Đời sống nông thôn Việt Nam hiện nay, thực trạng và giải pháp – Tài liệu text

Đời sống nông thôn Việt Nam hiện nay, thực trạng và giải pháp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (117.84 KB, 7 trang )

I. Phần mở đầu
+ Lí do chọn đề tài:
Việt Nam hiện nay vẫn còn là một nước sản xuất chủ yếu về nông nghiệp với
trên 75% dân số cả nước sống tập trung ở các vùng nông thôn. Lao động nông
nghiệp chiếm trên 80% lao động nông thôn và trên 70% lao động trong toàn xã hội.
Trong nhiều năm qua, sản xuất nông nghiệp ở nông thôn chiếm từ 25 – 40% tổng
sản phẩm trong nước và đạt trên 40% tổng giá trị giá trị xuất khẩu cho cả nước. Ở
nông thôn có trên 50 dân tộc khác nhau sinh sống, phân bố trên nhiều địa bàn rộng
lớn, có nhiều điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác biệt.
Hiện nay,quá trình đô thị hoá đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi cả
nước. Ở tầm vĩ mô, một mặt đô thị hoá là một trong những giải pháp quan trọng
trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội theo hưóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
đáp ứng mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá: phát triển mạnh các ngành công
nghiệp và thương mai – dich vụ mà Đảng và Nhà nước đã đề ra trong giai đoạn từ
nay đến năm 2020. Mặt khác đô thị hoá cũng là một trong những chỉ tiêu quan
trọng phản ánh sự phát triển của một đất nước. Tuy nhiên bên cạnh những tác động
tích cực, vẫn còn có không ít những bất cập, tồn tại đặt ra cần phải giải quyết, đặc
biệt là vấn đề lao động – việc làm đối với một bộ phận lớn dân cư nông thôn bị rơi
vào tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm khi bị thu hồi đất đai phục vụ mục tiêu
đô thị hoá.
Vì vậy phát triển nông thôn,giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn
luôn là một yêu cầu cấp thiết của nước ta.
+ Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở đánh giá tác động của quá trình đô thị hoá đến thực trạng chuyển
đổi việc làm và đời sống của lao động nông thôn, phân tích các nhân tố tác động
tới chuyển đổi việc làm, từ đó đưa ra các giải pháp và khuyến nghị phù hợp nhằm
tạo việc làm, giúp cho việc chuyển đổi việc làm đạt hiệu quả cao cho lao động
nông thôn.
+ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
– Đối tượng nghiên cứu: các vấn đề ảnh hưởng đến chuyển đổi việc làm và đời
sống của người lao động nông thôn trong quá trình đô thị hoá.

– Phạm vi nghiên cứu:
. Về không gian nghiên cứu: Người lao động nông thôn trên địa bàn.
. Về thời gian quan sát thu thập thông tin: Từ năm 2009 đến năm 2012.
+ Nhiệm vụ nghiên cứu:
– Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn chuyển đổi việc làm của người lao
động.
– Phân tích thực trạng chuyển đổi việc làm và đời sống người lao động nông
thôn
– Phát hiện những tác động của quá trình đô thị hoá đến việc chuyển đổi việc
làm của người lao động trong thời gian qua.
– Đưa ra các khuyến nghị và giải pháp phù hợp nhằm hỗ trợ cho việc chuyển
đổi việc làm đạt hiệu quả cao cho lao động nông thôn huyện ….
+ Phương pháp nghiên cứu khoa học:nghiên cứu điều
tra,phỏng vấn.
– Đi tiếp xúc thực tế hoặc thu thập các thông tin từ các ban ngành có liên
quan.
– Trong quá trình nghiên cứu nhóm em có thể sẽ sử dụng các phương pháp
như thống kê phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp chuyên gia.
+ Kế hoạch, thời gian nghiên cứu:
– Thực tế thời gian công việc
– Trước đi thực tế Lập và hoàn thành đề cương
– Trong thời gian đi thực tế:
.Thu thập thông tin, tư liệu
.Viết bản thảo và liên hệ giảng viên hướng dẫn
– Cuối thời gian đi thực tế: Viết bản thu hoạch
– Theo kế hoạch, quy định: Nộp bản thu hoạch cho GV hướng dẫn
+ Kết cấu của đề tài:
– Chương 1: Phát triển nông thôn: thành tựu và thách thức
– Chương 2: Phân tích thực trạng đời sống nông thôn trong giai đoạn hiện nay.
