Chương III. Các kỹ năng và kỹ thuật làm việc với trẻ em – Tài liệu text

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản không thiếu của tài liệu tại đây ( 462.55 KB, 90 trang )

Ý kiến của trẻ về những vấn đề cơ bản trong cuộc sống của mình–nguyên nhân vì

sao trẻ lại có những ý kiến đó và việc vận dụng những ý kiến đó cho chính bản

thân em và những người khác.

Những quyết định trẻ đã đưa ra trong cuộc sống của em –những nguyên nhân để

đưa ra những quyết định đó và sự vận dụng các quyết định trẻ đưa ra đối với bản

thân và đối với những người khác.

Ý định của trẻ – trẻ định hành động thế nào, nguyên nhân của các hành động đó.

Bối cảnh rộng hơn của tình trạng hiện tại của trẻ – ngoài trẻ ra thì còn ai bị ảnh

hưởng nữa, còn ai có thể tác động tới những gi đang xảy ra với trẻ.

1.3.

Các nguyên tắc thực hiện lắng nghe

Nói tối thiểu. Theo nguyên tắc này, nhân viên xã hội nên nói ít hơn thân chủ, chỉ

nói khi cần thiết. Ví dụ trong những trường hợp sau cần phải nói: khuyến khích trẻ

tiếp tục cuộc nói chuyện ; hỗ trợ trẻ trong việc diễn đạt (song tránh diễn đạt sai

lệch ý của em) ; trấn an trẻ ; đưa ra câu hỏi để cùng thảo luận với trẻ.

Tập trung khi lắng nghe. Để có thể tập trung lắng nghe thân chủ trong cả buổi tham

vấn đòi hỏi nhân viên xã hội cần tận tình với nghề. Có như vậy họ mới nghe chính

xác những nôi dung đã được đưa ra trong giao tiếp. Nhân viên xã hội sẽ không thể

lắng nghe thấu đáo nếu họ còn đang băn khoăn xem sẽ nấu gì cho bữa tối nay. Khi

mất tập trung, nhân viên xã hội có thể phải hỏi đi hỏi lại nhiều lần một nội dung

khiến thân chủ

Không cắt ngang. Mọi người đều cần có thời gian để trình bày chính xác những

suy nghĩ của mình và chuyển ý nghĩ thành lời nói và truyền đạt cho người khác.

Nhân viên xã hội phải quen với ‘sự im lặng’ để cho thân chủ có thời gian sắp xếp

những gì họ muốn nói. Im lặng không có nghĩa là thân chủ không có gì để nói mà

họ cần thêm thời gian để suy nghĩ trước khi nói.

Không đưa ra lời khuyên. Thân chủ là trẻ em cũng có năng lực để tự quyết định

Thân chủ chỉ thay đổi trong những suy nghĩ, cảm xúc và hành động của chính họ.

Một cán bộ mà bảo thân chủ phải làm gì cũng đồng nghĩa với việc thân chủ không

nhận bất cứ trách nhiệm nào về cuộc sống của chính họ như xác định vấn đề và

cách nhìn nhận của họ về vấn đề đó.

Đặt câu hỏi để kiểm tra lại thông tin nếu cảm thấy thông tin nhận được không rõ

ràng. Nhân viên xã hội cần phải nghe và ghi nhớ những gì đã được truyền tải, chỉ

hỏi lại khi thấy những thông tin trẻ đưa ra không phù hợp với nhau, hoặc lộn xộn

không rõ ý.

1.4.

Những trở ngại khi thực hiện kỹ năng lắng nghe với thân chủ là trẻ

em

Thân chủ đang có tâm trạng, nhất là trẻ em, ít khi nói với nhân viên xã hội một

cách rõ dàng và lôgic về những nội dung cần có.

Nhiều trẻ không nói hoặc nói rất ít vì trẻ em không phải lúc nào cũng muồn nói về

những gì xảy ra với các em.

