Nhập môn khoa học giao tiếp – Tài liệu text
Nhập môn khoa học giao tiếp
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (589.49 KB, 71 trang )
Bạn đang đọc: Nhập môn khoa học giao tiếp – Tài liệu text
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
MỞ ĐẦU
1 VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT, MỤC TIÊU VÀ YÊU CẦU CỦA MÔN HỌC
1.1 Vị trí và tinh chất của môn học
Khoa học giao tiếp là môn học thuộc khối kiến thức giáo dục đại cương trong chương
trình đào tạo SV bậc Cao đẳng, được giảng day ở học kì đầu tiên với thời lượng 45 tiết học.
Khoa học giao tiếp vừa là môn học lý thuyết, vừa là môn học thực hành. Trong quá
trình học, sinh viên được trang bị những kiến thức cơ bản về giao tiếp, ứng xử, đồng thời
thực hành để rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức môn học vào các tình huống giao tiếp
hằng ngày cũng như trong hoạt động nghề nghiệp sau này.
1.2 Mục tiêu của môn học
– Về kiến thức: Sinh viên lãnh hội được những kiến thức cơ bản nhất về giao tiếpvà ứng
xử theo truyền thống dân tộc và theo thông lệ quốc tế, phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã
hội trong giai đoạn hiện nay.
– Về kỹ năng: Hình thành ở sinh viên các kỹ năng cơ bản sau:
o Kỹ năng phân tích, đánh giá các quan hệ giao tiếp một cách hợp lý, trên cơ sở đó
sinh viên có thể hoàn thiện hoạt động giao tiếp của mình
o Kỹ năng sử dụng tối ưu các phương tiện giao tiếp, bao gồm phương tiện ngôn
ngữ và các phương tiện phi ngôn ngữ
o Kỹ năng thiết lập, phát triển, củng cố mối quan hệ cần thiết trong cuộc sống cũng
như trong hoạt động nghề nghiệp trong tương lai
– Về thái độ: Sinh viên thấy được tầm quan trọng của việc trở thành một người giao tiếp
giỏi, trên cơ sở đó hình thành ở các em thái độ đúng đắn đối với môn học cũng như với việc
rèn luyện các kỹ năng giao tiếp và phẩm chất nghề nghiệp .
1.3 Yêu cầu của môn học
Học tập, nghiên cứu môn học kỹ năng giao tiếp, sinh viên cần:
– Phân tích được bản chất, các khía cạnh của quá trình giao tiếp: truyền thông, nhận thức
và ảnh hưởng tác động qua lại trong giao tiếp
– Ứng dụng được những nét riêng, những phong tục, tập quán của dân tộc cũng như
những nguyên tắc, những thông lệ quốc tế trong giao tiếp, ứng xử hiện đại
– Ứng dụng được những nguyên tắc, những lý luận cơ bản về giao tiếp.
– Tích cực, chủ động trong học tập, đặc biệt là trong giờ học thực hành để hình thành các
kỹ năng giao tiếp, đồng thời không ngừng trau dồi, rèn luyện chúng cả trong đời sống
thường nhật để nâng chúng lên thành nghệ thuật giao tiếp.
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN HỌC
2.1 Đối tượng nghiên cứu của môn học giao tiếp
Môn khoa học giao tiếp nghiên cứu những vấn đề cơ bản sau đây:
– Bản chất, đặc điểm của quá trình giao tiếp
– Các loại hình giao tiếp và đặc trưng của chúng
– Các kỹ năng giao tiếp
– Hiệu quả và những ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình giao tiếp.
– Các hiện tượng tâm lý và tâm lý – xã hội diễn ra trong giao tiếp, văn hóa giao tiếp, ứng
xử của con người trong xã hội hiện đại trong cuộc sống cũng như trong công việc.
1
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
2.2 Phương pháp học tập môn học nhập môn khoa học giao tiếp
Sinh viên có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, sau đây là phương pháp cơ bản
2.2.1 Phương pháp duy vật biện chứng
Hai vấn đề khi phân tích, lý giải một hành vi giao tiếp cụ thể:
– Thứ nhất, không có thế lực siêu tự nhiên nào mà chính là hiện thực xã hội, các quan hệ
xã hội, quan hệ kinh tế quyết định hành vi giao tiếp của con người.
Hành vi giao tiếp của con người chịu sự tác động của nhiều yếu tố, như: hoàn cảnh,
tình huống, tâm lý, phong tục, tập quán, tuyền thống v.v. Các yếu tố tâm lý như nhu cầu,
động cơ, mục đích của chủ thể giao tiếp quy định hành vi giao tiếp của họ.
