Vì đâu giá nhân công Việt Nam quá bèo?
BizLIVE –
Giá lương bình quân của lao động Việt Nam chỉ 01 USD/giờ, kém xa các quốc gia khác như Philippine là 2,1 USD/giờ, Trung Quốc là 2,5 USD/giờ.
Nhiều thành tựu trong đổi mới nhưng giá nhân công quá rẻ
Trong bài tham luận “Cập nhật tình hình phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam và triển vọng” tại Hội nghị CFO thế giới lần thứ 48, Giáo sư Nguyễn Thiện Nhân, Bí thư Thành uỷ TP.HCM, cho biết Việt Nam đã có những thành tựu trong tăng trưởng kinh tế, nhưng vẫn có nhiều vấn đề cần phải cải thiện gấp nếu không sẽ bị bỏ quá xa so với các nước trong khu vực.
Bạn đang đọc: Vì đâu giá nhân công Việt Nam quá bèo?
Trong 32 năm qua đã có nhiều động lực cho tăng trưởng kinh tế tài chính Việt Nam, đó là liên tục cải cách và thay đổi thể chế ; Chính trị – xã hội không thay đổi ; Lực lượng lao động dồi dào ; Lao động có kinh nghiệm tay nghề ngày càng tăng ; Giá nhân công rẻ ; Kim ngạch xuất khẩu cao ; Đóng góp của khu vực FDI ngày càng tăng .
Kể từ năm 1975 đến nay, Việt Nam đã trải qua 13 cột mốc cải cách thể chế quan trọng : năm 1999 phát hành luật doanh nghiệp, năm 2000 ký kết Hiệp định thương mại song phương với Mỹ, năm 2006 gia nhập WTO, năm 2008 trở thành nước có thu nhập trung bình thấp, năm năm ngoái hoàn thành xong ký kết FTA với châu Âu, năm 2018 trở thành thành viên của CPTTP …
Việt Nam là một nước có nền chính trị và xã hội không thay đổi, sự phân công trách nhiệm của những cấp chính quyền sở tại ngày càng rõ ràng hơn, môi trường tự nhiên thao tác trong những cơ quan nhà nước ngày càng minh bạch và hiệu suất cao hơn khi có chương trình bỏ phiếu nhìn nhận tin tưởng từ Quốc hội kể từ năm 2013 .
Hiện Việt Nam là đối tác chiến lược của hơn 15 vương quốc như Nga, Trung Quốc, Vương Quốc của nụ cười, Ý, Nước Hàn cũng như là đối tác chiến lược tổng lực của 10 vương quốc khác giống Úc, Mỹ, Ukraine, Đan Mạch …
Việt Nam có lợi thế rất lớn về nguồn lao động trẻ, dồi dào, được gọi là ” dân số vàng ” và được cho là lợi thế hút vốn góp vốn đầu tư quốc tế. Trong 30 năm qua, trung bình mỗi năm Việt Nam có thêm 01 triệu lao động mới và liên tục duy trì đến năm 2035 .
Năm 2017, dân số Việt Nam là 93,7 triệu người, năm 2020 là 96,5 triệu người và đến năm 2035 tăng lên 110 triệu người. Lực lượng dân số trong độ tuổi lao động luôn chiếm 50-65 % .

Lực lượng lao động Việt Nam chiếm 60 % dân số .
Trình độ lao động được giảng dạy ngày càng tăng. Nếu như năm 1996 tỷ suất lao động được huấn luyện và đào tạo chỉ chiếm 12 %, đến năm 2017 đã tăng lên 50 %, tương ứng 27,7 triệu người, tỷ suất này liên tục sẽ tăng lên vào năm 2020 là 70 % để phân phối nguồn lực cho ngành công nghệ cao .
Dù chất lượng nguồn nhân lực ngày càng tốt hơn nhưng giá nhân công lại rất thấp. Năm 2012, giá lao động trung bình mỗi giờ tại Việt Nam chỉ có 01 USD / giờ, thấp hơn cả Philippine là 2,1 USD / giờ, Trung Quốc là 2,5 USD / giờ, Đài Loan là 9,5 USD / giờ, kém xa Nước Hàn là 20 USD / giờ, Nước Singapore là 24 USD / giờ, Mỹ là 35 USD / giờ .

