm trang
thiết bị vẫn còn hạn chế không đáp ứng được nhu cầu và trang thiết bị phục
vụ công tác dạy và học.
Công tác quan tâm chỉ đạo của địa phương còn chưa sát với các đơn vị
trường học, thiếu sự theo dõi, đôn đốc các Trường học làm chủ đầu tư; năng
lực làm chủ đầu tư của Ban giám hiệu còn nhiều hạn chế, bất cập.

– Một số trang thiết bị của nhà văn hóa xã, thôn còn tạm bợ, hoặc có thì đã
lạc hậu, thiếu và chưa đồng bộ, các công trình phụ trợ như âm thanh, loa đài,
phông nền, bàn ghế….hầu như đã cũ….. Kinh phí dành cho đầu tư xây dựng,
mua sắm các thiết chế văn hóa còn rất khó khăn; cơ chế chính sách thu hút các
nguồn lực thực hiện xã hội hoá văn hoá, thể thao chưa được chú trọng.
– Đội ngũ cán bộ điều hành, quản lý văn hóa còn kiêm nhiệm, thiếu chuyên
sâu. Chưa thường xuyên được bồi dưỡng, cập nhật kiến thức về quản lý văn hóa.
– Hạ tầng cơ sở kinh tế-xã hội khu vực nông thôn mặc dù đã được tỉnh,
huyện quan tâm đầu tư nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Đời sống
nông dân tuy được cải thiện nhưng vẫn còn gặp khó khăn, chênh lệch thu
nhập giữa nông thôn và thành thị còn cao.
2.4.2. Nguyên nhân
– Việc triển khai thực hiện chương trình của lãnh đạo xã chưa thực sự
quyết liệt, chưa có kế hoạch cụ thể, chưa có phương pháp chỉ đạo sát sao, kịp
thời, một số cán bộ chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của chương trình,

17

kết quả chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Bên cạnh đó công tác tuyên truyền còn
lúng túng, hình thức tuyên truyền chưa phong phú, chưa phù hợp, một số người
dân chưa hiểu được nội dung ý nghĩa của chương trình, do đó vẫn còn trông
chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước.
– Các xã vùng trung du, miền núi kinh tế nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo,
hình thức sản xuất nhỏ lẻ, nên hiệu quả chưa cao. Mặt khác, giá trị sản phẩm
hàng hóa thấp, dẫn đến thu nhập và tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn tương đối cao so với
mặt bằng chung của các xã đồng bằng trên địa bàn toàn huyện.
– Kinh phí phân bổ cho tiêu chí xây dựng nhà ở dân cư trên địa bàn các xã
còn hạn hẹp. Việc vận động đóng góp tự nguyện của nhân dân và huy động các
nguồn lực kinh tế hợp pháp khác của địa phương nhìn chung thấp, sự ủng hộ

của các doanh nghiệp cũng còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của
chương trình. Do đó, để đạt được tiêu chí này theo đúng lộ trình cũng rất khó,
nhất là trong bối cảnh hiện nay tình hình suy giảm kinh tế thế giới cũng ảnh
hưởng không nhỏ đến nền kinh tế Việt Nam.
– Một số xã vẫn còn nhiều nhà cấp 4 đã được xây dựng từ khá lâu và đang
xuống cấp, chủ yếu tập trung vào các hộ neo đơn, khó khăn. Có xã đa phần
người dân nơi đây đã xây được nhà kiên cố bảo đảm “3 cứng” là cứng nền,
cứng khung và cứng mái. Thế nhưng khi xét về tiêu chí diện tích và khuôn
viên, công trình phụ trợ… thì cơ bản số hộ không đạt, do các hộ gia đình này
đều mới xây dựng, có niên hạn sử dụng tới vài chục năm nên họ chưa tính đến
việc cải tạo và xây dựng lại.
Như vậy, sau 04 năm thực hiện, các tiêu chí xây dựng nông thôn mới trên
địa bàn tỉnh Bắc Kạn đã đạt những kết quả nhất định. Tuy nhiên, Hiện trạng
quá trình thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc đòi hỏi phải tiếp tục
thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp để đạt mục tiêu đến năm 2020 đạt tiêu
chí Nông thôn mới ở các xã.

18

3. Những giải pháp thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn
tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020
3.1 Mục tiêu đến năm 2020
Đến năm 2020: toàn tỉnh có 50% số xã (56 xã) cơ bản đạt 19 tiêu chí nông
thôn mới và 50% số xã còn lại đạt trên 10 tiêu chí.
Để đạt được Mục tiêu chí nêu trên theo lộ trình từ nay đến năm 2020, cần
có sự chỉ đạo sát sao của Cấp ủy, chính quyền các xã, huyện nói riêng và tỉnh
Bắc Kạn nói chung; sự đồng tâm, tham gia tích cực đóng góp sức người sức
của của chính người dân trên địa bàn tỉnh để sớm đạt các tiêu chí theo
Chương trình quy định, cần thực hiện tốt một số giải pháp.

3.2. Một số giải pháp
3.2.1. Giải pháp chung
Một là, Các các cấp ủy đảng, chính quyền, mặt trận, các đoàn thể tăng
cường công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng
viên và các tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của Chương
trình xây dựng NTM đối với đời sống và sản xuất nông nghiệp theo hướng
hàng hóa; phát động các phong trào thi đua tạo sức mạnh và huy động các
nguồn lực để cộng đồng dân cư chung tay xây dựng NTM.
Hai là: Phát huy vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo, điều hành của
chính quyền trong quá trình xây dựng Quy hoạch, Kế hoạch; phát huy sức mạnh tổng
hợp, đồng bộ của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị – xã hội, cộng đồng doanh
nghiệp và toàn dân. Tập trung chỉ đạo theo phương châm ,,Dân biết, dân bàn, dân
kiểm tra, dân thụ hưởng,,, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư trong xây
dựng nông thôn mới.
Ba là: Tranh thủ tối đa các nguồn lực để triển khai xây dựng NTM, cần
xác định thứ tự ưu tiên cho việc xây dựng và thực hiện từng tiêu chí, theo
phương châm: tiêu chí dễ làm trước, tiêu chí cần nhiều nguồn lực làm sau.
Khai thác nguồn vốn và sử dụng có hiệu qủa các nguồn vốn xây dựng hạ tầng

19

cơ sở; đối với các nguồn vốn hỗ trợ trực tiếp từ Chương trình NTM phải ưu
tiên thực hiện ở các thôn, xóm (tối thiểu 70% vốn) cho các công trình thực sự
thiết yếu phục vụ cho số đông người dân được hưởng lợi. Ưu tiên hạ tầng
phục vụ sản xuất, thiết yếu dân sinh (đường ngõ xóm, vệ sinh môi trường)…
Huy động tối đa các nguồn lực đầu tư xây dựng NTM theo phương châm Nhà
nước và nhân dân cùng làm, trong đó, nguồn lực đầu tư của Nhà nước là quan
trọng, nguồn lực đầu tư, đóng góp tại chỗ của nhân dân, của xã hội là yếu tố
quyết định sự thành công trong xây dựng NTM

Bốn là: Tạo môi trường thuận lợi để thu hút vốn đầu tư, hình thành, phát
triển mạnh các loại hình doanh nghiệp nông thôn, nhất là các doanh nghiệp
đầu tư sản xuất chế biến nông sản, sử dụng nguyên liệu và thu hút nhiều lao
động tại chỗ. Tập trung phát triển các mô hình hoạt động có hiệu quả: HTX,
mô hình sản xuất trang trại, gia trại góp phần nâng cao đời sống và thu nhập
cho người dân.
Năm là: Tăng cường công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao
động nông thôn, nhất là nông dân tại khu vực có đất bị thu hồi giải phóng mặt
bằng phục vụ các dự án phát triển kinh tế – xã hội. Trong đó, đặc biệt quan
tâm đến đào tạo, tập huấn, nâng cao kiến thức về quản lý, điều hành của đội
ngũ cán bộ quản lý xây dựng nông thôn mới ở huyện, xã.
Sáu là, Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ cán bộ làm
công tác xây dựng Nông thôn mới, các tiêu chí về NTM đặc bịêt là cán bộ xã.
Hiểu được các tiêu chí, cách thức triển khai, thực hiện tiêu chí, nhất là giao
thông nông thôn. Tổ chức cho cán bộ, công chức cấp xã đi tham quan học tập
các xã làm điểm trong và ngoài tỉnh thực hiện có hiệu qủa chương trình xây
dựng Nông thôn mới. Qua đó, học tập kinh nghiệm và xây dựng cách làm của
xã mình có hiệu qủa.
Bảy là, Thường xuyên phát động phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hóa khu dân cư, xây dựng cộng đồng dân cư đồng thuận giúp đỡ