Nguyên nhân của thực trạng đó.

– Chương 3: Một số khuyến nghị và giải pháp đối với thực trạng đó và thực
hiện vấn đề chuyển đổi việc làm của lao động nông thôn
B. Phần thứ hai: Nội dung chính (được thể hiện
qua slide)
Kết quả nghiên cứu: phân tích số liệu để rút ra cơ sở lí luận
Nội dung chính:
+ Chương 1: Phát triển nông thôn:thành tựu và thách thức.
Thành tựu: Thời gian qua, sự nghiệp phát triển nông thôn đạt được nhiều
thắng lợi quan trọng, làm nền tảng vững chắc cho quá trình đổi mới và phát triển
của đất nước:
– Giải quyết căn bản an ninh lương thực, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng
– Giảm tỷ lệ hộ nghèo, tăng thu nhập nông dân
– Cải thiện rõ rệt điều kiện sinh họat nông thôn, cải thiện kết cấu hạ tầng
– Phát huy dân chủ cơ sở.
Những thắng lợi thời gian qua của sự nghiệp phát triển nông thôn bắt nguồn từ sự
phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp tăng trưởng, tạo
việc làm ổn định và cải thiện rõ rệt thu nhập cho đa số cư dân nông thôn. Nhờ đó,
chất lượng cuộc sống các mặt của nông dân và tình trạng nông thôn được cải thiện.
Thách thức: Tăng trưởng sản xuất nông nghiệp trong thời gian qua (chủ yếu
dựa trên tăng đầu tư lao động và tài nguyên tự nhiên) đã không còn tiếp tục thuận
lợi. Diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, giá lao động và vật tư tăng làm
giá thành sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng. Trong khi đó, những khó khăn vốn
có trong nông thôn chậm được khắc phục, như cơ sở hạ tầng kém phát triển, dịch
vụ phục vụ sản xuất và đời sống có chất lượng thấp, qui hoạch phát triển không
đồng bộ, chính quyền ở cơ sở thiếu kinh phí và hạn chế năng lực,…càng làm cho
việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn trở nên khó khăn, ngành nghề phi nông
nghiệp tăng trưởng chậm, doanh nghiệp nông thôn ít. Tốc độ tăng trưởng nhanh
của kinh tế đô thị và lĩnh vực công nghiệp chưa thực sự kết nối tốt với kinh tế, xã
hội nông thôn một cách hài hòa. Trong khi nhiều việc làm mới tiếp tục thu hút số
đông thanh niên nam giới ra khỏi nông thôn, đem lại nguồn thu nhập ngày càng

tăng cho gia đình nông thôn thì cũng làm tăng mất cân đối về cân bằng cuộc sống
gia đình, về chênh lệch nam nữ, tuổi tác trong xã hội nông thôn. Đất đai chuyển
khỏi nông nghiệp với mức bồi hoàn không thỏa đáng, tình trạng chất thải đô thị và
công nghiệp đổ về nông thôn,… đang khiến cho khoảng cách giữa nông thôn và đô
thị không chỉ là thu nhập mà còn là chất lượng sống, cơ hội hưởng lợi và thiệt thòi
từ sự phát triển kinh tế.
+ Chương 2: Phân tích thực trạng đời sống nông thôn trong giai
đoạn hiện nay. Nguyên nhân của thực trạng đó. < Slide >
1. Thiếu vốn sản xuất:
Đây là nguyên nhân số 1. Khoảng 91,53% số hộ nghèo là thiếu vốn. Nông dân
nghèo vốn thấp, làm không đủ ăn, thường xuyên phải đi làm thuê hoặc đi vay tư
nhân để đảm bảo cuộc sống tối thiểu hàng ngày nên không có vốn để sản xuất,
không được vay ngân hàng vì không có tài sản thế chấp.