giá thành nhân công của Việt Nam so với một số ít vương quốc khác .
Từ năm 2013 – 2020, mỗi năm những trường ĐH và cao đẳng cung ứng cho thị trường lao động 400.000 – 500.000 cử nhân, điều này mới chỉ xử lý được 14 % lao động có trình độ ĐH, cao đẳng .
Một động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế tài chính của Việt Nam là xuất khẩu tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ đã thôi thúc sản xuất trong nước. Quy mô tăng xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng 39 lần trong 22 năm, từ mức 5,4 tỷ USD năm 1995 lên mức 214 tỷ USD năm 2017 .
Có thể thấy qua những mốc quan trọng khi Việt Nam nối lại quan hệ thông thường với Mỹ, xuất khẩu tăng can đảm và mạnh mẽ từ mức 20 tỷ USD năm 2003 lên mức 48,6 tỷ USD năm 2007 .
Năm 2007 cũng ghi lại mốc Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới ( WTO ), lan rộng ra quan hệ kế hoạch từ 3 nước lên 25 nước, đẩy xuất khẩu tăng vọt từ 48,6 tỷ USD năm 2007 lên 214 tỷ USD năm 2017 .

Cơ cấu mẫu sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2025 .
Trong 214 tỷ USD xuất khẩu, những loại sản phẩm xuất khẩu mạnh nhất là loại sản phẩm công nghiệp như : điện thoại thông minh, linh phụ kiện, máy công cụ, may mặc, da giày … đạt 153 tỷ USD ( chiếm 71,5 % ). Tiếp đến là mẫu sản phẩm nông nghiệp như : cafe, gạo, hạt điều, tiêu … đạt 23,4 tỷ USD ( chiếm 11 % ) .
Sự tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ của xuất nhập khẩu khiến Việt Nam là một trong những nền kinh tế tài chính mở nhất quốc tế khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2017 là 400 tỷ USD, gần gấp đôi GDP là 216 tỷ USD.
Cơ cấu xuất khẩu cũng dần đổi khác. Nếu 20 năm trước, Việt Nam là nước đa phần xuất khẩu những loại sản phẩm nông nghiệp chiếm trên 42 % và tài nguyên, đến năm năm nay, những mẫu sản phẩm xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam là loại sản phẩm công nghiệp chiếm gần 80 %, xuất khẩu tài nguyên tài nguyên như dầu và than chỉ còn 2,2 %, mẫu sản phẩm nông nghiệp giảm còn 17,8 %. Kế hoạch đến năm 2025, Việt Nam sẽ tăng cường xuất khẩu mẫu sản phẩm rau và trái cây làm loại sản phẩm nòng cốt .
Tuy nhiên, góp phần vào xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước giảm dần từ mức chiếm trên 90 % thời gian 20 năm trước thì năm năm nay giảm còn 30 %, đổi lại doanh nghiệp FDI chiếm phần nhiều kim ngạch xuất khẩu tới 70 % .
Trong 30 năm từ 1988 – 2017, nguồn vốn góp vốn đầu tư trực tiếp quốc tế ( FDI ) vào Việt Nam ngày càng tăng can đảm và mạnh mẽ. Đặc biệt, nguồn vốn FDI ĐK tăng đột biến vào năm 2008 tới 71,7 tỷ USD và năm 2017 cũng lên tới 35,9 tỷ USD.
Tỷ lệ giải ngân cho vay vốn FDI quá trình 1995 – 2005 trung bình đạt 3 tỷ USD / năm. Những năm tiếp theo 2008 – 2015 tăng lên 11,5 tỷ USD / năm và trong 02 năm gần đây 2016 – 2017 tăng lên 16,5 tỷ USD giải ngân cho vay / năm ( chiếm tỷ suất 50-60 % vốn FDI ĐK ) .