20

tương trợ lẫn nhau, giữ gìn an ninh trật tự an toàn xã hội và bảo vệ môi
trường, đẩy mạnh phong trào toàn dân chung tay xây dựng nông thôn mới…
Tám là, Tập trung chỉ đạo các xã làm điểm, huy động các nguồn lức và ưu
tiên đầu tư để triển khai thực hiện đầy đủ các bước trong quy trình xây dựng
NTM ở các xã. Đánh giá, rút kinh nghiệm về phương pháp tổ chức triển khai,
cách thức quản lý, hình thức huy động các nguồn lực, đặc biệt là huy động

sức dân để rút kinh nghiệm trước khi triển khai ra diện rộng.
Chín là, Thực hiện công khai minh bạch trong các hoạt động xây dựng
giao thông nông thôn. Thực hiện dân biết, dân bàn, dân kiểm tra. Người dân
phải bàn bạc lựa chọn nội dung thực hiện, mức đóng góp nhằm phát huy hiệu
qủa nguồn vốn đầu tư, tránh tình trạng huy động qúa sức dân, đầu tư qúa khả
năng thanh toán của địa phương… trong xây dựng NTM, xây dựng hạ tầng cơ
sở….để tạo lòng tin cho nhân dân, từ đó thu hút, lôi cuốn và tạo sự đồng thuận
của nhân dân đối với xây dựng NTM.
Mười là, Tăng cường công tác kiểm tra đôn đốc, phối hợp tốt giữa các
phòng, ban, ngành, đoàn thể trong quá trình triển khai thực hiện. Để tháo gỡ
các khó khăn vướng mắc của các xã đặc biệt là quy trình, thủ tục phê duyệt
xây dựng cơ bản trong đó có Giao thông nông thôn./.
3.2.2. Một số giải pháp cụ thể đối với các tiêu chí
Bên cạnh các giải pháp chung ở trên, do đặc thù, môt số tiêu chí cần có
thêm các giải pháp cụ thể sau:
– Ưu tiên đầu tư, tập trung khai thác mọi nguồn lực khác; tranh thủ các
nguồn vốn hỗ trợ theo cơ chế và các dự án có mục tiêu của tỉnh, Trung ương
cho xây dựng Giao thông nông thôn, chợ, cơ sở vật chất văn hóa vì đây là
hoạt động liên quan trực tiến đến sản xuất, sinh hoạt, đời sống tinh thần của
nhân dân.
– Các sở, ban, ngành liên quan tập trung hỗ trợ đầu tư giải phóng mặt
bằng, xây dựng thiết chế văn hóa xã, thôn, trong đó ưu tiên đầu tư cho các xã

21

đăng ký đạt chuẩn đến năm 2020; đồng thời chỉ đạo các xã hoàn thiện các
công trình chuyển tiếp để sớm đưa vào sử dụng.
– Tiếp tục rà soát hiện trạng, xác định thứ tự ưu tiên cho tiêu chí 6 để triển
khai thực hiện, trong đó, cần quan tâm đến đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý

về văn hóa nói riêng và cán bộ quản lý xây dựng nông thôn mới nói chung.
– Thông qua xây dựng thí điểm một số chợ để hiện thực hóa mô hình nông
thôn mới trên thực tế tại một số xã ở địa bàn tỉnh, đồng thời rút kinh nghiệm
trong chỉ đạo thực hiện và làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch hành động và
điều chỉnh các giải pháp triển khai tổ chức thực hiện xây dựng mạng lưới chợ
nông thôn trên diện rộng.
– Tăng cường tiếp cận, sử dụng các nguồn kinh phí hỗ trợ để tổ chức đào
tạo, tập huấn nâng cao trình độ cho bộ máy (ban quản lý, tổ quản lý) tổ chức
quản lý chợ. Các địa phương phải chủ động quan tâm thực hiện công tác tái
đầu tư sửa chữa, cải tạo, nâng cấp chợ; Tập trung nâng cao năng lực các ban
quản lý chợ, phối hợp với cơ quan chức năng của huyện kiểm soát chất lượng
hàng hóa khi đưa vào chợ, kiểm soát quản lý giá đối với các mặt hàng trong
chợ… từng bước đưa hàng hóa đến người tiêu dùng đạt các yêu cầu về chất
lượng, trong đó có tiêu chí bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm và giá cả hợp
lý.
– Thực hiện đa dạng hóa các nguồn vốn huy động để triển khai thực hiện
Chương trình, như: Lồng ghép các nguồn vốn của các chương trình mục tiêu
quốc gia; các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn; Huy động
tối đa nguồn lực của địa phương, cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước;
– Tổ chức phổ biến tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại
chúng về chủ trương chính sách hỗ trợ xóa nhà dột nát, tạm bợ, cải thiện nhà ở
cho hộ nghèo ở các xã. Phổ biến sâu rộng chủ trương quan điểm, phương thức
và giải pháp tổ chức hỗ trợ để các cơ quan đơn vị, tổ chức chính quyền địa
phương tại các xã trên quán triệt và thực hiện thống nhất.

22

– Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, các ban ngành đoàn thể các xã phối hợp tuyên
truyền đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động xây dựng quỹ “Vì người nghèo” và

các hình thức đóng góp, như Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Đoàn thanh
niên…cùng chung tay góp sức hỗ trợ người nghèo cải thiện nhà ở. Duy trì
phong trào thường xuyên đồng thời mở các đợt tuyên truyền vận động tập
trung cho việc đóng góp xây dựng quỹ vào các thời gian trọng điểm trong năm.
Thông tin kịp thời và công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng của
địa phương về kết quả vận động xây dựng quỹ, kết quả tổ chức hỗ trợ về nhà ở
cho hộ gia đình nghèo. Để nhân dân nắm được và đồng tình ủng hộ xây dựng
quỹ ngày càng phát triển mạnh, đem lại nhiều ý nghĩa thiết thực hơn.
– Vận động nhân dân đầu tư kinh phí xây dựng mới, tu sửa nhà cửa, tích
cực thực hiện phong trào chỉnh trang sân vườn, tường rào, gọn gàng xanhsạch- đẹp, ngày càng nâng cao chất lượng cuộc sống trong mỗi gia đình. Ưu
tiên làm trước việc cải tạo, nâng cấp 3 công trình sinh hoạt (nhà tắm, hố xí, bể
nước), hợp vệ sinh, tiện ích và văn minh, bảo vệ môi trường.
– Đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập đời sống nhân dân:
Đây là một trong những điều kiện tiên quyết, quyết định sự thành công
của chương trình. Do đó cấp ủy Đảng, và chính quyền địa phương các cấp cần
xây dựng định hướng chiến lược, từng bước chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật
nuôi có hiệu quả, nâng cao giá trị kinh tế. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp, tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư, hình thành,
phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp nông thôn, nhất là các doanh
nghiệp đầu tư sản xuất chế biến nông sản, sử dụng nguyên liệu và thu hút
nhiều lao động tại địa phương. Tập trung phát triển các mô hình hoạt động có
hiệu quả, góp phần xóa đói, giảm nghèo nâng cao đời sống của nhân dân.

23

C. KẾT LUẬN
Qua hiện trạng 04 năm triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu
chương trình xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn tỉnh, kết quả phân tích
đánh giá ở trên cho thấy được vị trí, tầm quan trọng của Chương trình. Sau

khi hoàn thành đạt các tiêu chí Nông thôn mới sẽ đem lại diện mạo mới cho
nông thôn các địa phương trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, tạo niềm tin của nhân
dân vào Đảng và nhà nước với sự nghiệp đổi mới đất nước ngày càng thắng
lợi.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện còn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc
về cơ sở vật chất, nguồn lực….đòi hỏi sự đồng tâm hiệp lực của tất cả các
cấp, các ngành, của mọi cán bộ, cấp cơ sở nông thôn, các tầng lớp nhân dân
vào cuộc, huy động mọi tiềm lực trong xã hội để xây dựng Nông thôn mới.
Để đạt mục tiêu xây dựng nông thôn mới vào các mốc thời gian năm
2015, 2018 và 2020. Các xã trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn còn khối lượng công
việc rất lớn phải làm, vì vậy, để đạt tiến độ triển khai thực hiện các tiêu chí,
cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp cơ bản như sau:
1. Tăng cường đẩy mạnh sâu rộng hơn nữa công tác tuyên truyền vận
động cán bộ đảng viên, nhân dân vê chương trình xây dựng nông thôn mới để
mọi người có nhận thức sâu hơn về vị trí, tầm quan trọng của chương trình xây
dựng nông thôn mới.
2. Tranh thủ các nguồn lực để triển khai thực hiện chương trình nông
thôn mới theo thứ tự ưu tiên cho từng tiêu chí, lấy các mô hình tiên tiến để các
xã học tập, làm theo.
3. Chuyển giao Khoa học kỹ thuật công nghệ, chuyển dịch cơ cấu cây
trồng, vật nuôi, tạo việc làm cho nhân dân, nhất là nhân dân bị thu hồi đất nâng
cao thu nhập, cải thiện đời sống, đóng góp ngày công, tiền, vật chất xây dựng
Nông thôn mới.

24

4. Tạo môi trường thuận lợi phát triển công nghiệp nhẹ trong lĩnh vực
nông nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp, mở rộng
thị trường tiêu thụ nông phẩm.

5. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành, của chế độ chính trị
và toàn dân, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong quá trình xây dựng nông
thôn mới.
Thực hiện tốt các giải pháp trên góp phần đẩy nhanh tiến độ xây dựng
nông thôn mới của các xã trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đạt tiêu chí xã Nông thôn
mới theo mục tiêu của tỉnh đề ra.