2. Không có kinh nghiệm làm ăn:
Kinh nghiệm làm ăn và kỹ thuật sản xuất rất hạn chế. Khoảng 45,77% hộ thiếu
kinh nghiệm làm ăn. Nguyên nhân là do họ thiếu kiến thức, kỹ thuật canh tác, áp
dụng kỹ thuật không phù hợp với đất đai, cây trồng, vật nuôi; không có cơ hội học
hỏi thêm kinh nghiệm, không được hổ trợ cần thiết và một phần là do hậu quả của
một thời gian dài họ sống trong cơ chế bao cấp.
3. Thiếu việc làm
Đây là nguyên nhân phổ biến ở các tỉnh, người nghèo ngoài trồng trọt, họ không có
vốn để phát triển chăn nuôi, làm ngành nghề. Thu nhập chỉ có 6,1% từ chăn nuôi,
5,4% từ ngành nghề.
Trồng trọt thì không thâm canh, lao động dư thừa, chỉ chờ vào làm thuê.
Trong ngành nghề thì thiếu tay nghề và trình độ học vấn thấp, rất ít có cơ hội tìm
việc làm phi nông nghiệp, số ngày làm không nhiều, thu nhập thấp, công việc
mang tính thời vụ cao, cạnh tranh quyết liệt.
4. Đất canh tác ít:
Bình quân hộ nghèo chỉ có 2771m2 đất nông nghiệp. Khoảng 61% hộ nghèo thiếu
đất, ở khu vực có hợp tác xã thì có nhiều hộ không có khả năng thanh toán nợ cho

hợp tác xã nên địa phương rút bớt ruộng đất đã giao cho họ, càng thiếu ruộng.
Ngược lại, một số gia đình không có đủ khả năng thâm canh nên không dám nhận
đủ ruộng được giao.
5. Đông nhân khẩu, ít người làm:
Bình quân hộ nghèo có 5,8 nhân khẩu, chỉ có 2,4 lao động. Ít người làm, đông
người ăn, dẫn đến thu nhập thấp và đời sống gặp nhiều khó khăn.
6. Trình độ học vấn ít:
Không có cơ hội học hỏi thêm kiến thức và khó tiếp cận thông tin, tỷ lệ đến trường
thấp vì gặp kó khăn về tài chính và chi phí cơ hội con em đến trường cao, tỷ lệ
nghèo đói của những người chưa hoàn thành chương trình tiểu học là 40%.
7. Hạ tầng nông thôn còn hạn chế
Người nghèo chịu thiệt thòi do sống ở những vùng xa xôi hẻo lánh, giao thông
không thuận tiện, vận chuyển sản phẩm đến chợ chi phí cao, bán tại đồng thì bị tư
thương ép giá, giá nhu yếu phẩm lại cao, điện, đường, trường, trạm thưa và thiếu,
thủy lợi, tưới tiêu thấp kém.
+ Chương 3: Một số khuyến nghị và giải pháp đối với thực trạng
đó và thực hiện vấn đề chuyển đổi việc làm của người lao động nông
thôn. < Slide >
– Phát triển nông nghiệp hàng hoá. Để phát triển nông nghiệp hàng hóa có hiệu quả
và năng suất lao động cao, giải pháp không phải là xóa bỏ kinh tế hộ nông dân,
phát triển trang trại mà là tổ chức hợp tác xã kiểu mới có chế biến và buôn bán
chung để mở rộng quy mô sản xuất, thực hiện thương nghiệp công bằng. Hiện nay,
đang thiếu một hệ thống dịch vụ trợ giúp cho nông dân xây dựng các hợp tác xã
kiểu mới, theo từng ngành hàng, từ việc xây dựng các tổ hợp tác như là một trường
học để tiến lên hợp tác xã. Đây là biện pháp cơ bản để tiếp tục phát triển kinh tế gia
đình nông dân bắt đầu từ nghị quyết X, chuyển hộ nông dân lên thành nông trại gia
đình như ở các nước tiên tiến. Việc chuyển nông dân ra thành thị và khu công
nghiệp cần phải có một chương trình như chương trình kinh tế mới trước kia, có
quy hoạch, có đào tạo trong một chương trình phát triển vốn con người.
