Cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn

Giai đoạn năm nay – 2020, giá trị sản xuất nông nghiệp trung bình của tỉnh tăng 2,5 %, đạt tiềm năng Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đề ra, trong đó trồng trọt tăng 1,3 %, chăn nuôi tăng 1,6 %, thủy hải sản tăng 7 % ; đến hết năm 2019 đã hoàn thành xong trách nhiệm thiết kế xây dựng nông thôn mới trên khoanh vùng phạm vi toàn tỉnh, vượt 3 năm so với tiềm năng Đại hội XIX. Có được hiệu quả đó, một trong những nguyên do quan trọng đó là tỉnh đã phát hành và tiến hành tích cực những chính sách, chính sách, từ đó thôi thúc phát triển nông nghiệp, nông thôn .

Là một trong những địa phương có truyền thống lịch sử phát triển nông nghiệp, những năm qua, huyện Hưng Hà phát hành nhiều cơ chế tạo điều kiện kèm theo thuận tiện cho người dân, doanh nghiệp trong quy trình phát triển sản xuất .

Ông Phạm Văn Bình, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện cho biết: Trong quá trình xây dựng các đề án sản xuất hàng năm, Phòng luôn tham mưu cho huyện triển khai lồng ghép với các cơ chế, chính sách của tỉnh và của huyện, từ đó khuyến khích các địa phương tích cực đưa cơ giới hóa vào sản xuất cũng như mở rộng diện tích gieo trồng, nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi. Điển hình như cơ chế hỗ trợ phát triển diện tích sử dụng máy cấy với quy mô tập trung từ 10ha trở lên; hỗ trợ kinh phí mua giống lúa năng suất, chất lượng cao gieo cấy tại các vùng tích tụ ruộng đất từ 3ha trở lên; hỗ trợ 50% giá giống ngô nếp, bí đỏ, bí xanh cho các mô hình trồng một loại cây tập trung từ 10ha trở lên trên đất lúa; hỗ trợ 10 triệu đồng/địa phương cho các xã, thị trấn… Cùng với đó, Hưng Hà còn cụ thể hóa bằng hệ thống văn bản từ các chủ trương, cơ chế, chính sách của trung ương và của tỉnh về chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, từ đó tạo cơ sở để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới ở địa phương. Chính vì thế, năm 2015 Hưng Hà đã trở thành huyện đầu tiên của tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới. Trong sản xuất nông nghiệp, hàng năm, cùng với việc duy trì ổn định diện tích cấy lúa, huyện còn tập trung sản xuất cây màu vụ xuân với diện tích trên 2.000ha, vụ hè xen giữa hai vụ lúa đạt từ 400 – 500ha, vụ đông đạt từ 60 – 65% diện tích đất canh tác, nhiều cánh đồng trồng cây vụ đông cho thu nhập cao hơn 150 triệu đồng/ha/vụ.

Để khuyến khích góp vốn đầu tư vào một số nghành nghề dịch vụ nông nghiệp, nông thôn trên địa phận, tỉnh đã phát hành nhiều chính sách, chính sách khuyến mại, tương hỗ như : khuyễn mãi thêm về đất đai, tương hỗ góp vốn đầu tư kiến thiết xây dựng cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm ; tương hỗ góp vốn đầu tư kiến thiết xây dựng cơ sở sản xuất giống ngao sinh sản ; tương hỗ đóng mới, tăng cấp tàu Giao hàng hoạt động giải trí khai thác món ăn hải sản ; tương hỗ mua máy, thiết bị Giao hàng sản xuất nông nghiệp ; tương hỗ thiết kế xây dựng cơ sở chế biến mẫu sản phẩm nông nghiệp, thủy hải sản ; hỗ trợ sản xuất cây vụ đông ; những chính sách, chính sách kêu gọi những nguồn lực kiến thiết xây dựng kiến trúc nông thôn mới và phát triển nông nghiệp, nông thôn …

Ngay sau khi các cơ chế, chính sách được ban hành, các cấp, ngành, địa phương đã tích cực tuyên truyền, phổ biến bằng nhiều hình thức như: triển khai bằng văn bản, tổ chức các hội nghi, đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin đến các nhà đầu tư trong và ngoài nước thông qua các hội nghị xúc tiến đầu tư, lồng ghép vào các lớp đào tạo, tập huấn, dạy nghề. 

Cùng với đó, các sở, ngành liên quan phối hợp ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình triển khai thực hiện; đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các cơ chế, chính sách cho phù hợp.

Từ năm năm ngoái đến nay, trên cơ sở những chính sách, chính sách đã phát hành, tỉnh đã triển khai tương hỗ mua bảo hiểm tàu cá, đóng mới, cải hoán tàu cá với kinh phí đầu tư hơn 4 tỷ đồng ; tương hỗ kiến thiết xây dựng cơ sở chế biến loại sản phẩm nông nghiệp, thủy hải sản với kinh phí đầu tư gần 13 tỷ đồng ; tương hỗ mua máy, thiết bị ship hàng sản xuất nông nghiệp với kinh phí đầu tư gần 32 tỷ đồng ; hỗ trợ sản xuất vụ đông với kinh phí đầu tư trung bình hàng năm hơn 10 tỷ đồng. Cùng với đó, quá trình 2018 – 2020, tỉnh còn kêu gọi nguồn lực của những cấp, những ngành, nhân dân và những thành phần kinh tế tài chính góp vốn đầu tư kiến thiết xây dựng kiến trúc nông thôn mới và phát triển nông nghiệp, nông thôn với tổng kinh phí đầu tư hơn 6.698 tỷ đồng, trong đó ngân sách TW 16,1 %, ngân sách tỉnh 27,07 %, ngân sách cấp huyện 14,05 %, ngân sách xã 18,44 %, nguồn vốn lồng ghép từ những dự án Bất Động Sản khác 3,66 %, nguồn vốn kêu gọi từ những doanh nghiệp 4,2 %, nguồn vốn tín dụng thanh toán 4,48 %, nguồn kêu gọi nhân dân góp phần 10,6 %, nguồn kêu gọi hợp pháp khác 1,4 % .Với đặc trưng là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển sản xuất nông nghiệp nên những chính sách, chính sách lôi cuốn góp vốn đầu tư vào nghành nông nghiệp, nông thôn là rất thiết yếu. Tuy nhiên, những chính sách, chính sách lúc bấy giờ không chỉ có thời hạn đến năm 2020 mà còn chưa đủ mạnh để lôi cuốn những doanh nghiệp có quy mô lớn, công nghệ tiên tiến tiên tiến và phát triển, giá trị ngày càng tăng cao góp vốn đầu tư vào nông nghiệp. Chính cho nên vì thế, vừa mới qua, Sở Kế hoạch và Đầu tư đã tham mưu thiết kế xây dựng chính sách, chính sách khuyến khích góp vốn đầu tư vào một số nghành nghề dịch vụ nông nghiệp, nông thôn trên địa phận tỉnh quy trình tiến độ 2021 – 2025 với nhiều tặng thêm góp vốn đầu tư được bổ trợ mới .Việc sửa đổi, bổ trợ kịp thời những chính sách, chính sách sẽ góp thêm phần tích cực thôi thúc nông nghiệp, nông thôn của tỉnh ngày càng phát triển, đặc biệt quan trọng là sẽ lôi cuốn nhiều hơn những doanh nghiệp có quy mô lớn, công nghệ tiên tiến tiên tiến và phát triển, giá trị ngày càng tăng cao góp vốn đầu tư vào Tỉnh Thái Bình .