25

với 2 tiêu chuẩn : Hệ thống tổ chức triển khai chính trị xã hội vững mạnh và bảo mật an ninh, trật tự xãhội. Qua 04 năm tiến hành thực thi, trên trong thực tiễn có những tiêu chuẩn gặp nhiềukhó khăn, vướng mắc, ví dụ, tiêu chuẩn số 2 về giao thông vận tải nông thôn, tính đến hếtnăm năm trước trên địa phận tỉnh Bắc Kạn chưa có xã nào đạt, kể cả những xã làm điểm. Vì vậy, việc nghiên cứu và phân tích, nhìn nhận những thuận tiện và khó khăn vất vả trong quá trìnhthực hiện những nhóm tiêu chuẩn kiến thiết xây dựng nông thôn mới nói chung trên địa bànnông thôn là một yếu tố cấp thiết nhằm mục đích yêu cầu 1 số ít giải pháp để liên tục đẩynhanh qúa trình thiết kế xây dựng nông thôn mới trên địa phận tỉnh Bắc Kạn là nguyên do emchọn đề tài “ Hiện trạng và 1 số ít giải pháp thiết kế xây dựng nông thôn mới trên địabàn tỉnh Bắc Kạn từ nay đến năm 2020 ” làm tiểu luận của chuyên đề “ Xâydựng quy mô nông thôn mới ở những tỉnh phía Bắc nước ta trong điều kiện kèm theo mới ”. 2. Mục tiêu của đề tài : – Phân tích thực trạng quy trình triển khai những tiêu chuẩn thiết kế xây dựng nông thônmới trên địa phận tỉnh Bắc Kạn từ năm 2011 – năm trước. – Đề xuất một số ít giải pháp nhằm mục đích thực thi những tiêu chuẩn thiết kế xây dựng nôngthôn mới trên địa phận tỉnh Bắc Kạn từ nay cho đến năm 2020.3. Giới hạn : Đề tài điều tra và nghiên cứu tình hình kiến thiết xây dựng nông thôn mới trên địa phận tỉnhBắc Kạn từ năm 2011 đến năm trước, từ đó đưa ra những giải pháp để triển khaithực hiện đến năm 2020.4. Phương pháp điều tra và nghiên cứu : Đề tài sử dụng những chiêu thức : Thu thập thông tin, tài liệu ; nghiên cứu và phân tích, tổnghợp, thống kê, so sánh. Phương pháp duy vật lịch sử vẻ vang và duy vật biện chứng. 5. Ý nghĩa thực tiễn – Những tác dụng nghiên cứu và điều tra của đề tài là cơ sở để nhìn nhận tiến trình quátrình thực thi những tiêu chuẩn thiết kế xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Kạn, nhất làcác tiêu chuẩn thuộc nhóm thứ hai. – Đề tài nhìn nhận một cách khách quan, trung thực hiện trạng xây dựngnông thôn mới của tỉnh nên đây là tài liệu tìm hiểu thêm hữu dụng giúp cho những địaphương trong tỉnh vận dụng vào thực tiễn ở địa phương mình trong quá trìnhxây dựng nông thôn mới trong thời hạn tới. 6. Kết cấu tiểu luận : Gồm 3 phần : – Phần mở màn ; – Phần nội dung : – Kết luận : B. NỘI DUNG1. Cơ sở lý luận về kiến thiết xây dựng nông thôn mới1. 1. Lý luận về nông thôn và thiết kế xây dựng nông thôn mớiKhái niệm Nông thôn : Nông thôn là một mạng lưới hệ thống xã hội, một cộng đồngxã hội có những đặc trưng riêng không liên quan gì đến nhau như một xã hội nhỏ, trong đó có đầy đủcác yếu tố, những yếu tố xã hội và những thiết chế xã hội. Nông thôn được xem xétnhư một cơ cấu tổ chức xã hội, trong đó có hàng loạt những yếu tố, những nghành nằmtrong mối quan hệ ngặt nghèo với nhau ( nguồn : Nông nghiệp, nông dân, nôngthôn trong thay đổi ở Nước Ta – Một số yếu tố lý luận và thực tiễn – Tô HuyRứa ( chủ biên ). Đặc trưng cơ bản của nông thônHệ thống xã hội nông thôn được xác lập theo ba đặc trưng cơ bản sau : * Về những nhóm giai cấp, những tầng lớp xã hội : Ở nông thôn, đặc trưng chủ yếuở đây là nông dân, ngoài những ở từng xã hội còn có những giai cấp, những tầng lớp như địachủ, phú nông, nhóm thợ thủ công nghiệp, kinh doanh nhỏ, v.v … * Về nghành sản xuất : Đặc trưng rõ nét nhất của nông thôn là sản xuất nôngnghiệp ; ngoài những, còn hoàn toàn có thể kể đến cấu trúc phi nông nghiệp gồm có : dịch vụ, kinh doanh, tiểu thủ công nghiệp mà có vai trò rất lớn so với nghành nghề dịch vụ sản xuấtnông nghiệp. * Về lối sống, văn hóa truyền thống của từng loại hội đồng : Nông thôn thường rất đặctrưng với lối sống văn hóa truyền thống của hội đồng làng xã. Đặc trưng này gồm có rấtnhiều góc nhìn như từ mạng lưới hệ thống dịch vụ, sự tiếp xúc, đời sống ý thức, phong tục, tập quán, hệ giá trị, chuẩn mực cho hành vi, … đến góc nhìn dânsố, lối sống mái ấm gia đình, hoạt động và sinh hoạt kinh tế tài chính, … ngay cả đến mạng lưới hệ thống đường xá, nguồn năng lượng, nhà tại, … Đó là những đặc trưng cơ bản nhất về mặt xã hội học để nhận diện nôngthôn. Chính đặc trưng thứ ba đã tạo ra truyền thống riêng, diện mạo riêng cho hệthống xã hội nông thôn. Khái niệm về nông thôn mớiTheo ý thức Nghị quyết 26 – NQ / T.Ư của Trung ương, nông thôn mới làkhu vực nông thôn có kiến trúc kinh tế tài chính – xã hội từng bước văn minh ; cơcấu kinh tế tài chính và những hình thức tổ chức triển khai sản xuất hài hòa và hợp lý, gắn nông nghiệp vớiphát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ ; gắn tăng trưởng nông thôn với đô thịtheo quy hoạch ; xã hội nông thôn dân chủ, không thay đổi, giàu truyền thống văn hóa truyền thống dântộc ; môi trường sinh thái được bảo vệ ; bảo mật an ninh trật tự được giữ vững ; đời sốngvật chất và niềm tin của dân cư ngày càng được nâng cao ; theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa. Với ý thức đó, nông thôn mới có năm nội dung cơ bản. Thứ nhấtlà nông thôn có làng xã văn minh, sạch sẽ và đẹp mắt, hạ tầng tân tiến. Hai là sản xuấtbền vững, theo hướng sản phẩm & hàng hóa. Ba là đời sống vật chất và ý thức củangười dân ngày càng được nâng cao. Bốn là truyền thống văn hóa truyền thống dân tộc bản địa được giữgìn và tăng trưởng. Năm là xã hội nông thôn được quản trị tốt và dân chủ. Để thiết kế xây dựng nông thôn với năm nội dung đó, Thủ tướng nhà nước cũngđã ký Quyết định số 491 / QĐ-TTg phát hành Bộ tiêu chuẩn vương quốc về nông thônmới gồm có 19 tiêu chuẩn. Sự độc lạ giữa thiết kế xây dựng nông thôn trước kia với kiến thiết xây dựng nông thônmớiCó thể nói, kiến thiết xây dựng nông thôn cũng đã có từ lâu tại Nước Ta. Trướcđây, có thời gian tất cả chúng ta kiến thiết xây dựng quy mô nông thôn ở cấp huyện, cấpthôn, nay tất cả chúng ta thiết kế xây dựng nông thôn mới ở cấp xã. Sự độc lạ giữa xâydựng nông thôn trước kia với thiết kế xây dựng nông thôn mới chính là ở những điểmsau : Thứ nhất, kiến thiết xây dựng nông thôn mới là kiến thiết xây dựng nông thôn theo tiêu chíchung cả nước được định trước. Thứ hai, thiết kế xây dựng nông thôn địa phận cấp xã và trong khoanh vùng phạm vi cả nước. Thứ ba, hội đồng dân cư là chủ thể của thiết kế xây dựng nông thôn mới, khôngphải ai làm hộ, người nông dân tự kiến thiết xây dựng. Thứ tư, đây là một chương trình khung, bao những chương trình mục tiêuquốc gia và những chương trình có đặc thù tiềm năng đang diễn ra tại nông thôn. 1.2. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về Xây dựng Nông thôn mớiTrong quy trình chỉ huy kiến thiết xây dựng quốc gia, Đảng ta đã xác lập rõ quanđiểm nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền nông nghiệp lỗi thời, vì thế, xác lập tầm quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn, sự đột pháđầu tiên về chính sách của Đảng trong thời kỳ thay đổi cũng được khởi đầu từlĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đại hội Đại biểu toàn nước lần thứ XI Đảng ta liên tục đưa ra những quanđiểm chỉ huy so với yếu tố nông thôn, nông dân, nông nghiệp. Đại hội đãkhẳng định những thành tựu trong tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hội nói chung, nhữngkết qủa đạt được của nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói riêng và nhấnmạnh “ Sự tăng trưởng không thay đổi của nông nghiệp nhất là sản xuất lương thực vàđảm bảo an sinh, bảo mật an ninh lương thực vương quốc. Kinh tế nông thôn và đời sốngnông dân cải tổ hơn trước, việc tập trung chuyên sâu góp vốn đầu tư kiến thiết xây dựng cấu trúc hạ tầngnông thôn, góp vốn đầu tư tăng trưởng giống mới có năng xuất, chất lượng cao, phát triểncác cụm công nghiệp, làng nghề tiểu thủ công nghiệp …. đã có ảnh hưởng tác động tích cựcđến sản xuất, tạo việc làm và xóa đói giảm nghèo ”. Có thể chứng minh và khẳng định rằng, thành tựu trong nông nghiệp, nông dân, nôngthôn không chỉ góp thêm phần vào không thay đổi chính trị, xã hội nông thôn và nâng caođời sống nông dân trên khoanh vùng phạm vi cả nước mà còn ngày càng tạo thêm nhữngtiền đề vật chất thiết yếu góp thêm phần thôi thúc tăng trưởng kinh tế tài chính và đẩy mạnhCNH, HĐH quốc gia. Tuy cùng với những thành tựu đạt được nông nghiệp, nông dân, nông thônnước ta trong gia đoạn lúc bấy giờ vẫn sống sót nhiều hạn chế, yếu kém. Nghịquyết Đại hội XI của Đảng chỉ rõ : “ Chuyển dịch cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính theo hướngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm ” ; “ thực trạng thiếu việc làm còn cao ” ; đời sống của một bộ phận dân cư nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa cònnhiều khó khăn vất vả ; xóa đói giảm nghèo chưa vững chắc, thực trạng tái nghèo còncao, khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, chất lượng chăm nom sức khỏecòn thấp, mạng lưới hệ thống y tế và chất lượng dịch vụ y tế chưa phân phối yêu cầukhám, chữa bệnh của nhân dân nhất là với người nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số ; “ Môi trường ở nhiều nơi bị ô nhiễm nặng, tàinguyên đất đai chưa quản trị tốt, khai thác sử dụng kém hiệu suất cao, chính sáchđất đai xuất hiện chưa tương thích ”. Xuất phát từ thực tiễn, trong đó quan điểm chỉ huy triển khai tiềm năng pháttriển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong tiến trình 2011 – năm ngoái cũng đượcNghị quyết Đại hội XI của Đảng xác lập rõ những nội dung chính sau : Thứ nhất ; tăng trưởng nông nghiệp theo hướng văn minh, hiệu suất cao bền vữngtrên cơ sở phát huy những lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới gió mùa gắn với giảiquyết tốt những yếu tố nông dân, nông thôn. Thứ hai ; Xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân chủ thể củaquá trình tăng trưởng nông nghiệp, nông thôn trong hàng loạt quy trình phát triểnnông nghiệp và nông thôn lúc bấy giờ, nông dân giữ vai trò chủ thể, đây là sựkhẳng định đúng đắn, thiết yếu nhằm mục đích khơi dậy và phát huy mọi tiềm lực củanông dân trong sự nghiệp kiến thiết xây dựng nông thôn mới trên những mặt kinh tế tài chính, chínhtrị, văn hóa truyền thống, xã hội đồng thời nhằm mục đích bảo vệ những quyền lợi và nghĩa vụ chính đáng củanông dân. Để phát huy vai trò của nông dân lúc bấy giờ, Nghị quyết Đại hộiĐảng khóa XI nêu rõ : “ Nêu cao trình độ giác ngộ của giai cấp nông dân, tạođiều kiện để nhân dân tham gia góp phần và hưởng lợi nhiều hơn trong quátrình công nghiệp hóa, tân tiến hóa quốc gia ”. Thứ ba : Xây dựng nông thôn mới theo hướng văn minh, giàu đẹp, nâng caođời sống vật chất và niềm tin của nhân dân, nhằm mục đích khắc phục hạn chế và bất cậptrong tăng trưởng nông thôn nước ta lúc bấy giờ. Đảng xác lập : “ Xây dựng nôngthôn mới theo hướng văn minh, giàu đẹp song song với nâng cao đời sống vật chấttinh thần của nhân dân ”, đồng thời “ quy hoạch tăng trưởng nông thôn và phát triểnđô thị, sắp xếp những điểm dân cư, tăng trưởng mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghềgắn với bảo vệ môi trường tự nhiên ”. Những quan điểm về yếu tố nông nghiệp thiết kế xây dựng nông thôn mới trongNghị quyết Đại hội lần XI của Đảng là sự chứng minh và khẳng định bổ trợ và liên tục pháttriển chủ trương đường lối chỉ huy so với nông nghiệp, nông dân, nông thônđược đặt ra từ Nghị quyết Trung ương 7 khóa X của Đảng không cho sâu sắcvà vận dụng hiệu suất cao những quan điểm chỉ huy trên của Đảng là cơ sở vữngchắc để nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta có những bước phát triểnmới. Nhằm bảo vệ việc kiến thiết xây dựng nông thôn mới hiệu suất cao và tương thích vớithực tiễn, ngày 20 tháng 02 năm 2013, Thủ tướng nhà nước phát hành Quyếtđịnh 342 / QĐ – TTg sửa đổi 1 số ít tiêu chuẩn vương quốc về thiết kế xây dựng nông thônmới được phát hành kèm theo quyết định hành động 491 / QĐ – TTg. Quyết định 342 / QĐTTg đã sửa đổi 05 tiêu chuẩn của Bộ tiêu chuẩn vương quốc về nông thôn mới banhành tại Quyết định số 491 / QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủtướng nhà nước đơn cử như sau : Tiêu chí số 07 về chợ nông thôn được sửa đổi như sau : “ Chợ theo quyhoạch, đạt chuẩn theo lao lý ”. Tiêu chí số 10 về thu nhập được sửa đổi như sau : Nội dung tiêu chuẩn : Thu nhập trung bình đầu người khu vực nông thôn ( triệu đồng / người ). Chỉ tiêu chung cho cả nước : Năm 2012 : Đạt 18 triệu đồng / người ; Đến năm năm ngoái : Đạt 26 triệu đồng / người ; Đến năm 2020 : Đạt 44 triệu đồng / người. Tiêu chí số 12 về cơ cấu tổ chức lao động được sửa đổi như sau : Tên tiêu chuẩn : Tỷ lệ lao động có việc làm liên tục ; Nội dung tiêu chuẩn : Tỷ lệ người thao tác trên dân số trong độ tuổi lao động. Chỉ tiêu chung và từng vùng : đạt từ 90 % trở lên ; Tiêu chí số 14 về giáo dục được sửa đổi như sau : “ 14.1 Phổ cập giáo dục trung học cơ sở ”. Tiêu chí số 15 về y tế được sửa đổi như sau : Nội dung : “ 15.1 Tỷ lệ người dân tham gia Bảo hiểm y tế ” Chỉ tiêu chung cho cả nước : đạt từ 70 % trở lên ; Chỉ tiêu đơn cử cho những vùng : Đạt. 2. Kết quả triển khai những tiêu chuẩn thiết kế xây dựng nông thônmới trên địa phận tỉnh Bắc Kạn từ 2011 đến 2014T heo tác dụng tự nhìn nhận của những xã và báo cáo giải trình của huyện, thị xã về kếtquả thanh tra rà soát 112 xã theo Bộ tiêu chuẩn Quốc gia về nông thôn mới và theo Thôngtư số 41/2013 / TT-BNNPTNT như sau : – 08 xã đạt 10-14 tiêu chuẩn ( tăng 04 xã so với năm 2013 ) ; – 79 xã đạt từ đạt 5 – 9 tiêu chuẩn ( giảm 02 xã so với năm 2013 ) ; – 25 xã đạt dưới 5 tiêu chuẩn ( giảm 02 xã so với năm 2013 ) ; – 0 xã nào trắng tiêu chuẩn ( năm 2010 có 02 xã trắng tiêu chuẩn ). Bình quân mỗi xã đạt 6,3 tiêu chuẩn tăng so với năm 2013 là 0,51 tiêu chuẩn ( năm 2013 trung bình 5,79 tiêu chuẩn / xã ). – Cụ thể mức độ đạt tiêu chuẩn : + Quy hoạch có 112 / 112 xã triển khai xong ; + Tiêu chí Giao thông 0/112 xã ; + Tiêu chí thủy lợi 34/112 xã ; + Tiêu chí điện 61/112 xã ; + Tiêu chí trường học 7/112 xã ; + Tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa truyền thống 0/112 xã ; + Tiêu chí chợ 34/112 xã ; + Tiêu chí bưu điện 66/112 xã ; + Tiêu chí nhà ở dân cư 12/112 xã ; + Tiêu chí thu nhập 08/112 xã ; + Tiêu chí hộ nghèo 30/112 xã ; + Tiêu chí tỷ suất lao động có việc làm tiếp tục 70/112 xã ; + Tiêu chí hình thức tổ chức triển khai sản xuất 25/112 xã ; + Tiêu chí giáo dục 27/112 xã ; + Tiêu chí y tế 71/112 xã ; + Tiêu chí văn hóa truyền thống 3/112 xã ; + Tiêu chí môi trường tự nhiên 0/112 xã ; + Tiêu chí mạng lưới hệ thống chính trị 28/112 xã ; + Tiêu chí bảo mật an ninh trật tự xã hội 89/112 xã. 2.1. Công tác lập Đồ án quy hoạch, Đề án kiến thiết xây dựng nông thôn mới – Công tác lập Đồ án quy hoạch : Đến tháng 4/2013 toàn tỉnh hoàn thànhcông tác lập Đồ án quy hoạch, 112 / 112 xã đã phê duyệt xong Đồ án quyhoạch, công bố niêm yết công khai minh bạch qui hoạch, đạt 100 %. Tuy nhiên, chưa cóxã nào triển khai xong cắm mốc chỉ giới những khu công trình hạ tầng theo thông tư số41 / 2013 / TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và PTNT. 10 – Công tác kiến thiết xây dựng Đề án : Đã có 112 / 112 xã được phê duyệt Đề án xâydựng nông thôn mới ( đạt 100 % ). Chất lượng Đề án nhìn chung còn thấp, quátrình tiến hành thực thi còn gặp nhiều khó khăn vất vả. 2.2. Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dânTrong 4 năm ( 2011 – năm trước ) thực thi nguồn vốn sự nghiệp tương hỗ pháttriển sản xuất thuộc Chương trình MTQG kiến thiết xây dựng nông thôn mới là 11.736 triệu đồng, giải ngân 11.650 triệu đồng ( đạt 99,23 % kế hoạch ). Nội dung hỗtrợ đa phần tập trung chuyên sâu về giống cây xanh, vật nuôi cho những hộ mái ấm gia đình ; hỗ trợmáy móc cho cơ sở chế biến dong riềng và hợp tác xã nông nghiệp. Nguồn vốn lồng ghép để tương hỗ tăng trưởng sản xuất trong 4 năm ( 20112014 ) là 21,3 tỷ đồng. Đã tiến hành tương hỗ 18.657 cây giống, 41.677 congiống vật nuôi, 1.040 máy móc những loại. Số hộ hưởng lợi là 5.903 hộ. Xâydựng, triển khai 119 quy mô chăn nuôi, trồng trọt những loại ; mở 178 lớp bồidưỡng tập huấn về khuyến nông khuyến lâm với 4.770 lượt người tham gia. 2.3. Xây dựng hạ tầng thiết yếuQua 4 năm thực thi, kiến thiết xây dựng hạ tầng kinh tế tài chính – xã hội thiết yếu ở nôngthôn đã đạt một số ít tác dụng nhất định góp thêm phần quan trọng tạo diện mạo mớicho nông thôn Bắc Kạn. Tuy nhiên là tỉnh miền núi khó khăn vất vả, đất rộng, ngườithưa địa hình phức tạp, suất góp vốn đầu tư những khu công trình hạ tầng rất cao, nguồn lựccủa địa phương còn hạn chế, góp phần của người dân hầu hết là hiến đất vàngày công lao động nên số lượng những khu công trình mới được góp vốn đầu tư chưa nhiều, chưa làm chuyển biến rõ ràng bộ mặt nông thôn. 2.3.1. Đường giao thông nông thônTrong 4 năm ( 2011 – năm trước ) tổng vốn góp vốn đầu tư trực tiếp từ Chương trìnhMTQG thiết kế xây dựng nông thôn mới là 23.420 triệu đồng, đã góp vốn đầu tư xây dựngđược 30,3 km đường giao thông vận tải nông thôn và 1,43 km kênh mương nội đồng, nhân dân kêu gọi góp phần hơn 30.000 ngày công lao động. 11N guồn vốn lồng ghép và góp phần của nhân dân trong 4 năm ( 2011 – năm trước ) là hơn 170 tỷ đồng, đã góp vốn đầu tư thiết kế xây dựng được 69,9 km đường trục xã, liên xã ; bê tông hóa 46,7 km đường trục thôn, liên thôn, xóm ; tăng cấp 48 công trìnhđường trục thôn ; thiết kế xây dựng 13 khu công trình đường giao thông vận tải nội đồng. Đến nay chưa có xã nào đạt tiêu chuẩn về giao thông vận tải. 2.3.2. Thuỷ lợiCác khu công trình lồng ghép thực thi kiến thiết xây dựng được 41 khu công trình, kiên cốhóa được 84,185 km kênh mương, 2,84 km kè, nạo vét tu sửa được 10,3 kmkênh mương ; kiến thiết xây dựng mới 3 trạm bơm ; tổng vốn là 119 tỷ đồng. Đến cuốinăm năm trước có 34/112 xã đạt tiêu chuẩn số 3 về thuỷ lợi. 2.3.3. Điện nông thônTỷ lệ số hộ có điện, số thôn bản có điện được nâng cao. Chất lượng điệnnăng và độ an toàn và đáng tin cậy cung ứng điện được cải tổ đáng kể, góp thêm phần quan trọngphát triển kinh tế tài chính – xã hội của địa phương. Đến cuối năm năm trước, toàn tỉnh có112 / 112 xã có điện ; 92,39 % số hộ được sử dụng điện lưới vương quốc ; có 61 xãđạt tiêu chuẩn số 4 về điện. 2.3.4. Về chợ nông thônTrên địa phận tỉnh có 65 chợ nông thôn. Đa số những chợ hoạt động giải trí tốt, phụcvụ được nhu yếu về giao lưu, trao đổi hàng hoá của thương nhân và bà connhân dân địa phương. Đến cuối năm năm trước, có 34/112 xã đạt tiêu chuẩn số 7 vềchợ nông thôn. 2.3.5. Bưu điện văn hóa xãĐến cuối năm năm trước, có 66/112 xã đạt tiêu chuẩn số 8 về bưu điện, nhìnchung những điểm ship hàng bưu chính viễn thông kiến thiết xây dựng đã lâu nên hầu hếtcác điểm này đã xuống cấp trầm trọng về cơ sở vật chất, chưa có kinh phí đầu tư để thay thế sửa chữa. Số xã có Internet đến thôn là 104 / 112 xã, đạt 92,8 %. 122.3.6. Trường học và Giáo dục đào tạo, đào tạoTrong những năm qua, công tác làm việc giáo dục ở khu vực nông thôn đã đượcquan tâm. Đến cuối năm năm trước, có 32 trường đạt chuẩn Quốc gia. Cụ thể 03 trường trung học cơ sở, 20 trường tiểu học, 9 trường mần nin thiếu nhi, mẫu giáo. Có 112 / 112 xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS. Tỷ lệ học viên tốt nghiệp trung học cơ sở đượctiếp tục học trung học ( đại trà phổ thông, bổ túc, học nghề ) đạt tỷ suất 84,84 % ; tỷ lệtrẻ em trong độ tuổi đi học hàng năm đạt 87,8 %. Đến nay có 7 xã đạt tiêu chítrường học, 27 xã đạt tiêu chuẩn giáo dục. 2.3.7. Về cơ sở chất văn hoá và văn hóaXây dựng nhà văn hóa xã, thôn theo chuẩn của Bộ Văn hóa thể thao và dulịch trên địa phận tỉnh còn gặp rất nhiều khó khăn vất vả về kinh phí đầu tư và mặt phẳng đểxây dựng. Trong 4 năm qua, lồng ghép từ những chương trình, dự án Bất Động Sản đã xâydựng được 8 nhà văn hóa thôn ( 7 nhà văn hoá thôn của xã Bình Văn, huyệnChợ Mới bằng vốn do doanh nghiệp trên địa phận hỗ trợ vốn với tổng vốn 3 tỷđồng, 01 nhà văn hóa tại xã Quảng Chu huyện Chợ Mới do Bộ Tư lệnh quânkhu I hỗ trợ vốn 400 triệu đồng ). Xây dựng 01 nhà văn hoá xã Vi Hương do Ngânhàng Nông nghiệp và PTNT Nước Ta Trụ sở Bắc Kạn hỗ trợ vốn 600 triệuđồng. Kết quả đến nay chưa có xã nào đạt tiêu chuẩn số 6 về cơ sở vật chất vănhóa, có 03 xã đạt tiêu chuẩn số 16 về văn hóa truyền thống. 2.3.8. Về Y tếTỷ lệ người dân nông thôn tham gia những hình thức bảo hiểm y tế đạt96, 3 %. Các trạm y tế xã luôn được chăm sóc góp vốn đầu tư cơ sở vật chất, trangthiết bị. Kết quả đến nay có 71/112 xã có trạm y tế đạt chuẩn. 2.3.9. Về môi trườngTrong 4 năm kiến thiết xây dựng được 15 khu công trình nước hoạt động và sinh hoạt từ những nguồnvốn lồng ghép của những chương trình dự án Bất Động Sản như : chương trình tiềm năng Quốcgia nước sạch và vệ sinh môi trường tự nhiên nông thôn, chương trình 134, 135, 193,13 chương trình giảm nghèo … với tổng kinh phí đầu tư 41.659 triệu đồng. Đến cuối năm2014, số xã đạt trên 75 % số hộ được sử dụng nước hoạt động và sinh hoạt hợp vệ sinh từcông trình tập trung chuyên sâu, công trình tự chảy, giếng khoan, giếng đào, bể lọc là109 / 112 xã. Công tác giữ gìn vệ sinh môi trường tự nhiên, quản trị, thu gom và giải quyết và xử lý chất thải, nước thải ở những xã đã có sự chuyển biến tích cực. Phong trào trồng cây xanh, vệ sinh đường làng, ngõ xóm được duy trì ở nhiều khu dân cư. Tuy nhiên, vấnđề môi trường tự nhiên do khai thác tài nguyên trái phép vẫn chưa được xử lý dứtđiểm. Các cơ sở sản xuất bột dong riềng chưa đạt chuẩn về thiên nhiên và môi trường ; nướcthải, chất thải chưa được thu gom xư lý triệt để. Vấn đề quy hoạch, xây dựngnghĩa trang nhân dân của những xã lúc bấy giờ khó triển khai được. Đến nay, chưacó xã nào đạt tiêu chuẩn số 17 về môi trường tự nhiên. 