-Việc nghe theo lời khuyên của các nước phát triển thị trường ruộng đất đã dẫn đến

đầu cơ khiến giá bất động sản lên cao một cách giả tạo. Ngay ở các nước có sở hữu
đất tư nhân, nhà nước vẫn kiểm soát việc sử dụng đất một cách chặt chẽ. Một chính
sách ruộng đất đúng đắn cần thiết cho việc thúc đẩy việc chuyển lao động nông
thôn ra thành thị, bảo vệ và phát triển đất nông nghiệp, hỗ trợ cho việc phát triển
nông nghiệp và nông thôn.
– Bảo hiểm nông nghiệp:
– Gần đây, quan niệm đô thị có ảnh hưởng lớn đến phát triển nông thôn. Chiến lược
đô thị hóa tập trung dẫn đến việc thúc đẩy phát triển các siêu đô thị, hạn chế việc
phát triển nông nghiệp và gây khó khăn cho việc nông thôn và nông nghiệp, đồng
thời đầu tư cơ sở hạ tầng (chủ yếu về giao thông) quá tập trung vào đô thị. Do đó,
muốn thúc đẩy phát triển nông thôn, phải xây dựng một hệ thống các đô thị vừa và
nhỏ trên khắp đất nước.
– Cần quy hoạch việc phát triển đô thị và nông thôn một cách đồng bộ. Ở các nước
đang xây dựng các quy hoạch đô thị – vùng gắn các đô thị với phát triển nông thôn.
Nông thôn còn thiếu mạng lưới an sinh xã hội, trong khi thu nhập tương đối giảm
nhanh. Để đảm bảo phát triển bền vững, cần giải quyết vấn đề một cách toàn diện,
có một chiến lược phòng chống thiên tai, dịch bệnh và rủi ro thị trường đi đôi với
việc xây dựng một chế độ bảo hiểm.
– Việc xây dựng hệ thống an sinh xã hội phải gắn liền với hoạt động tương trợ, với
các tổ chức nông dân và có sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng
nhân dân thì mới hiệu quả. Các công ty bảo hiểm không dám bảo hiểm nông
nghiệp vì sợ lỗ.
– Cần có sự tham gia của tất cả các bộ: để giải quyết các vấn đề trên, cần có một hệ
thống biện pháp phát triển nông thôn có hiệu lực.Trước hết, Nhà nước phải có
chính sách phát triển nông thôn toàn diện, không phải chỉ tập trung vào nông
nghiệp. Việc phát triển nông thôn là công việc của hầu hết các bộ chứ không phải
chỉ riêng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Chúng ta đã thành lập Hội
Khoa học phát triển nông thôn để huy động lực lượng quần chúng giúp Nhà nước
và doanh nghiệp thực hiện công việc này. Thứ hai, Nhà nước phải hỗ trợ việc tăng

– Phạm vi nghiên cứu và điều tra :. Về khoảng trống điều tra và nghiên cứu : Người lao động nông thôn trên địa phận .. Về thời hạn quan sát tích lũy thông tin : Từ năm 2009 đến năm 2012. + Nhiệm vụ nghiên cứu và điều tra : – Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn quy đổi việc làm của người laođộng. – Phân tích tình hình quy đổi việc làm và đời sống người lao động nôngthôn – Phát hiện những tác động ảnh hưởng của quy trình đô thị hoá đến việc quy đổi việclàm của người lao động trong thời hạn qua. – Đưa ra những khuyến nghị và giải pháp tương thích nhằm mục đích tương hỗ cho việc chuyểnđổi việc làm đạt hiệu suất cao cao cho lao động nông thôn huyện …. + Phương pháp điều tra và nghiên cứu khoa học : điều tra và nghiên cứu điềutra, phỏng vấn. – Đi tiếp xúc thực tiễn hoặc tích lũy những thông tin từ những ban ngành có liênquan. – Trong quy trình nghiên cứu và điều tra nhóm em hoàn toàn có thể sẽ sử dụng những