– Thứ hai, mỗi hành vi giao tiếp chịu sự tác động, chi phối của nhiều yếu tố khác nhau,
vì vậy không được tách rời, cô lập hành vi giao tiếp mà phải đặt nó trong mối quan hệ chặt
chẽ, trong sự ảnh hưởng tác động qua lại với các yếu tố đó mới có thể lý giải nó một cách
chính xác và đầy đủ.
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về giao tiếp đã được công bố, in ấn thành
sách hoặc được phổ biến trên những phương tiện thông tin đại chúng khác. Điều này cho
thấy, giao tiếp, ứng xử không chỉ là vấn đề hấp dẫn, thiết thực, được nhiều người quan tâm,
mà còn là vấn đề rất phức tạp. Trong phạm vi giáo trình này, tác giả không thể trình bày đầy
đủ tất cả các tri thức của nhân loại về giao tiếp, ứng xử. Vì vậy, sinh viên cần sưu tầm, tham
khảo thêm các tài liệu khác để hoàn thiện hơn nữa vốn hiểu biết của mình.
2.2.3 Phương pháp quan sát
Khoa học giao tiếp là môn học về cuộc sống đời thường đang diễn ra hàng ngày, hàng
giờ xung quanh chúng ta, về quan hệ người – người,về ứng xử giữa con người. chính vì vậy,
học tập môn khoa học giao tiếp không chỉ là học tập qua sách vở mà còn phải học tập trong
cuộc sống, thông qua cuộc sống. Nghĩa là chúng ta phải chú ý quan sát lời nói, hành vi, cử
chỉ, điệu bộ, thái độ, cách ứng xử, cách ăn mặc… của những người xung quanh và cả của
bản thân (tự quan sát), phân tích, đánh giá, so sánh chúng với những gì tiếp thu được qua
sách vở và tự rút ra cho mình những kết luận cần thiết. Đây cũng chính là một trong những
điều kiện cơ bản để chúng ta để có thể nhanh chóng tiến bộ và thành công trong giao tiếp.
3. KHÁI QUÁT NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA MÔN HỌC
Có thể chia những nội dung cơ bản của môn học khoa học giao tiếp thành hai phần:
phần chung và phần riêng. Phần chung giới thiệu những kiến thức lý luận chung về giao tiếp
như: khái niệm, vai trò, chức năng, cấu trúc của giao tiếp, các phương tiện giao tiếp v.v.
Phần lý luận trình bày những lý thuyết,những nguyên tắc, những đặc điểm chung làm cơ sở
cho phần rèn kỹ năng. Còn phần kỹ năng giới thiệu quy trình, cách thức, phương pháp để tổ
chức và tiến hành một cuộc tiếp xúc có hiệu quả.
Để giúp sinh viên đánh giá kết quả học tập của mình, đồng thời giúp củng cố kiến thức
và rèn luyện kỹ năng, ở đầu mỗi chương đều có mục tiêu và nội dung tóm tắt của chương, ở
cuối mỗi chương có phần câu hỏi và bài tập tình huống để thực hành. Ngoài ra, cuối giáo
trình còn có phần ôn tập, trong đó hướng dẫn giải hoặc đưa ra đáp án bài tập tình huống và
giới thiệu một số trắc nhiệm giao tiếp. Để các bài tập tình huống phát huy được hiệu quả tối
đa, sinh viên chỉ nên xem phần hướng dẫn ở cuối sách sau khi đã giải thử những bài tập này.
Hơn nữa, mỗi tình huống đều có thể có nhiều phương án giải quyết, phần hướng dẫn chỉ nêu
phương án có tính chất gợi ý
2
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
Những người thực hiện.
Chương 1: KHOA HỌC GIAO TIẾP VÀ HÀNH VI GIAO TIẾP
MỤC TIÊU
– Sinh viên phải phát biểu được các khái niệm: giao tiếp, hành vi giao tiếp và nêu được đặc
điểm của từng thành tố của hành vi giao tiếp.
– Sinh viên thiết lập được cho bản thân một quan niệm giao tiếp đúng đắn, một thái độ tích
cực với hoạt động giao tiếp.
NỘI DUNG CHÍNH
Chương I gồm 3 bài:
Bài 1: Giao tiếp và việc nghiên cứu vấn đề giao tiếp
Bài 2: Các cách tiếp cận hiện tương giao tiếp
Bài 3: Cấu trúc của hành vi giao tiếp
Với 3 bài này, chương I truyền tải những nội dung chính sau:
– Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các mối quan hệ xã hội giữa con người với
con người hoặc giữa con người và các yếu tố xã hội khác, nhằm thỏa mãn những nhu
cầu nhất định.
