Đi tìm cuốn lịch của người Việt cổ – Báo Công an Nhân dân điện tử

Chúng ta đang sử dụng hai loại lịch, đó là Âm lịch và Dương lịch của Nước Trung Hoa cổ đại được gia nhập vào nước ta trong thời kỳ Bắc thuộc, và Dương lịch Gregorius do người Pháp đưa vào từ thế kỷ XIX. Vậy, trước khi tiếp đón những cuốn lịch của quốc tế, người Việt đã có lịch riêng của mình chưa ?

Người Việt cổ xưa đã biết tính lịch

Các nhà khoa học cho rằng, ở thời tiền sử, vùng Khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam là TT phát sinh nền nông nghiệp trồng trọt vào loại sớm của trái đất. Mà việc trồng trọt khi nào cũng yên cầu phải tụ hội nhiều yếu tố khác nhau, trong đó yếu tố tự nhiên đóng vai trò quan trọng số 1. Từ đó, nhà nông đã đúc rút phải : Trông trời, trông đất, trông mây / Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm ( Ca dao ). Cấy trồng ắt phải hợp thời vụ, tục ngữ có câu : Làm ruộng phải thì, đi buôn phải chuyến, hay : Hớt hải không bằng phải thì. Chúng ta hoàn toàn có thể tin chắc rằng, người Việt cổ đã biết cách tính lịch để làm mùa. Bản báo cáo của Lưu An gửi cho vua Hán ghi trong sách “ Tiền Hán thư ” cũng chứng minh và khẳng định điều đó .

Các giả thuyết chưa đủ thuyết phục

GS. Hoàng Xuân Hãn suy đoán : “ Nước Văn Lang chắc đã dùng năm 12 tháng, tháng lần lượt 29, 30 ngày, cũng không hẳn là vô lý. Tuy ở vùng nhiệt đới gió mùa, khí nóng lạnh không đến cực để làm giới cận cho thời tiết, nhưng gió mùa, nước lũ khá điều hòa, cũng đủ gợi kỳ hạn của năm ” ( Lịch và lịch Việt Nam, trang 54 ) .
Và, bài ca dao : Mồng một lưỡi trai / Mồng hai lá lúa … bật mý : lịch xưa tính ngày có trăng non làm đầu tháng, chứ không giống Âm-Dương lịch hiện hành, pháp luật đầu tháng là ngày không trăng. Ở Mường Bi ( huyện Tân Lạc, Hòa Bình ) có bài ca dao tựa như, tương thích với cuốn lịch truyền thống của họ, gọi là Sách Đoi ( tiếng Mường đọc là Khách Đoi ), hay còn gọi là lịch Tre .

Lần tìm dấu tích và nhận định

Cuốn lịch Mường được khắc đầy đủ trên 12 thẻ tre tương ứng với 12 tháng. Trên đó ghi các ký hiệu ngày, tháng và các hiện tượng tự nhiên như: ngày mưa, ngày bão; các hiện tượng xã hội như: ngày có khách, ngày đi kiếm cá, ngày săn thú. Một ngày chia thành 16 giờ, mỗi giờ tương ứng với 1,5 giờ Dương lịch. Người ta không xác định giờ bằng công cụ nhân tạo mà xác định rất linh hoạt thông qua các hiện tượng tự nhiên như: gà gáy, mặt trời mọc, tang tảng sáng…  Điều lý thú là ngày không phải bắt đầu từ nửa đêm, bình minh hay hoàng hôn như các loại lịch khác trên thế giới mà là thời điểm trước bình minh: gà gáy.