2.3.10. Về kiến thiết xây dựng mạng lưới hệ thống tổ chức triển khai chính trị xã hội vững mạnh và giữgìn bảo mật an ninh, trật tự xã hội – Về mạng lưới hệ thống tổ chức triển khai chính trị xã hội vững mạnhĐây là tiêu chuẩn không vững chắc, biến hóa theo từng năm và rất khó để đạtđược toàn bộ những tiêu chuẩn nhỏ. Qua nhìn nhận của những xã có 28/112 xã đạt tiêu chísố 18, còn 84 xã chưa đạt, do chưa đủ số biên chế và cán bộ xã chưa đạtchuẩn. Hiện nay những huyện, xã đã có kế hoạch huấn luyện và đào tạo số cán bộ chưa đạtchuẩn. – An ninh trật tự xã hộiCông tác giữ gìn, bảo vệ bảo mật an ninh, trật tự bảo đảm an toàn xã hội được tăngcường ; Công an tỉnh đã chỉ huy đôn đốc tổ chức triển khai khảo sát, nhìn nhận tình hìnhan ninh, trật tự xã hội nông thôn theo tiêu chuẩn số 19. Tổ chức tốt công tácphòng ngừa, đấu tranh ngăn ngừa những hoạt động giải trí của những đối tượng người dùng tội phạm ; tiếp tục chớp lấy tình hình và có giải pháp ngăn ngừa kịp thời vi phạm. 14C ông tác bảo vệ bảo mật an ninh chính trị, trật tự bảo đảm an toàn xã hội ở nông thôn đượccác cấp ủy đảng, chính quyền sở tại chăm sóc. Kết quả có 89/112 xã đạt tiêu chuẩn 19. Từ thực trạng, tác dụng đạt được quy trình tiến hành thiết kế xây dựng Nôngthôn mới trên địa phận tỉnh Bắc Kạn như nghiên cứu và phân tích ở phần trên cho thấy, sau 4 năm thực thi, kết qủa đạt được cũng đáng mừng nhưng kết qủa đóchủ yếu tập trung chuyên sâu ở những tiêu chuẩn, khuôn khổ khu công trình có sự ưu tiên làmtrước và được góp vốn đầu tư lớn của Nhà nước hoặc được tiến hành trước từtrước như, Bưu điện, Điện, Nước dinh hoạt … Các tiêu chuẩn khác cần sựđóng góp của địa phương, của nhân dân đều tiến triển chậm, điều đó chothấy công tác làm việc tiến hành kiến thiết xây dựng Nông thôn mới trên địa phận tỉnh BắcKạn còn gặp một số ít khó khăn vất vả, vướng mắc, đơn cử như sau : 2.4. Một số khó khăn vất vả và nguyên do trong quy trình thực hiệnChương trình nông thôn mới trên địa tỉnh Bắc Kạn. 2.4.1. Một số khó khăn vất vả, vướng mắc – Nhận thức và ý thức nghĩa vụ và trách nhiệm của một số ít cán bộ, đảng viên và nhândân về thiết kế xây dựng Nông thôn mới còn hạn chế ; tính dữ thế chủ động, năng động vàquyết liệt chưa cao. Do vậy, trong quy trình tổ chức triển khai tiến hành, không xâydựng được kế hoạch thực thi, không lường trước được những thuận tiện, khókhăn, tính dữ thế chủ động, phát minh sáng tạo trong triển khai không có. – Chưa có sự vào cuộc đồng điệu của mạng lưới hệ thống chính trị ở cơ sở, trình độnăng lực, trình độ, tổ chức triển khai triển khai khảo sát, lập báo cáo giải trình kỹ thuật và xâydựng phong cách thiết kế kiến thiết xây dựng giao thông vận tải nội đồng của cán bộ, công chức cấp xã cònhạn chế. – Nguồn lực của tỉnh, huyện dành cho kiến thiết xây dựng Nông thôn mới có hạntrong khi đó số những khu công trình cần thiết kế xây dựng như giao thông vận tải, trường học, chợ, cơ sở văn hóa truyền thống và nằm rải rác ở những xã nên tổ chức triển khai kiến thiết xây dựng phức tạp tốnnhiều kinh phí đầu tư ; nguồn ngân sách của những xã không có nên gặp nhiều khó khăn15trong thực thi. Mặt khác, sự kỳ vọng của nông dân vào sự tương hỗ của tỉnh, huyện, Nhà nước cho kiến thiết xây dựng nông thôn mới rất nhiều. – Trong qúa trình thực thi, có 1 số ít nội dung cần kiểm soát và điều chỉnh so với kếhoạch để tương thích với tình hình trong thực tiễn tại địa phương. Ví dụ : Xây dựng nắpđạy rãnh thoát nước và giao thông vận tải nội đồng ; kiểm soát và điều chỉnh bổ trợ thêm một sốtuyến đường giao thông vận tải nông thôn trục nhánh, đường ngõ, xóm ; kiểm soát và điều chỉnh tiêuchí về chợ. – Ruộng đất manh mún, chưa được quy hoạch dồn ghép, hạ tầng cơ sở vàphương tiện sản xuất còn thiếu, phần đông những hộ nông dân trong huyện chưacó nhận thức đúng về sản xuất nông nghiệp hành hoá, sản xuất nông nghiệpcòn manh mún, nhỏ lẻ thông dụng. Nên việc quy thiết kế xây dựng hoạch hệ thốngGTNT đồng điệu ; lan rộng ra trường học, sân chơi ; thiết kế xây dựng cơ sở văn hóa truyền thống ; làmchợ còn gặp nhiều khó khăn vất vả. Nhận thức của một bộ phận nhân dân về sự cầnthiết của mạng lưới hệ thống GTNT để tiến hàng sản xuất nông nghiệp hàng hoá chưacao nên gặp khó khăn vất vả trong quy trình hoạt động nhân dân tham gia và hiến đất, công vào qúa trình thiết kế xây dựng nông thôn mới. – Công tác tịch thu giải phóng mặt phẳng còn gặp nhiều khó khăn vất vả do chính sách hỗtrợ ( giá đất, gia tài trên đất … ) hàng năm có sự đổi khác, hiện ở mức thấp so vớigiá thị trường. Nhận thức của nhân dân về NTM chưa cao cùng với kinh tế tài chính củanhân dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp nên một số ít hộ dân không nhậntiền đền bù, hiến đất. – Công tác thiết kế xây dựng NTM chưa được đồng đều, mới chỉ tập trung chuyên sâu ở xãđiểm, những xã khác hiệu quả triển khai còn thấp. Việc kiểm tra, giám sát xâydựng GTNT của những xã chưa thực sự dân chủ công khai minh bạch, việc tham gia củanhân dân và kiểm tra, giám sát chưa được phát huy. – Cơ chế góp vốn đầu tư kiến thiết xây dựng hạ tầng cơ sở sử dụng vốn của chương trình xâydựng NTM còn cứng ngắc về những thủ tục hành chính, như lao lý về hồ sơ16thiết kế, dự trù, dẫn đến giá thành công trình tăng cao ( so với dân tự làm ), tiêu tốn lãng phí ngân sách tư vấn so với những khu công trình có nhu yếu kỹ thuật đơn thuần, cơchế đang tiến hành chưa thực sự trao quyền cho người dân, hội đồng ( chủthể ) trong thiết kế xây dựng NTM. Nhiều khu công trình được quyết định hành động góp vốn đầu tư khi chưacân đối được nguồn vốn gây tiềm ẩn nợ trọng kiến thiết xây dựng cơ bản. Mặc dù những cấp, những ngành có tập trung chuyên sâu nguồn vốn góp vốn đầu tư cơ sở vật chấtcho trường, lớp học ; tuy nhiên, nguồn vốn góp vốn đầu tư thiết kế xây dựng, shopping trangthiết bị vẫn còn hạn chế không phân phối được nhu yếu và trang thiết bị phụcvụ công tác làm việc dạy và học. Công tác chăm sóc chỉ huy của địa phương còn chưa sát với những đơn vịtrường học, thiếu sự theo dõi, đôn đốc những Trường học làm chủ góp vốn đầu tư ; nănglực làm chủ góp vốn đầu tư của Ban giám hiệu còn nhiều hạn chế, chưa ổn. – Một số trang thiết bị của nhà văn hóa xã, thôn còn tạm bợ, hoặc có thì đãlạc hậu, thiếu và chưa đồng nhất, những khu công trình phụ trợ như âm thanh, loa đài, phông nền, bàn và ghế …. phần đông đã cũ ….. Kinh phí dành cho góp vốn đầu tư kiến thiết xây dựng, shopping những thiết chế văn hóa truyền thống còn rất khó khăn vất vả ; chính sách chính sách lôi cuốn cácnguồn lực triển khai xã hội hoá văn hoá, thể thao chưa được chú trọng. – Đội ngũ cán bộ quản lý, quản trị văn hóa truyền thống còn kiêm nhiệm, thiếu chuyênsâu. Chưa tiếp tục được tu dưỡng, update kiến thức và kỹ năng về quản trị văn hóa truyền thống. – Hạ tầng cơ sở kinh tế-xã hội khu vực nông thôn mặc dầu đã được tỉnh, huyện chăm sóc góp vốn đầu tư nhưng vẫn chưa phân phối nhu yếu tăng trưởng. Đời sốngnông dân tuy được cải tổ nhưng vẫn còn gặp khó khăn vất vả, chênh lệch thunhập giữa nông thôn và thành thị còn cao. 2.4.2. Nguyên nhân – Việc tiến hành triển khai chương trình của chỉ huy xã chưa thực sựquyết liệt, chưa có kế hoạch đơn cử, chưa có chiêu thức chỉ huy sát sao, kịpthời, 1 số ít cán bộ chưa nhận thức không thiếu về tầm quan trọng của chương trình, 17 hiệu quả chưa phân phối nhu yếu đặt ra. Bên cạnh đó công tác làm việc tuyên truyền cònlúng túng, hình thức tuyên truyền chưa nhiều mẫu mã, chưa tương thích, một số ít ngườidân chưa hiểu được nội dung ý nghĩa của chương trình, do đó vẫn còn trôngchờ, ỷ lại vào sự tương hỗ của nhà nước. – Các xã vùng trung du, miền núi kinh tế tài chính nông nghiệp giữ vai trò chủ yếu, hình thức sản xuất nhỏ lẻ, nên hiệu suất cao chưa cao. Mặt khác, giá trị sản phẩmhàng hóa thấp, dẫn đến thu nhập và tỷ suất hộ nghèo vẫn còn tương đối cao so vớimặt bằng chung của những xã đồng bằng trên địa phận toàn huyện. – Kinh phí phân chia cho tiêu chuẩn thiết kế xây dựng nhà ở dân