phương phápnhư thống kê nghiên cứu và phân tích, giải pháp so sánh, giải pháp chuyên viên. + Kế hoạch, thời hạn điều tra và nghiên cứu : – Thực tế thời hạn việc làm – Trước đi thực tiễn Lập và hoàn thành xong đề cương – Trong thời hạn đi trong thực tiễn :. Thu thập thông tin, tư liệu. Viết bản thảo và liên hệ giảng viên hướng dẫn – Cuối thời hạn đi thực tiễn : Viết bản thu hoạch – Theo kế hoạch, lao lý : Nộp bản thu hoạch cho GV hướng dẫn + Kết cấu của đề tài : – Chương 1 : Phát triển nông thôn : thành tựu và thử thách – Chương 2 : Phân tích tình hình đời sống nông thôn trong tiến trình lúc bấy giờ. Nguyên nhân của tình hình đó. – Chương 3 : Một số khuyến nghị và giải pháp so với tình hình đó và thựchiện yếu tố quy đổi việc làm của lao động nông thônB. Phần thứ hai : Nội dung chính ( được thể hiệnqua slide ) Kết quả điều tra và nghiên cứu : phân tích số liệu để rút ra cơ sở lí luậnNội dung chính : + Chương 1 : Phát triển nông thôn : thành tựu và thử thách. Thành tựu : Thời gian qua, sự nghiệp tăng trưởng nông thôn đạt được nhiềuthắng lợi quan trọng, làm nền tảng vững chãi cho quy trình thay đổi và phát triểncủa quốc gia : – Giải quyết cơ bản bảo mật an ninh lương thực, giảm tỷ suất suy dinh dưỡng – Giảm tỷ suất hộ nghèo, tăng thu nhập nông dân – Cải thiện rõ ràng điều kiện kèm theo sinh họat nông thôn, cải tổ kiến trúc – Phát huy dân chủ cơ sở. Những thắng lợi thời hạn qua của sự nghiệp tăng trưởng nông thôn bắt nguồn từ sựphát triển can đảm và mạnh mẽ của kinh tế tài chính nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp tăng trưởng, tạoviệc làm không thay đổi và cải tổ rõ ràng thu nhập cho hầu hết dân cư nông thôn. Nhờ đó, chất lượng đời sống những mặt của nông dân và thực trạng nông thôn được cải tổ. Thách thức : Tăng trưởng sản xuất nông nghiệp trong thời hạn qua ( chủ yếudựa trên tăng góp vốn đầu tư lao động và tài nguyên tự nhiên ) đã không còn liên tục thuậnlợi. Diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, giá lao động và vật tư tăng làmgiá thành sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng. Trong khi đó, những khó khăn vất vả vốncó trong nông thôn chậm được khắc phục, như hạ tầng kém tăng trưởng, dịchvụ ship hàng sản xuất và đời sống có chất lượng thấp, qui hoạch tăng trưởng khôngđồng bộ, chính quyền sở tại ở cơ sở thiếu kinh phí đầu tư và hạn chế năng lượng, … càng làm choviệc quy đổi cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính nông thôn trở nên khó khăn vất vả, ngành nghề phi nôngnghiệp tăng trưởng chậm, doanh nghiệp nông thôn ít. Tốc độ tăng trưởng nhanhcủa kinh tế tài chính đô thị và nghành nghề dịch vụ công nghiệp chưa thực sự liên kết tốt với kinh tế tài chính, xãhội nông thôn một cách hài hòa. Trong khi nhiều việc làm mới liên tục lôi cuốn sốđông người trẻ tuổi phái mạnh ra khỏi nông thôn, đem lại nguồn thu nhập ngày càngtăng cho mái ấm gia đình nông thôn thì cũng làm tăng mất cân đối về cân đối cuộc sốnggia đình, về chênh lệch nam nữ, tuổi tác trong xã hội nông thôn. Đất đai chuyểnkhỏi nông nghiệp với mức bồi hoàn không thỏa đáng, thực trạng chất thải đô thị vàcông nghiệp đổ về nông