Thân chủ nói thường rất khó hiểu vì các cách tể hiện, thiếu hiểu biết về ngữ pháp,

do ảnh hưởng cảm xúc không bết cách thể hiện hoặc không đủ từ ngữ để diễn đạt

những gì họ muốn nói.

Nhân viên xã hội sử dụng giấy bút ghi chép khiến thân chủ là trẻ em cảm thấy

không thoải mái và điều này làm hạn chế việc trao đổi hoặc mong muốn nói tiếp

của đối tượng.

2. Kỹ năng phản ánh

Kỹ năng phản ánh là kỹ năng nhân viên xã hội sử dụng ngôn ngữ của mình

và của thân chủ để diễn đạt lại nội dung, cảm xúc, ý nghĩa mà thân chủ đã thể hiện.

Như vậy, kỹ năng phản ánh chứng tỏ người nhân viên xã hội qua quá trình giao

tiếp đã: Nghe thấy và hiểu những thông điệp của đối tựơng.

Có ba loại phản ánh, đó là phản ánh nội dung, phản ánh cảm xúc và phản

ánh ý nghĩa.

2.1.

Phản ánh nội dung

Việc sử dụng kỹ năng này xảy ra khi người cán bộ xã hội muốn thể hiện

rằng mình đã lắng nghe nội dung thông tin được chuyển tải. Phản ánh nội dung là

phù hợp khi cần thiết phải khẳng định lại thông tin thân chủ đưa ra và khi cán bộ

muốn nhấn mạnh vào tầm quan trọng của thông tin đưa ra.

Ví dụ về phản ánh nội dung:

“Bố mẹ cháu đi làm cả ngày, về rất muộn và toàn không ăn cơm ở nhà. Cháu

với chị Hoa thường xuyên ăn cơm một mình với nhau”

Cán bộ XH phản ánh lại nội dung

“Bố mẹ cháu thường đi làm về muộn không ăn cơm ở nhà nên cháu ăn cơm

một mình với chị Hoa »

2.2.

Phản ánhcảm xúc.

Thể hiện rằng cán bộ đã nhận định và hiểu một cách chính xác các cảm xúc

mà thân chủ có với những nội dung, thông tin họ đưa ra.

Khi phản ánh cảm xúc của thân chủ các điểm sau cần được lưu ý:

Nêu chính xác tên của cảm xúc chủ đạo của đối tượng. Ví dụ Cán bộ xã hội nói

rằng “chị lo ngại về những gì xảy ra cho gia đình mình”

Đưa ra phản ánhvề cảm xúc gần với cảm xúc mà thân chủ trình bày. Ví dụ Thân

chủ: “Tôi muốn gia đình mình thành đạt, bây giờ có vẻ như mọi thứ đều thất bại và

tôi không thể làm gì khác được. Cán bộ: “Chị cảm thấy thất vọng và không làm gì

được”

Đảm bảo rằng ngôn ngữ cơ thể đồng nhất với ngôn ngữ nói

Thân chủ: “Tôi muốn gia đình mình thành đạt, bây giờ có vẻ như mọi thứ đều thất

bại và tôi không thể làm gì khác được ». Cán bộ: “Chị cảm thấy thất vọng và

không làm gì được” – xuống giọng, giọng rõ ràng, nhìn vào thân chủ, thể hiện sự

thấu hiểu và hỗ trợ.

Một điểm quan trọng là diễn tả phản ánh về cảm xúc một cách nhẹ nhàng,

linh hoạt và như câu hỏi tu từ để thân chủ có thể sãn sàng chia sẻ cảm xúc của

mình.

2.3.

Phản ánh ý nghĩa

Tất cả các giao tiếp giữa con người, loài vật và đồ vật, thể hiện ý nghĩa mà

một ngừơi muốn gắn vào giao tiếp ấy. Trong nhận xét, cán bộ xã hội có thể thử

xem mình đã nhận biết ý nghĩa của thông điệp một cách chính xác chưa.