Vốn FDI từ năm 1988 – 2017 .
Luỹ kế tổng vốn góp vốn đầu tư FDI so với những dự án Bất Động Sản vẫn hoạt động giải trí đến 31/12/2017 khoảng chừng 318 tỷ USD. Trong đó, đứng đầu là ngành công nghiệp chế biến – sản xuất chiếm 58,4 % ; thứ hai là gas – khí đốt chiếm 6,5 % ; thứ ba là bất động sản chiếm 16,7 % ; thứ tư là kiến thiết xây dựng 3,8 % ; tiếp đến là những nghành khác : lưu trú và dịch vụ nhà hàng chiếm 3,4 %, thương mại bán buôn bán lẻ 1,9 %, thông tin truyền thông online 1,5 %, giao thông vận tải và logistics 1,1 %, nông lâm nghiệp 1 % …
Công nghệ sản xuất của doanh nghiệp quá lạc hậu
Đề cập đến ba điểm yếu, Giáo sư Nguyễn Thiện Nhân cho rằng nếu không kịp thời thay thế sửa chữa Việt Nam sẽ bị những nước trong khu vực bỏ xa .
Thứ nhất, hiệu suất lao động của người Việt quá thấp, kém Nước Singapore tới 15 lần, kém Nhật Bản 11 lần, kém Malaysia 05 lần và kém Xứ sở nụ cười Thái Lan 2,5 lần .
Nguyên nhân chính là công nghệ tiên tiến sản xuất của những doanh nghiệp đã quá lỗi thời vì không chịu góp vốn đầu tư khi có tới gần 60 % doanh nghiệp sử dụng công nghệ tiên tiến lỗi thời, 28 % sử dụng công nghệ tiên tiến trung bình, 10 % trên trung bình và chỉ có 2 % doanh nghiệp công nghệ tiên tiến tiên tiến và phát triển. Do đó, mẫu sản phẩm của những doanh nghiệp có giá trị thấp .

Chuỗi sản xuất
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng không biết tạo giá trị ngày càng tăng cho mẫu sản phẩm khi nhiều doanh nghiệp chỉ dừng lại ở chuỗi thứ 3 là sản xuất loại sản phẩm ( production ) trong chuỗi sản xuất kinh doanh thương mại. Không chú tâm đến chuỗi thứ 4 rất quan trọng là phân phối mẫu sản phẩm ( distribution ), do đó nhờ vào vào kênh phân phối của người khác, không dành tâm sức cho tên thương hiệu, marketing nên chuỗi giá trị bị méo mó .
Thứ hai, cơ sở hạ tầng vừa thiếu, yếu. Theo tiêu chuẩn thế giới thì cứ mỗi 1km2 dân cư phải có 10km hạ tầng gồm đường – trường – trạm. Năm 2005 tại TP.HCM con số này là 1,45km hạ tầng cho 01km2 dân cư, đến năm 2017 cũng chỉ tăng lên được 2km hạ tầng trên 01km2 dân cư.
Hiện tại không có đủ tiền để xây đường tại TP Hồ Chí Minh, với tăng trưởng nhỏ giọt trong 13 năm qua, phải đến 150 năm nữa TP Hồ Chí Minh mới có mạng lưới hệ thống hạ tầng đạt chuẩn quốc tế .
Thứ ba, đổi khác khí hậu ngày càng ảnh hưởng tác động đến những tỉnh duyên hải .
Do đó, những khuynh hướng tăng trưởng cho Việt Nam trong thời hạn tới, đó là, tăng trưởng giao thông vận tải trở thành nền tảng tương hỗ tăng trưởng ngành kinh tế tài chính khác ; Tái cấu trúc ngành nguồn năng lượng, trước hết tập trung chuyên sâu vào điện nhiệt ; Phát triển viễn thông văn minh nhất ( sắp tới TP.Hồ Chí Minh đi đầu trong việc ký kết với Bộ tin tức và Truyền thông về tăng trưởng 5G và điện thoại di động thế hệ thứ 5 sẽ được thử nghiệm vào năm 2019 ) ; Nâng cấp mạng lưới hệ thống nước thải, rác thải ; Tăng hiệu suất lao động trải qua công nghệ tiên tiến và hiện đại hoá quản trị ở cấp doanh nghiệp ; Tăng hiệu suất trải qua tương hỗ những mạng lưới hệ thống kinh tế tài chính và ngân hàng nhà nước .
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Người Lao Động

