Di dân Việt Nam sau 1975 – Wikipedia tiếng Việt
Di dân Việt Nam sau năm 1975 là một sự kiện trong lịch sử Việt Nam hiện đại, là hệ quả của cuộc Chiến tranh Việt Nam. Những người di dân này rời Việt Nam và đã tạo ra nhiều cộng đồng người Việt hải ngoại ở các nước họ đến, đặc biệt là Mỹ và các nước tư bản. Hầu hết người Việt di dân sau năm 1975 vì những lý do kinh tế lẫn chính trị[cần dẫn nguồn].
Cuộc di dân này hoàn toàn có thể được phân thành ba quy trình tiến độ với ba khái niệm : ” tị nạn ” sau cuộc chiến tranh là dòng người đi ra khỏi chủ quyền lãnh thổ Nước Ta xung quanh trước và sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 ; ” vượt biên giới ” là dòng người liên tục rời Nước Ta phạm pháp bằng đường thủy hoặc đường đi bộ trong những năm sau đó ; và dòng người rời Nước Ta theo Chương trình Ra đi có Trật tự ( chỉ dành cho người đến Hoa Kỳ ) .Dù không có định nghĩa rõ ràng nào về khoảng chừng thời hạn của cuộc di dân sau 1975 nhưng hoàn toàn có thể nói, kể từ sau mốc sự kiện thông thường hóa quan hệ ngoại giao Hoa Kỳ – Nước Ta ( 1995 ) và khi Chương trình Ra đi có Trật tự kết thúc thì việc người Nước Ta rời nước này đến sinh sống tại Hoa Kỳ hay một vương quốc nào khác trên quốc tế từ đây được coi là vì lí do kinh tế tài chính ( ví dụ điển hình xuất khẩu lao động ) hoặc là nhập cư đơn thuần. Về sau cũng có những trường hợp người rời Nước Ta vì lí do chính trị nhưng thường không được xem là di dân Nước Ta sau năm 1975 .
Nội Dung Chính
Di dân Nước Ta ra hải ngoại[sửa|sửa mã nguồn]
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, chiến tranh Việt Nam chấm dứt. Sau đó là hai đợt di dân lớn từ Việt Nam đến Hoa Kỳ và các nước phương Tây. Hơn 125.000 người Việt Nam đến Hoa Kỳ vào cuối xuân 1975 vì sợ chính quyền mới trả thù[cần dẫn nguồn]. Ngoài ra khoảng 20.000 người đến Châu Âu và các nước khác[cần dẫn nguồn].
Bạn đang đọc: Di dân Việt Nam sau 1975 – Wikipedia tiếng Việt
Năm 1977 khởi đầu đợt thứ hai khi trào lưu vượt biển tỵ nạn xảy ra. Làn sóng di dân này lê dài cho đến giữa thập niên 1980 một phần vì yếu tố kinh tế tài chính khó khăn vất vả tại Nước Ta do chủ trương của cơ quan chính phủ và những thông tin bên ngoài nước .
Số liệu người tỵ nạn Nước Ta từ sau ngày 30 tháng 4/1975[sửa|sửa mã nguồn]
1. Tháng 6-1975 đến 1979: 311.400. Ðường bộ có 14.600 qua ngả Campuchia, Thái Lan. Tổng cộng 326.000.[cần dẫn nguồn]
2. 1980 đến 1984: 242.000 thuyền nhân và 11.000 tỵ nạn đường bộ. Tổng cộng đợt 2 là 253.100.[cần dẫn nguồn]
3. 1985 đến 1989: 186.500 thuyền nhân và đường bộ 10.500. Tổng cộng 197.000.[cần dẫn nguồn]
4. 1990 đến 1995: 56.400 thuyền nhân và đường bộ 6.700. Tổng cộng 63.100.[cần dẫn nguồn]
Cộng chung 4 đợt ghi nhận được 796.300 thuyền nhân tỵ nạn và 42.900 đi đường bộ. Tổng kết từ cuối năm 1975 đến năm 1995 trải qua 20 năm đã có 839.200 người dân Việt rời bỏ Việt Nam đến các trại tỵ nạn. Con số những người chết trong biển Ðông và núi rừng biên giới Thái Lan – Campuchia là các số thống kê không bao giờ ghi lại được. Con số ước lượng là từ 400.000 đến 500.000 người.[cần dẫn nguồn]
Người định cư tại những trại tỵ nạn[sửa|sửa mã nguồn]
Tổng cộng thống kê ghi được trong suốt 20 năm từ 1975 đến 1995 các trại tỵ nạn Ðông Nam Á đã tiếp nhận và chuyển tiếp định cư các con số như sau[cần dẫn nguồn]:
- Malaysia 254.000.
- Hồng Kông 195.000.
- Thái Lan 160.200.
- Indonesia 121.700.
- Philippines 51.700.
- Singapore 32.500.
- Nhật Bản 11.100.
- Macao 7.100.
- Hàn Quốc 1.400
- Các nơi khác 3.200.
Tổng cộng cũng là con số 839.200 người của 4 đợt kể trên.
Xem thêm: Đồng Nai: Cận cảnh trang trại nuôi bò “khủng”, mới lấy phân thôi mà ông nông dân này lời 1 tỷ/năm
Ðịnh cư tại những vương quốc[sửa|sửa mã nguồn]
- Hoa Kỳ 424.000.
- Úc 111.000.
- Canada 103.000.
- Pháp 27.100.
- Anh 19.300.
- Tây Ðức 16.800.
- Hà Lan 7.600.
- Nhật 6.500.
- Thụy Sĩ 6.200.
- Na Uy 6.100.
- Thụy Ðiển 6.000.
- New Zealand 4.900.
- Ðan Mạch 4.700.
- Vương quốc Bỉ 2.000.
- Phần Lan 1.900
- Các nước khác 7.100.
Tổng cộng tính đến 1995 quốc tế đã nhận tổng số 754.800 tỵ nạn Việt Nam[cần dẫn nguồn]
Chương trình Ra đi có trật tự[sửa|sửa mã nguồn]
Kể từ 1990 đến nay, các chương trình đoàn tụ, đón tù cải tạo, con lai, tái định cư, tỵ nạn tình nguyện trở về đã đưa vào Mỹ và nhiều nước phương Tây các đợt di dân mới. Những người này không qua các trại tỵ nạn Ðông Nam Á. Riêng tại Hoa Kỳ, con số này tính đến 2005 lên đến 700.000 người và cộng với đợt di tản 1975 (130.000) và thuyền nhân (424.600).
Theo thống kê dân số năm 2000[cần dẫn nguồn], hiện đang có 1.223.736 người Mỹ gốc Việt. Họ là người gốc Á lớn thứ năm sau các nhóm di dân Trung Hoa, Philippines, Ấn Ðộ và Hàn Quốc.
Xuất khẩu lao động[sửa|sửa mã nguồn]
Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Nông Thôn