thôn, … đang khiến cho khoảng cách giữa nông thôn và đôthị không chỉ là thu nhập mà còn là chất lượng sống, thời cơ hưởng lợi và thiệt thòitừ sự tăng trưởng kinh tế tài chính. + Chương 2 : Phân tích tình hình đời sống nông thôn trong giaiđoạn lúc bấy giờ. Nguyên nhân của tình hình đó. < Slide > 1. Thiếu vốn sản xuất : Đây là nguyên do số 1. Khoảng 91,53 % số hộ nghèo là thiếu vốn. Nông dânnghèo vốn thấp, làm không đủ ăn, tiếp tục phải đi làm thuê hoặc đi vay tưnhân để bảo vệ đời sống tối thiểu hàng ngày nên không có vốn để sản xuất, không được vay ngân hàng nhà nước vì không có gia tài thế chấp ngân hàng. 2. Không có kinh nghiệm tay nghề làm ăn : Kinh nghiệm làm ăn và kỹ thuật sản xuất rất hạn chế. Khoảng 45,77 % hộ thiếukinh nghiệm làm ăn. Nguyên nhân là do họ thiếu kỹ năng và kiến thức, kỹ thuật canh tác, ápdụng kỹ thuật không tương thích với đất đai, cây cối, vật nuôi ; không có thời cơ họchỏi thêm kinh nghiệm tay nghề, không được hổ trợ thiết yếu và một phần là do hậu quả củamột thời hạn dài họ sống trong chính sách bao cấp. 3. Thiếu việc làmĐây là nguyên do phổ cập ở những tỉnh, người nghèo ngoài trồng trọt, họ không cóvốn để tăng trưởng chăn nuôi, làm ngành nghề. Thu nhập chỉ có 6,1 % từ chăn nuôi, 5,4 % từ ngành nghề. Trồng trọt thì không thâm canh, lao động dư thừa, chỉ chờ vào làm thuê. Trong ngành nghề thì thiếu kinh nghiệm tay nghề và trình độ học vấn thấp, rất ít có thời cơ tìmviệc làm phi nông nghiệp, số ngày làm không nhiều, thu nhập thấp, công việcmang tính thời vụ cao, cạnh tranh đối đầu kinh khủng. 4. Đất canh tác ít : Bình quân hộ nghèo chỉ có 2771 mét vuông đất nông nghiệp. Khoảng 61 % hộ nghèo thiếuđất, ở khu vực có hợp tác xã thì có nhiều hộ không có năng lực giao dịch thanh toán nợ chohợp tác xã nên địa phương rút bớt ruộng đất đã giao cho họ, càng thiếu ruộng. Ngược lại, 1 số ít mái ấm gia đình không có đủ năng lực thâm canh nên không dám nhậnđủ ruộng được giao. 5. Đông nhân khẩu, ít người làm : Bình quân hộ nghèo có 5,8 nhân khẩu, chỉ có 2,4 lao động. Ít người làm, đôngngười ăn, dẫn đến thu nhập thấp và đời sống gặp nhiều khó khăn vất vả. 6. Trình độ học vấn ít : Không có thời cơ học hỏi thêm kiến thức và kỹ năng và khó tiếp cận thông tin, tỷ suất đến trườngthấp vì gặp kó khăn về kinh tế tài chính và ngân sách thời cơ con trẻ đến trường cao, tỷ lệnghèo đói của những người chưa triển khai xong chương trình tiểu học là 40 %. 7. Hạ tầng nông thôn còn hạn chếNgười nghèo chịu thiệt thòi do sống ở những vùng xa xôi hẻo lánh, giao thôngkhông thuận tiện, luân chuyển loại sản phẩm đến chợ ngân sách cao, bán tại đồng thì bị tưthương ép giá, giá nhu yếu phẩm lại cao, điện, đường, trường, trạm thưa và thiếu, thủy lợi, tưới tiêu thấp kém. + Chương 3 : Một số khuyến nghị và giải pháp so với thực trạngđó và triển khai yếu tố quy đổi việc làm của người lao động nôngthôn. < Slide > – Phát triển nông nghiệp hàng hoá. Để tăng trưởng nông nghiệp sản phẩm & hàng hóa có hiệu quảvà hiệu suất lao động cao, giải pháp không phải là xóa bỏ kinh tế tài chính hộ nông dân, tăng trưởng trang trại mà là tổ chức triển khai hợp tác xã kiểu mới có