cư trên địa phận những xãcòn hạn hẹp. Việc hoạt động góp phần tự nguyện của nhân dân và kêu gọi cácnguồn lực kinh tế tài chính hợp pháp khác của địa phương nhìn chung thấp, sự ủng hộcủa những doanh nghiệp cũng còn hạn chế, chưa phân phối được nhu yếu củachương trình. Do đó, để đạt được tiêu chuẩn này theo đúng lộ trình cũng rất khó, nhất là trong toàn cảnh lúc bấy giờ tình hình suy giảm kinh tế tài chính quốc tế cũng ảnhhưởng không nhỏ đến nền kinh tế tài chính Nước Ta. – Một số xã vẫn còn nhiều nhà cấp 4 đã được thiết kế xây dựng từ khá lâu và đangxuống cấp, đa phần tập trung chuyên sâu vào những hộ neo đơn, khó khăn vất vả. Có xã đa phầnngười dân nơi đây đã xây được nhà vững chắc bảo vệ “ 3 cứng ” là cứng nền, cứng khung và cứng mái. Thế nhưng khi xét về tiêu chuẩn diện tích quy hoạnh và khuônviên, khu công trình phụ trợ … thì cơ bản số hộ không đạt, do những hộ mái ấm gia đình nàyđều mới thiết kế xây dựng, có niên hạn sử dụng tới vài chục năm nên họ chưa tính đếnviệc tái tạo và kiến thiết xây dựng lại. Như vậy, sau 04 năm thực thi, những tiêu chuẩn kiến thiết xây dựng nông thôn mới trênđịa bàn tỉnh Bắc Kạn đã đạt những tác dụng nhất định. Tuy nhiên, Hiện trạngquá trình thực thi còn gặp nhiều khó khăn vất vả, vướng mắc yên cầu phải tiếp tụcthực hiện một số ít trách nhiệm, giải pháp để đạt tiềm năng đến năm 2020 đạt tiêuchí Nông thôn mới ở những xã. 183. Những giải pháp thực thi kiến thiết xây dựng nông thôn mới trên địa bàntỉnh Bắc Kạn đến năm 20203.1 Mục tiêu đến năm 2020 Đến năm 2020 : toàn tỉnh có 50 % số xã ( 56 xã ) cơ bản đạt 19 tiêu chuẩn nôngthôn mới và 50 % số xã còn lại đạt trên 10 tiêu chuẩn. Để đạt được Mục tiêu chí nêu trên theo lộ trình từ nay đến năm 2020, cầncó sự chỉ huy sát sao của Cấp ủy, chính quyền sở tại những xã, huyện nói riêng và tỉnhBắc Kạn nói chung ; sự đồng tâm, tham gia tích cực góp phần sức người sứccủa của chính người dân trên địa phận tỉnh để sớm đạt những tiêu chuẩn theoChương trình pháp luật, cần thực thi tốt một số ít giải pháp. 3.2. Một số giải pháp3. 2.1. Giải pháp chungMột là, Các những cấp ủy đảng, chính quyền sở tại, mặt trận, những đoàn thể tăngcường công tác làm việc tuyên truyền, hoạt động, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảngviên và những những tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của Chươngtrình thiết kế xây dựng NTM so với đời sống và sản xuất nông nghiệp theo hướnghàng hóa ; phát động những trào lưu thi đua tạo sức mạnh và kêu gọi cácnguồn lực để hội đồng dân cư chung tay kiến thiết xây dựng NTM.Hai là : Phát huy vai trò chỉ huy của những cấp ủy Đảng, sự chỉ huy, quản lý và điều hành củachính quyền trong quy trình kiến thiết xây dựng Quy hoạch, Kế hoạch ; phát huy sức mạnh tổnghợp, đồng điệu của những cấp, những ngành, những tổ chức triển khai chính trị – xã hội, hội đồng doanhnghiệp và toàn dân. Tập trung chỉ huy theo mục tiêu, , Dân biết, dân bàn, dânkiểm tra, dân thụ hưởng, ,, phát huy vai trò chủ thể của hội đồng dân cư trong xâydựng nông thôn mới. Ba là : Tranh thủ tối đa những nguồn lực để tiến hành thiết kế xây dựng NTM, cầnxác định thứ tự ưu tiên cho việc thiết kế xây dựng và thực thi từng tiêu chuẩn, theophương châm : tiêu chuẩn dễ làm trước, tiêu chuẩn cần nhiều nguồn lực làm sau. Khai thác nguồn vốn và sử dụng có hiệu qủa những nguồn vốn thiết kế xây dựng hạ tầng19cơ sở ; so với những nguồn vốn tương hỗ trực tiếp từ Chương trình NTM phải ưutiên thực thi ở những thôn, xóm ( tối thiểu 70 % vốn ) cho những khu công trình thực sựthiết yếu ship hàng cho số đông người dân được hưởng lợi. Ưu tiên hạ tầngphục vụ sản xuất, thiết yếu dân số ( đường ngõ xóm, vệ sinh môi trường tự nhiên ) … Huy động tối đa những nguồn lực góp vốn đầu tư kiến thiết xây dựng NTM theo mục tiêu Nhànước và nhân dân cùng làm, trong đó, nguồn lực góp vốn đầu tư của Nhà nước là quantrọng, nguồn lực góp vốn đầu tư, góp phần tại chỗ của nhân dân, của xã hội là yếu tốquyết định sự thành công xuất sắc trong kiến thiết xây dựng NTMBốn là : Tạo thiên nhiên và môi trường thuận tiện để lôi cuốn vốn góp vốn đầu tư, hình thành, pháttriển mạnh những mô hình doanh nghiệp nông thôn, nhất là những doanh nghiệpđầu tư sản xuất chế biến nông sản, sử dụng nguyên vật liệu và lôi cuốn nhiều laođộng tại chỗ. Tập trung tăng trưởng những quy mô hoạt động giải trí có hiệu suất cao : HTX, quy mô sản xuất trang trại, gia trại góp thêm phần nâng cao đời sống và thu nhậpcho người dân. Năm là : Tăng cường công tác làm việc giảng dạy nghề, xử lý việc làm cho laođộng nông thôn, nhất là nông dân tại khu vực có đất bị tịch thu giải phóng mặtbằng Giao hàng những dự án Bất Động Sản tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hội. Trong đó, đặc biệt quan trọng quantâm đến huấn luyện và đào tạo, tập huấn, nâng cao kiến thức và kỹ năng về quản trị, quản lý và điều hành của độingũ cán bộ quản trị kiến thiết xây dựng nông thôn mới ở huyện, xã. Sáu là, Tăng cường đào tạo và giảng dạy, tu dưỡng kỹ năng và kiến thức cho đội ngũ cán bộ làmcông tác kiến thiết xây dựng Nông thôn mới, những tiêu chuẩn về NTM đặc bịêt là cán bộ xã. Hiểu được những tiêu chuẩn, phương pháp tiến hành, triển khai tiêu chuẩn, nhất là giaothông nông thôn. Tổ chức cho cán bộ, công chức cấp xã đi thăm quan học tậpcác xã làm điểm trong và ngoài tỉnh thực thi có hiệu qủa chương trình xâydựng Nông thôn mới. Qua đó, học tập kinh nghiệm tay nghề và kiến thiết xây dựng cách làm củaxã mình có hiệu qủa. Bảy là, Thường xuyên phát động trào lưu toàn dân đoàn kết xây dựngđời sống văn hóa truyền thống khu dân cư, kiến thiết xây dựng hội đồng dân cư đồng thuận giúp đỡ20tương trợ lẫn nhau, giữ gìn bảo mật an ninh trật tự bảo đảm an toàn xã hội và bảo vệ môitrường, tăng nhanh trào lưu toàn dân chung tay kiến thiết xây dựng nông thôn mới … Tám là, Tập trung chỉ huy những xã làm điểm, kêu gọi những nguồn lức và ưutiên góp vốn đầu tư để tiến hành triển khai không thiếu những bước trong quy trình tiến độ xây dựngNTM ở những xã. Đánh giá, rút kinh nghiệm tay nghề về chiêu thức tổ chức triển khai tiến hành, phương pháp quản trị, hình thức kêu gọi những nguồn lực, đặc biệt quan trọng là huy độngsức dân để rút kinh nghiệm tay nghề trước khi tiến hành ra diện rộng. Chín là, Thực hiện công khai minh bạch minh bạch trong những hoạt động giải trí xây dựnggiao thông nông thôn. Thực hiện dân biết, dân bàn, dân kiểm tra. Người dânphải bàn luận lựa chọn nội dung triển khai, mức góp phần nhằm mục đích phát huy hiệuqủa nguồn vốn góp vốn đầu tư, tránh thực trạng kêu gọi qúa sức dân, góp vốn đầu tư qúa khảnăng thanh toán giao dịch của địa phương … trong thiết kế xây dựng NTM, thiết kế xây dựng hạ tầng cơsở …. để tạo ý thức cho nhân dân, từ đó lôi cuốn, hấp dẫn và tạo sự đồng thuậncủa nhân dân so với kiến thiết xây dựng NTM.Mười là, Tăng cường công tác làm việc kiểm tra đôn đốc, phối hợp tốt giữa cácphòng, ban, ngành, đoàn thể trong quy trình tiến hành thực thi. Để tháo gỡcác khó khăn vất vả vướng mắc của những xã đặc biệt quan trọng là tiến trình, thủ tục phê duyệtxây dựng cơ bản trong đó có Giao thông nông thôn. /. 