Điều quan trọng khi phản ánh ý nghĩa thì cán bộ phải:

cân nhắc thận trọng ý nghĩa của những gì thân chủ tiết lộ

cân nhắc những từ ngữ mà mình sẽ dùng để chứng tỏ cho thân chủ thấylà

mình hiểu ý nghĩa những gì thân chủ nói.

Phản ánh ý nghĩ theo cách tận tình nhất để thân chủ thấy được cán bộ hiểu

những gì mình đã truyền đạt.

Ví dụ :

Thân chủ: “ Tôi thật sự không thể bấu víu vào ai khác. Họ hàng và hàng

xóm cũng có giúp nhưng họ cũng không có nhiều và không thể cho chúng tôi tiền.

tôi sợ và lơ lắng về những gì sắp xảy ra cho gia đình mình”

Cán bộ: “Chị lo lắng rằng không biết tương lai của mình và gia đình sẽ như

thế nào”

3. Kỹ năng tóm tắt

3.1.

Khái niệm tóm tắt

Tóm tắt bao gồm việc tập hợp các ý chính của câu chuyện. Tóm tắt là một

kỹ năng quan trọng trong giao tiếp xã hội và nó cho phép cán bộ xã hội:

Tập trung câu chuyện của thân chủ xung quanh những vấn đề chính

Giúp thân chủ thấy được những vấn đề mà họ đang phải đối mặt và xem họ

muốn tập trung giải quyết vấn đề nào.

Giúp thân chủ thấy được “bức tranh lớn” về những gì đang diễn ra trong

cuộc sống của mình và không tập trung vào những vấn đề nhỏ lẻ.

3.2.

Khi nào sử dụng kỹ năng tóm tắt

Kỹ năng tóm tắt hữu hiệu nhất khi đem ra sử dụng tại những thời điểm chiến

lược trong tiếp xúc với thân chủ, những thời điểm đó là:

Khi mới tiếp xúc, khi thân chủ kể cho cán bộ một lượng lớn thông tin để

cán bộ có thể hiểu những gì đã xảy ra cho họ. Lượng thông tin lớn này có thể làm

cho cán bộ thấy quá mắc và cần tập trung đưa ra đường lối.

Khi hoạt động can thiệp không đi đến đâu cả. điều này thường xảy ra khi

thân chủ đã kể hết mọi chuyện nhưng không thể quyết định được định hướng muốn

thay đổi.

Khi thân chủ bế tắc. điều này có thẻ xảy ra khi con người không muốn cân

nhắc các lựa chọn để thay đổi.

3.3.

Những mẫu câu dùng để tóm tắt

Những câu dùng để tóm tắt là

“hãy cùng tập hợp lại những thông tin mà anh/chị vừa kể cho tôi”

“Từ nãy đến giờ chị đã nói rằng…”

“Tôi thấy rằng những gì xảy ra với chị bao gồm….”

4. Kỹ năng thấu cảm

4.1.

Khái niệm thấu cảm

Thấu cảm là một kỹ năng cá nhân quan trọng. Nó chính là phương

tiện chính để cán bộ xã hội biểu lộ rằng cách họ nhìn nhận hoàn cảnh của thân chủ

hoàn toàn trùng hợp với quan điểm của thân chủ. Rất nhiều thân chủ chỉ ra rằng

cảm giác cán bộ xã hội hiểu những gì mình trải qua là mấu chốt của việc thiết lập

và duy trì quan hệ giữa họ với cán bộ.

Thấu cảm giúp cho cán bộ xã hội hiểu biết vấn đề theo cách mà thân chủ

hiểu vấn đề. Thấu cảm không có nghĩa là cán bộ xã hội phải giống như thân chủ vì

họ không bao giờ có thể làm vậy. Tuy nhiên họ có thể đặt mình vào trong hoàn

cảnh của thân chủ để hiểu những gì mà thân chủ đang phải trải qua. Ví dụ thân chủ

là một người mẹ vừa phải lo chăm sóc cho chồng vừa lo lắng về hành vi bạo lực

ngày càng tăng của chồng đối với con. Trong trường hợp này nhân viên xã hội cần

đặt mình vào hoàn cảnh của chị để hiểu những lo lắng và nỗi khổ trong lòng chị :

chị rất yêu con và lo lắng cho sự an toàn của con song chị cũng không thể bỏ

chồng vì chị cũng rất yêu chồng. Không thể nhìn nhận hời hợt bên ngoài để phán

xét rằng chị chỉ vì yêu chồng mà không hi sinh vì con.