– Giao tiếp được thể hiện cụ thể thông qua các hành vi. Hành vi giao tiếp là một chuỗi
hành động được thúc đẩy bởi mục đích muốn thỏa mãn một nhu cầu nào đó
– Các thành tố của hành vi giao tiếp là: các chủ thể giao tiếp, thông điệp, kênh truyền, bối
cảnh giao tiếp và yếu tố nhiễu
– Có 3 cách tiếp cận cơ bản để hiểu được bản chất của một hành vi giao tiếp: tiếp cận từ
yếu tố tâm lý, tiếp cận từ yếu tố văn hóa, xã hội, tiếp cận từ yếu tố triết học
Bài 1
:
GIAO TIẾP VÀ VIỆC NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ GIAO TIẾP
1.1. GIAO TIẾP
1.1.1 Giao tiếp là gì ?
Sự tồn tại và phát triển của mỗi con người luôn gắn liền với sự tồn tại và phát triển của
những cộng đồng xã hội nhất định. Không ai có thể sống, hoạt động ngoài gia đình, bạn bè,
địa phương, tập thể, dân tộc, tức là ngoài xã hội. Người La Tinh nói rằng: “Ai có thể một
mình thì người đó hoặc là thánh nhân, hoặc là quỉ sứ”
Trong quá trình sống và hoạt động, giữa chúng ta với người khác luôn tồn tại nhiều
mối quan hệ. Đó là mối quan hệ dòng họ, huyết thống, quan hệ họ hàng, thôn xóm, quan hệ
hành chính – công việc, quan hệ bạn bè… Trong các mối quan hệ đó thì chỉ một số ít là có
sẵn ngay từ khi chúng ta cất tiếng khóc chào đời (quan hệ huyết thống, họ hàng), còn đa số
các quan hệ còn lại chủ yếu được hình thành, phát triển trong quá trình chúng ta sống và hoạt
động trong cộng đồng xã hội, thông qua các hình thức tiếp xúc, gặp gỡ, liên lạc đa dạng với
người khác mà chúng ta thường gọi là giao tiếp.
3
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
Vậy, giao tiếp là gì? Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các mối quan hệ xã
hội giữa con người với con người hoặc giữa con người và các yếu tố xã hội khác, nhằm thỏa
mãn những nhu cầu nhất định.
Giao tiếp bao hàm hàng loạt mục tiêu ý nghĩa như trao đổi thông tin, xây dựng hoạt
động chiến lược phối hợp, tự nhận biết mình và tìm hiểu người khác. Tương ứng với các yếu
tố trên, giao tiếp có 3 khía cạnh chính: giao lưu, tác động qua lại và tri giác.
1.1.2 Các mức độ giao tiếp
Hình 1.1 Các mức độ giao tiếp
1.1.3 Phân loại giao tiếp
a. Phân loại theo phương tiện giao tiếp
* Giao tiếp bằng ngôn từ: Giao tiếp bằng lời nói và chữ viết
* Giao tiếp phi ngôn từ: Giao tiếp bằng các hành vi, biểu tượng, sắc thái, đồ vật…
biểu hiện thái độ, tâm lí, tình cảm.
b. Phân loại theo khoảng cách
* Giao tiếp trực tiếp: là sự giao tiếp mặt giáp mặt giũa các chủ thể giao tiếp, trong
cùng một không gian. Đây là loại hình giao tiếp phổ biến nhất trong đời sống con người.
* Giao tiếp gián tiếp: Là sự giao tiếp trong đó các chủ thể tiếp xúc với nhau thông qua
người khác hoặc thông qua các phương tiện truyền tin.
c. Phân loại theo qui cách
* Giao tiếp chính thức: Là sự giao tiếp mang tính chất công vụ, theo chức trách, quy
định, thể chế. Ví dụ: hội họp, mít tinh, giờ học… Trong giao tiếp chính thức, vấn đề cần trao
đổi, bàn bạc thường được xác định trước, vì vậy thông tin thường có tính chính xác cao.
* Giao tiếp không chính thức: Là sự giao tiếp mang tính cá nhân, không câu nệ vào
thể thức, chủ yếu dựa trên sự hiểu biết về nhau giữa các chủ thể. Ví dụ: Bạn bè, đồng
nghiệp… trò chuyện, hoặc giao tiếp thông qua người thứ ba – “tam sao thất bản”. Ưu điểm
của giao tiếp không chính thức là gợi không khí thân tình, cởi mở và chúng ta có thể tự do
trao đổi những vấn đề mà chúng ta quan tâm.
