5 thách thức lớn cho phát triển công nghiệp Việt Nam
Theo Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh, tới nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những vương quốc có nền công nghiệp thuộc vào nhóm những vương quốc có năng lượng cạnh tranh đối đầu toàn thế giới ở mức trung bình cao .
Đăc biệt, Việt Nam đã hình thành được 1 số ít ngành công nghiệp nòng cốt của nền kinh tế tài chính như khai thác, chế biến dầu khí ; điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin ; luyện kim, sắt thép ; dệt may, da giày …, tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng dài hạn, cũng như thôi thúc quy trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa quốc gia .
Các sản phẩm công nghiệp của Việt Nam có sức cạnh tranh thấp, khả năng tham gia vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu hạn chế. Ảnh minh họa.
Tuy nhiên, Bộ trưởng Bộ Công Thương cũng chỉ rõ 5 thách thức, khó khăn lớn đặt ra trong quá trình phát triển công nghiệp của Việt Nam trong thời gian tới. Trong đó, thách thức đầu tiên và lớn nhất là sản xuất công nghiệp nội tại nhìn chung vẫn đang tập trung chủ yếu vào các hoạt động sản xuất ở công đoạn cuối cùng, đem lại giá trị gia tăng thấp.
Bạn đang đọc: 5 thách thức lớn cho phát triển công nghiệp Việt Nam
“ Công nghiệp còn có sự tăng trưởng thiếu đồng điệu, thiếu liên kết giữa những mắt xích trong nội ngành và giữa những ngành công nghiệp dẫn tới sự tăng trưởng thiếu tính vững chắc ”, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh chỉ rõ .
Khó khăn thử thách tiếp theo được Bộ trưởng Trần Tuấn Anh đưa ra chính là động lực trong sản xuất và xuất khẩu mẫu sản phẩm công nghiệp. Bởi những mẫu sản phẩm công nghiệp của Việt Nam lúc bấy giờ vẫn đang đa phần được thôi thúc bởi khu vực FDI, chiếm xê dịch 70 % tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước .
“Đây là hệ quả của mối liên kết yếu giữa doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp trong nước trong chuỗi cung ứng, cho thấy năng lực cạnh tranh còn hạn chế của các doanh nghiệp trong nước để có thể tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu”, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh đề cập.
Phân tích sâu hơn về điều này, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho rằng, thực ra đây là bộc lộ của tăng trưởng hiệu suất thấp và năng lực cạnh tranh đối đầu yếu của khu vực kinh tế tài chính trong nước. Các doanh nghiệp trong nước đa số quy mô nhỏ và siêu nhỏ ( chiếm khoảng chừng 98 % tổng số doanh nghiệp đang hoạt động giải trí trong nền kinh tế tài chính ), có trình độ công nghệ tiên tiến không cao, năng lượng kinh tế tài chính hạn chế, năng lực tích tụ và góp vốn đầu tư thay đổi công nghệ tiên tiến thấp, hạn chế về nguồn nhân lực chất lượng cao …
Do vậy đã dẫn đến việc những loại sản phẩm công nghiệp của Việt Nam có sức cạnh tranh đối đầu thấp, năng lực tham gia vào chuỗi giá trị khu vực và toàn thế giới hạn chế. Các doanh nghiệp quy mô vừa và lớn của Việt Nam chiếm tỷ trọng rất nhỏ ( khoảng chừng 2 % ), chưa thực sự đóng vai trò dẫn dắt cho những doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ trong việc link chuỗi giá trị khu vực và toàn thế giới .
Tính bền vững trong phát triển sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt trong bối cảnh thế giới ngày càng có những diễn biến phức tạp hơn, nhanh hơn và khó đoán định hơn trước. Đây chính là khó khăn thách thức thứ tư mà người đứng đầu ngành Công Thương đề cập. Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng với độ mở của nền kinh tế cao hơn, đồng nghĩa với việc chịu tác động trực tiếp hơn, nhanh hơn và mạnh mẽ hơn khi tình hình thế giới gặp biến động.
Trong khi đó, Việt Nam sẽ không chỉ chịu tác động ảnh hưởng từ phía cầu ( thị trường đầu ra ), mà còn cả từ phía cung ( là kênh đáp ứng nguyên vật liệu ship hàng sản xuất trong nước ). “ Tác động của dịch Covid-19 trong năm 2020 vừa mới qua là một dẫn chứng nổi bật cho tác động ảnh hưởng đa chiều này so với nền kinh tế tài chính Việt Nam, khi Việt Nam cùng lúc gặp cả khó khăn vất vả, đứt gãy về thị trường đầu ra cho xuất khẩu, vừa bị đứt gãy nguồn cung ship hàng cho sản xuất trong nước ”, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh chỉ rõ .
Thách thức thứ tư được Bộ trưởng Trần Tuấn Anh quan tâm là ngân sách thương mại của Việt Nam vẫn đang còn ở mức cao, cao hơn mức trung bình của ASEAN về ngân sách logistics, ngân sách tuân thủ những pháp luật tại cửa khẩu và sau khi thông quan. Đây là một trong những nguyên do trực tiếp tác động ảnh hưởng tới ngân sách giá tiền của mẫu sản phẩm và tác động ảnh hưởng tới sức cạnh tranh đối đầu của mẫu sản phẩm sản phẩm & hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam .
“ Khó khăn quan trọng tiếp theo cần phải kể đến là việc tổ chức triển khai, phân chia khoảng trống tăng trưởng những ngành công nghiệp chưa khai thác tốt lợi thế cạnh tranh đối đầu của những vùng. Việt Nam chưa hình thành được nhiều cụm ngành công nghiệp chuyên môn hóa để link tăng trưởng theo chuỗi, cũng như nâng cao năng lực tham gia của những doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi đáp ứng và chuỗi giá trị toàn thế giới ”, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh chỉ rõ. / .
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Doanh Nghiệp