Để thân chủ thấy nhân viên xã hội thấu cảm với những gì họ đang trải qua,

nhân viên xã hội cần truyền đạt những gì mình hiểu về những trải nghiệm của thân

chủ một cách chân thành. Người cán bộ phải biểu lộ được rằng mình hiểu những

khó khăn và nỗi khổ trong hoàn cảnh của người mẹ trong ví dụ trên.

4.2.

Kỹ năng cần có để thể hiện được sự thấu cảm

Tập trung vào những thông điệp chính trong câu chuyện của thân chủ – nếu

có một vấn đề chính được thân chủ thể hiện (thường thì họ lặp đi lặp lại vấn đề

kèm theo cảm xúc và những từ được nhấn mạnh khi bàn về vấn đề đó).

Tập trung vào cảm xúc thân chủ thể hiện. điều này thường đòi hỏi cán bộ

phải tập trung chú ý vào những gợi ý ‘cử chỉ cơ thể’ trong giao tiếp. cảm xúc

thường được bộc lộ rõ ràng qua các cử chỉ cơ thể ví dụ như khóc, cả người gập

xuống.

Tập trung vào các sự kiện cụ thể xảy ra cho thân chủ mà có thể gây nên sự lo

lắng quan tâm của nhiều người khác trong cộng đồng. Ví dụ cha mẹ sẽ quan tâm

đến việc con mình bị cha bạo hành dẫn đến sợ hãi khi trở về nhà.

Tập trung vào hành động cụ thể mà đối tựơng đã thực hiện. Điều này đặc

biệt đúng khi thân chủ có những hành vi tích cực để thay đổi. Ví dụ người mẹ đã

xem xét những cơ hội việc làm để kiếm tiền cho gia đình.

Luôn phải xem xét câu chuyện của thân chủ trong hoàn cảnh cụ thể. Nhân

viên xã hội không nên chỉ đáp ứng cho những gì thân chủ kể mà cần phải đặt nó

vào bối cảnh thực sự đang xảy ra.

Điều quan trọng là thấu cảm phải luôn chân thành. Đối tựơng sẽ nhanh

chóng nhận ra lúc nào cán bộ xã hội chỉ cố thể hiện sự thấu cảm và không thành

thật trong lời nói. Thấu cảm chân thành xảy ra khi :

Cán bộ xã hội dùng từ ngữ của mình – từ ngữ mà mình cảm thấy thoải mái khi

dùng hàng ngày

Các ngôn ngữ cơ thể phải đồng nhất với các ngôn ngữ nói.

Kiểm tra phản ứng của đối tựơng với sự thấu cảm của bạn. Khi sự thấu cảm là phù

hợp thì thân chủ nói chung sẽ có phản ứng lại với thông điệp là cán bộ hiểu hoàn

cảnh của họ

Phản hồi một cách thấu cảm trong suốt câu chuyện của đối tượng. Việc này giúp

thân chủ biết rằng cán bộ hiểu câu chuyện của họ.

Giữ những phản hồi thấu cảm ngắn gọn. Khi phản ứng thấu cảm quá dài thì thân

chủ có thể cảm thấy rằng câu chuyện của mình không hấp dẫn cán bộ lắm.

5. Kỹ năng đặt câu hỏi

5.1.

Khái niệm kỹ năng đặt câu hỏi

Đặt câu hỏi là một kỹ năng giao tiếp cá nhân quan trọng để thu thập thông

tin về tình hình thân chủ.

Ý nghĩa của việc đặt câu hỏi:

thu thập thông tin về chủ đề mà thân chủ không đề cập tới

thu thập thông tin chi tiết hơn về một chủ đề mà thân chủ đề cập tới

thu thập thông tin cụ thể liên quan đến suy nghĩ, cảm xúc và hành vi

của đối tượng.