chế biến và buôn bánchung để lan rộng ra quy mô sản xuất, thực thi thương nghiệp công minh. Hiện nay, đang thiếu một mạng lưới hệ thống dịch vụ trợ giúp cho nông dân thiết kế xây dựng những hợp tác xãkiểu mới, theo từng ngành hàng, từ việc kiến thiết xây dựng những tổ hợp tác như thể một trườnghọc để tiến lên hợp tác xã. Đây là giải pháp cơ bản để liên tục tăng trưởng kinh tế tài chính giađình nông dân mở màn từ nghị quyết X, chuyển hộ nông dân lên thành nông trại giađình như ở những nước tiên tiến và phát triển. Việc chuyển nông dân ra thành thị và khu côngnghiệp cần phải có một chương trình như chương trình kinh tế tài chính mới trước kia, cóquy hoạch, có đào tạo và giảng dạy trong một chương trình tăng trưởng vốn con người. – Việc nghe theo lời khuyên của những nước tăng trưởng thị trường ruộng đất đã dẫn đếnđầu cơ khiến giá bất động sản lên cao một cách giả tạo. Ngay ở những nước có sở hữuđất tư nhân, nhà nước vẫn trấn áp việc sử dụng đất một cách ngặt nghèo. Một chínhsách ruộng đất đúng đắn thiết yếu cho việc thôi thúc việc chuyển lao động nôngthôn ra thành thị, bảo vệ và tăng trưởng đất nông nghiệp, tương hỗ cho việc phát triểnnông nghiệp và nông thôn. – Bảo hiểm nông nghiệp : – Gần đây, ý niệm đô thị có tác động ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng nông thôn. Chiến lượcđô thị hóa tập trung chuyên sâu dẫn đến việc thôi thúc tăng trưởng những siêu đô thị, hạn chế việcphát triển nông nghiệp và gây khó khăn vất vả cho việc nông thôn và nông nghiệp, đồngthời góp vốn đầu tư hạ tầng ( hầu hết về giao thông vận tải ) quá tập trung chuyên sâu vào đô thị. Do đó, muốn thôi thúc tăng trưởng nông thôn, phải kiến thiết xây dựng một mạng lưới hệ thống những đô thị vừa vànhỏ trên khắp quốc gia. – Cần quy hoạch việc tăng trưởng đô thị và nông thôn một cách đồng nhất. Ở những nướcđang thiết kế xây dựng những quy hoạch đô thị – vùng gắn những đô thị với tăng trưởng nông thôn. Nông thôn còn thiếu mạng lưới phúc lợi xã hội, trong khi thu nhập tương đối giảmnhanh. Để bảo vệ tăng trưởng vững chắc, cần xử lý yếu tố một cách tổng lực, có một kế hoạch phòng chống thiên tai, dịch bệnh và rủi ro đáng tiếc thị trường đi đôi vớiviệc thiết kế xây dựng một chính sách bảo hiểm. – Việc kiến thiết xây dựng mạng lưới hệ thống phúc lợi xã hội phải gắn liền với hoạt động giải trí tương hỗ, vớicác tổ chức triển khai nông dân và có sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồngnhân dân thì mới hiệu suất cao. Các công ty bảo hiểm không dám bảo hiểm nôngnghiệp vì sợ lỗ. – Cần có sự tham gia của tổng thể những bộ : để xử lý những yếu tố trên, cần có một hệthống giải pháp tăng trưởng nông thôn có hiệu lực hiện hành. Trước hết, Nhà nước phải cóchính sách tăng trưởng nông thôn tổng lực, không phải chỉ tập trung chuyên sâu vào nôngnghiệp. Việc tăng trưởng nông thôn là việc làm của hầu hết những bộ chứ không phảichỉ riêng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Chúng ta đã xây dựng HộiKhoa học tăng trưởng nông thôn để kêu gọi lực lượng quần chúng giúp Nhà nướcvà doanh nghiệp thực thi việc làm này. Thứ hai, Nhà nước phải tương hỗ việc tăng