Tháng tương thích với tuần trăng, nên có tháng đủ 30 ngày và tháng thiếu 29 ngày. Một tháng chia thành 3 tuần gọi là tuần Cây, tuần Lôồng và tuần Cối tương ứng với Thượng tuần, Trung tuần và Hạ tuần trong lịch Âm-Dương phản ánh chu kỳ luân hồi chợ phiên truyền thống lịch sử. Mỗi tuần có 10 ngày, nếu tháng thiếu, tuần cuối có 9 ngày. Năm thường có 12 tháng, năm nhuận có thêm 1 tháng. Từ “ Lôồng ” được bảo lưu và biến âm thành từ “ Mồng ” dùng để chỉ 10 ngày đầu tháng trong lịch Âm-Dương ngày này của người Việt .
Hiện nay, người Mường tính lịch khá đơn thuần. Họ sử dụng lịch Âm-Dương của Nhà nước phát hành hàng năm để so sánh tìm ra ngày, tháng lịch Mường. Nguyên tắc so sánh là ngày lui, tháng tới, nghĩa là ngày mồng một lịch Mường tương ứng với ngày mồng hai lịch Âm-Dương, nhưng tháng giêng Mường lại trước lịch Âm-Dương. Người Mường vùng Hòa Bình lấy đầu năm trùng với tháng mười lịch ta, còn vùng Bất Bạt, Ba Vì lại lấy tháng đầu năm trùng với tháng mười một lịch ta. Nếu tháng lịch Âm-Dương thiếu, đủ hay nhuận thì tháng Mường tương ứng cũng tính đủ, thiếu và nhuận .
Cách tính lịch Tre truyền thống đã bị mai một, nhưng chắc như đinh trước khi có lịch Âm-Dương, người Mường đã có cách tính riêng của mình. Có lẽ họ đã nhìn trăng đầu tháng để kiểm soát và điều chỉnh tháng đủ hay thiếu, điều này đã từng xảy ra trong lịch Arập và Do Thái cổ đại. Về quy tắc nhuận, họ đã địa thế căn cứ vào chu kỳ luân hồi mặt trăng giao hội với sao Tua Rua ( Pleiades thuộc chòm Tuarus – Kim Ngưu ) mà họ gọi là sao Đoi để tính. Những năm thường, ngày rằm tháng giêng lịch Mường ( tháng 10 Âm-Dương lịch ) trăng hoạt động vào khoảng chừng vị trí sao Tua Rua, nhưng năm nào đến rằm tháng giêng trăng còn cách xa sao Tua Rua thì tháng ấy là tháng nhuận của năm trước và ngày rằm tháng sau đó sau trăng mới đi vào sao Tua Rua .

Bóc tách lớp bụi mờ thời gian, nhận thấy trong lịch Tre của người Mường có những điểm gạch nối với những “mảnh vỡ” của cuốn lịch Việt cổ còn lại trong ca dao, tục ngữ. Đó là, đầu tháng là ngày có trăng non, cách gọi 10 ngày đầu tháng là “Mồng”. Hơn nữa, các nhà khoa học trong và ngoài nước khi nghiên cứu về các tộc người ở Việt Nam đều khẳng định rằng, trước Công nguyên ở nước ta đã từng tồn tại một cộng đồng Việt – Mường chung và chỉ đến thiên niên kỷ thứ nhất mới dần dần có sự phân hóa thành người Kinh sống chủ yếu ở miền châu thổ và người Mường chủ yếu ở vùng thung lũng, đồi trước núi. Như vậy, nếu lịch Tre có từ trước khi cộng đồng chung Việt – Mường chia tách, cũng có nghĩa nó là tài sản chung mà tổ tiên người Việt, người Mường đã sáng tạo nên.

Xét về mặt lịch pháp, lịch Tre là một loại lịch sơ khai, dựa vào việc quan sát trăng, sao trực tiếp để kiểm soát và điều chỉnh lịch. So với lịch Âm-Dương Trung Quốc, lịch Tre chưa có một mạng lưới hệ thống đo lường và thống kê ngặt nghèo dựa vào những thuật toán và không hề giám sát trước cho những năm. Bởi vậy, nó không hề phát sinh sau khi mà người ta đảm nhiệm lịch Trung Quốc. Hay nói một cách khác, người ta không phát minh sáng tạo ra cái lỗi thời hơn những gì cùng loại hiện có .
Vậy lịch Tre chính là cuốn lịch của hội đồng chung Việt – Mường, sau khi khối dân cư này chia tách, người Việt đã tiếp thu văn hóa truyền thống Nước Trung Hoa can đảm và mạnh mẽ, dấu tích cuốn lịch xưa cũng chỉ còn lại trong ca dao, tục ngữ. Người Mường với đặc trưng cư trú của mình, đã có điều kiện kèm theo để bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống truyền thống .
Khi chính quyền sở tại phong kiến TW thống nhất sử dụng lịch Âm-Dương thì người Mường đã dung hòa giữa lịch Nhà nước phát hành và lịch Tre một cách tối ưu, vừa bảo lưu được đặc trưng truyền thống vừa tương thích với lịch chính thống. Đó là, việc đặt ra nguyên tắc ngày lui, tháng tới, làm cho lịch Tre trở nên tiện lợi hơn, việc đo lường và thống kê không cần quan sát trăng, sao trực tiếp nữa. Nhưng chính quy trình này đã làm thất truyền cách tính lịch nguyên thủy, biến lịch Tre thành một thứ lịch “ ăn theo ”, phụ thuộc vào vào lịch Âm-Dương. Đây là một phát minh sáng tạo của người Mường trong quy trình tiếp đón những yếu tố văn hóa truyền thống bên ngoài