Thử thách những thông tin mà thân chủ cung cấp

Điều quan trọng cần nắm là cán bộ không nên phụ thuộc hoàn toàn vào việc

đặt câu hỏi để thu thập thông tin từ phía thân chủ. Thường khi bị hỏi, thân chủ cảm

thấy không thoải mái và cảm giác như đang bị hỏi cung, nên sẽ không muốn tiết lộ

thông tin. Một quá trình đặt vấn đề tốt có thể giúp thân chủ tự nguyện cung cấp

thêm thông tin mà không cần người cán bộ phải đặt câu hỏi. Các câu hỏi phù hợp

là những câu có thêm các giao tiếp bằng lời và cử chỉ như (“xin hãy tiếp tục”, gật

đầu, mỉm cười) và điều này khích lệ thân chủ tiếp tục trò chuyện.

5.2.

Những nội dung cần đặt câu hỏi

Những vướng mắc mà thân chủ gặp phải –

sự trầm trọng, tần số và thời gian diễn ra của vấn đề.

Bối cảnh của vấn đề

Lịch sử của vấn đề

Cố gắng ở hiện tại và quá khứ của thân chủ để đương đầu với vấn đề

Cố gắng giải quyết vấn đề của thân chủ trong quá khứ

Con người cá nhân của đối tượng –

họ cảm nhận và hành động như thế nào

điểm mạnh và yếu của thân chủ

Những tình tiết của vướng mắc trong tình thế hiện tại –

tác động của vấn đề lên hoàn cảnh tài chính của thân chủ và những người khác

tác động của vấn đề lên vị thế xã hội của thân chủ và những người khác

mức hỗ trợ của gia đình, hàng xóm và cộng đồng đối với thân chủ.

Hiểu biết của thân chủ về tương lai cuộc đời của bản thân và của người khác.

cuộc sống của thân chủ và người khác sẽ như thế nào nếu tình huống hiện tại tiếp

diễn?

nỗi sợ hãi lớn nhất của thân chủ nếu tình huống hiện tại tiếp diễn?

thân chủ mong muốn cuộc sống như thế nào?

Thân chủ có những nguồn sức mạnh nào để tự cải thiện tình hình của bản thân họ –

xác định các phẩm chất của thân chủ

xác định niềm tin giá trị về những phẩm chất của họ ví dụ Tôi là một người mạnh

mẽ – Tôi có thể đương đầu với khó khăn, Tôi là một người đần độn – Có rất nhiều

điều tôi không hiểu.

Thân chủ sử dụng các phẩm chất cá nhân như thế nào trong đời sống hàng ngày, ví

dụ như xoay sở khôn khéo với chỉ một ít tiền để sống.

Tìm kiếm những thành công trong việc giải quyết vấn đề trước đó của thân chủ.

Mục đích của Câu hỏi

Trọng tâm của câu hỏi

các sự kiện

Ví dụ

Chị đã lo ngại về hành vi của chồng mình

từ bao lâu rồi?

các ý tưởng/suy nghĩ

Theo chị điều gì gây nên những cơn ác

mộng của các con mình?

cảm xúc

Khi nói rằng mình không biết gia đình sẽ

tồn tại thế nào, chị cảm thấy thế nào?

hành vi

Chị làm thế nào để đảm bảo an toàn cho

trẻ khi mà chồng chị đang đe dọa gia đình

như vậy?

5.3.

Dạng câu hỏi

Có hai dạng câu hỏi mà một cán bộ có thể sử dụng: Câu hỏi đóng và câu hỏi

mở.

Câu hỏi đóng dùng để thu thập những thông tin sự thật. Chúng thường:

là những câu hỏi ngắn

câu hỏi với câu trả lời ‘có’, ‘không’;

thường bộc lộ lượng thông tin lớn về tình hình của một người trong

một khoảng thời gian ngắn ;