3.2.2. Một số giải pháp đơn cử so với những tiêu chíBên cạnh những giải pháp chung ở trên, do đặc trưng, môt số tiêu chuẩn cần cóthêm những giải pháp đơn cử sau : – Ưu tiên góp vốn đầu tư, tập trung chuyên sâu khai thác mọi nguồn lực khác ; tranh thủ cácnguồn vốn tương hỗ theo chính sách và những dự án Bất Động Sản có tiềm năng của tỉnh, Trung ươngcho kiến thiết xây dựng Giao thông nông thôn, chợ, cơ sở vật chất văn hóa truyền thống vì đây làhoạt động tương quan trực tiến đến sản xuất, hoạt động và sinh hoạt, đời sống niềm tin củanhân dân. – Các sở, ban, ngành tương quan tập trung chuyên sâu tương hỗ góp vốn đầu tư giải phóng mặtbằng, thiết kế xây dựng thiết chế văn hóa truyền thống xã, thôn, trong đó ưu tiên góp vốn đầu tư cho những xã21đăng ký đạt chuẩn đến năm 2020 ; đồng thời chỉ huy những xã hoàn thành xong cáccông trình chuyển tiếp để sớm đưa vào sử dụng. – Tiếp tục thanh tra rà soát thực trạng, xác lập thứ tự ưu tiên cho tiêu chuẩn 6 để triểnkhai triển khai, trong đó, cần chăm sóc đến giảng dạy, tu dưỡng cán bộ quản lývề văn hóa truyền thống nói riêng và cán bộ quản trị thiết kế xây dựng nông thôn mới nói chung. – Thông qua kiến thiết xây dựng thử nghiệm 1 số ít chợ để hiện thực hóa quy mô nôngthôn mới trên thực tiễn tại 1 số ít xã ở địa phận tỉnh, đồng thời rút kinh nghiệmtrong chỉ huy triển khai và làm cơ sở cho việc thiết kế xây dựng kế hoạch hành vi vàđiều chỉnh những giải pháp tiến hành tổ chức triển khai thực thi kiến thiết xây dựng mạng lưới chợnông thôn trên diện rộng. – Tăng cường tiếp cận, sử dụng những nguồn kinh phí đầu tư tương hỗ để tổ chức triển khai đàotạo, tập huấn nâng cao trình độ cho cỗ máy ( ban quản trị, tổ quản trị ) tổ chứcquản lý chợ. Các địa phương phải dữ thế chủ động chăm sóc thực thi công tác làm việc táiđầu tư sửa chữa thay thế, tái tạo, tăng cấp chợ ; Tập trung nâng cao năng lượng những banquản lý chợ, phối hợp với cơ quan chức năng của huyện trấn áp chất lượnghàng hóa khi đưa vào chợ, trấn áp quản trị giá so với những mẫu sản phẩm trongchợ … từng bước đưa sản phẩm & hàng hóa đến người tiêu dùng đạt những nhu yếu về chấtlượng, trong đó có tiêu chuẩn bảo vệ bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm và giá thành hợplý. – Thực hiện đa dạng hóa những nguồn vốn kêu gọi để tiến hành thực hiệnChương trình, như : Lồng ghép những nguồn vốn của những chương trình mục tiêuquốc gia ; những chương trình, dự án Bất Động Sản tương hỗ có tiềm năng trên địa phận ; Huy độngtối đa nguồn lực của địa phương, cá thể, tổ chức triển khai trong và ngoài nước ; – Tổ chức phổ cập tuyên truyền thoáng rộng trên những phương tiện đi lại thông tin đạichúng về chủ trương chính sách tương hỗ xóa nhà dột nát, tạm bợ, cải tổ nhà ởcho hộ nghèo ở những xã. Phổ biến sâu rộng chủ trương quan điểm, phương thứcvà giải pháp tổ chức triển khai tương hỗ để những cơ quan đơn vị chức năng, tổ chức triển khai chính quyền sở tại địaphương tại những xã trên không cho và thực thi thống nhất. 22 – Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, những ban ngành đoàn thể những xã phối hợp tuyêntruyền tăng nhanh hơn nữa cuộc hoạt động kiến thiết xây dựng quỹ ” Vì người nghèo ” vàcác hình thức góp phần, như Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Đoàn thanhniên … cùng chung tay góp phần tương hỗ người nghèo cải tổ nhà ở. Duy trìphong trào tiếp tục đồng thời mở những đợt tuyên truyền hoạt động tậptrung cho việc góp phần thiết kế xây dựng quỹ vào những thời hạn trọng điểm trong năm. tin tức kịp thời và công khai minh bạch trên những phương tiện thông tin đại chúng củađịa phương về tác dụng hoạt động thiết kế xây dựng quỹ, hiệu quả tổ chức triển khai tương hỗ về nhà ởcho hộ mái ấm gia đình nghèo. Để nhân dân nắm được và đống ý ủng hộ xây dựngquỹ ngày càng tăng trưởng mạnh, đem lại nhiều ý nghĩa thiết thực hơn. – Vận động nhân dân góp vốn đầu tư kinh phí đầu tư kiến thiết xây dựng mới, tu sửa nhà cửa, tíchcực triển khai trào lưu chỉnh trang sân vườn, tường rào, ngăn nắp xanhsạch – đẹp, ngày càng nâng cao chất lượng đời sống trong mỗi mái ấm gia đình. Ưutiên làm trước việc tái tạo, tăng cấp 3 khu công trình hoạt động và sinh hoạt ( phòng tắm, hố xí, bểnước ), hợp vệ sinh, tiện ích và văn minh, bảo vệ thiên nhiên và môi trường. – Đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế tài chính, nâng cao thu nhập đời sống nhân dân : Đây là một trong những điều kiện kèm theo tiên quyết, quyết định hành động sự thành côngcủa chương trình. Do đó cấp ủy Đảng, và chính quyền sở tại địa phương những cấp cầnxây dựng khuynh hướng kế hoạch, từng bước vận động và di chuyển cơ cấu tổ chức cây cối, vậtnuôi có hiệu suất cao, nâng cao giá trị kinh tế tài chính. Đẩy mạnh tăng trưởng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tạo thiên nhiên và môi trường thuận tiện để lôi cuốn góp vốn đầu tư, hình thành, tăng trưởng mạnh những mô hình doanh nghiệp nông thôn, nhất là những doanhnghiệp đầu tư sản xuất chế biến nông sản, sử dụng nguyên vật liệu và thu hútnhiều lao động tại địa phương. Tập trung tăng trưởng những quy mô hoạt động giải trí cóhiệu quả, góp thêm phần xóa đói, giảm nghèo nâng cao đời sống của nhân dân. 23C. KẾT LUẬNQua thực trạng 04 năm tiến hành thực thi Chương trình mục tiêuchương trình thiết kế xây dựng Nông thôn mới trên địa phận tỉnh, hiệu quả phân tíchđánh giá ở trên cho thấy được vị trí, tầm quan trọng của Chương trình. Saukhi triển khai xong đạt những tiêu chuẩn Nông thôn mới sẽ đem lại diện mạo mới chonông thôn những địa phương trên địa phận tỉnh Bắc Kạn, tạo niềm tin của nhândân vào Đảng và nhà nước với sự nghiệp thay đổi quốc gia ngày càng thắnglợi. Tuy nhiên, quy trình triển khai còn gặp rất nhiều khó khăn vất vả, vướng mắcvề cơ sở vật chất, nguồn lực …. yên cầu sự đồng tâm hiệp lực của tổng thể cáccấp, những ngành, của mọi cán bộ, cấp cơ sở nông thôn, những những tầng lớp nhân dânvào cuộc, kêu gọi mọi tiềm lực trong xã hội để kiến thiết xây dựng Nông thôn mới. Để đạt tiềm năng thiết kế xây dựng nông thôn mới vào những mốc thời hạn năm2015, 2018 và 2020. Các xã trên địa phận tỉnh Bắc Kạn còn khối lượng côngviệc rất lớn phải làm, thế cho nên, để đạt tiến trình tiến hành triển khai những tiêu chuẩn, cần tập trung chuyên sâu triển khai một số ít trách nhiệm, giải pháp cơ bản như sau : 1. Tăng cường tăng cường sâu rộng hơn nữa công tác làm việc tuyên truyền vậnđộng cán bộ đảng viên, nhân dân vê chương trình thiết kế xây dựng nông thôn mới đểmọi người có nhận thức sâu hơn về vị trí, tầm quan trọng của chương trình xâydựng nông thôn mới. 2. Tranh thủ những nguồn lực để tiến hành thực thi chương trình nôngthôn mới theo thứ tự ưu tiên cho từng tiêu chuẩn, lấy những quy mô tiên tiến và phát triển để cácxã học tập, làm theo. 3. Chuyển giao Khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến, vận động và di chuyển cơ cấu tổ chức câytrồng, vật nuôi, tạo việc làm cho nhân dân, nhất là nhân dân bị tịch thu đất nângcao thu nhập, cải tổ đời sống, góp phần ngày công, tiền, vật chất xây dựngNông thôn mới. 244. Tạo môi trường tự nhiên thuận tiện tăng trưởng công nghiệp nhẹ trong lĩnh vựcnông nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến mẫu sản phẩm nông nghiệp, mở rộngthị trường tiêu thụ nông phẩm. 5. Phát huy sức mạnh tổng hợp của những cấp, những ngành, của chính sách chính trịvà toàn dân, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong quy trình thiết kế xây dựng nôngthôn mới. Thực hiện tốt những giải pháp trên góp thêm phần đẩy nhanh quy trình tiến độ xây dựngnông thôn mới của những xã trên địa phận tỉnh Bắc Kạn đạt tiêu chuẩn xã Nông thônmới theo tiềm năng của tỉnh đề ra. 25