4
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
Trong cuộc sống, chúng ta cần biết sử dụng kết hợp giao tiếp không chính thức với
giao tiếp chính thức để tạo không khí thân mật, cởi mở và gần gũi nhau, tạo điều kiện thuận
lợi cho giao tiếp chính thức đạt kết quả.
1.1.4 Chức năng của giao tiếp
Các nhà khoa học đã có những nhìn nhận khác nhau về chức năng của giao tiếp.
Verderber (1990) cho rằng giao tiếp có ba chức năng cơ bản.
* Chức năng tâm lí: Giao tiếp đáp ứng các nhu cầu tâm lý, tinh thần con người
* Chức năng xã hội: Giao tiếp để phát triển và thực hiện các mối quan hệ xã hội.
* Chức năng lập quyết định: Giao tiếp để trao đổi, đánh giá thông tin và tạo ảnh hưởng
đối với người khác
Trong khoa học giao tiếp hiện nay, có thể xác định chức năng giao tiếp là.
* Chức năng thông tin: Muốn thông tin và truyền tin, người ta thường thông qua giao
tiếp. Giao tiếp làm cho thông tin được truyền từ người này sang người khác, quốc gia này
sang quốc gia khác, thế hệ này sang thế hệ khác, tạo thành kho tàng tri thức khổng lồ cho xã
hội loài người.
* Chức năng giải tỏa cảm xúc: Giao tiếp là cho các cảm xúc tích cực của con người
được nhân lên, nhưng giao tiếp lại làm cho các cảm xúc tíêu cực được vơi đi rất nhiều. mang
lại sự cân bằng tâm lý và tâm lý tích cực cho con người. Nếu không có giao tiếp, sẽ không có
cảm xúc, không phát triển tâm lý.
* Chức năng thiết lập mối quan hệ liên nhân cách: Trong cuộc sống, con người cần rất
nhiều mối quan hệ. Các mối quan hệ chủ yếu được thiết lập trên cơ sở hoạt động giao tiếp.
Nếu không giao tiếp sẽ không có mối quan hệ nào. Ngược lại giao tiếp nhiều sẽ có nhiều mối
quan hệ, “người năng chào năng thân”
*Chức năng tổ chức và phối phợp hoạt động: Khoa học kỹ thuật của con người phát
triển đến mức độ cao, hoạt động của con người đa dạng và phức tạp, con người hải phối hợp
hoạt độn, do đó con người phải giao tiếp để bàn bạc để thống nhất về mục tiêu, kế hoạch và
phương thức hoạt động.
1.2 VAI TRÒ CỦA GIAO TIẾP
Giao tiếp có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội và đời sống con người
1.2.1. Giao tiếp là tiền đề cho sự phát triển của sức khỏe
* Giao tiếp kém, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, đến cuộc sống
– Người không có kỹ năng giao tiếp tốt không thổ lộ được tâm trạng, không có người
hiểu nổi tâm tình của mình, không chia sẻ tâm tư, tâm trạng, tình cảm với người xung quanh
nên dễ rơi vào trạng thái cô đơn dù sống ngay giữa đám đông.
– Sự cô đơn, biệt lập làm cho con người dễ bị suy sụp về thể chất, tinh thần, dễ mắc
phải những căn bệnh về tim mạch, tâm thần và có thể có những ý định tiêu cực, bế tắc …
Để khẳng định mạnh mẽ vai trò to lớn của giao tiếp trong cuộc sống, David W.
Johnson trong tác phẩm Reaching Out (Với tới tha nhân) đã mượn lời một nhân vật thốt lên
rằng: “Chúng ta phải thương yêu nhau hay là chết”.
* Giao tiếp tốt đẹp với mọi người xung quanh sẽ mang lại cuộc sống tốt đẹp
5
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
– Con người có mối quan hệ tốt đẹp với cuộc sống chung quanh sẽ nhận được niềm
vui, sự hỗ trợ để có một chỗ đứng vững vàng trong xã hội, trong sự nghiệp và sẽ tìm thấy
được hạnh phúc cùng một tương lai luôn rộng mở.
– Mối quan hệ tốt đẹp với cuộc sống chung quanh còn mang lại tuổi thọ cho con người:
theo một số cuộc điều tra được công bố rộng rãi, nam giới ở độ tuổi 47, nếu ly dị hay góa vợ
thì tỷ lệ tử vong sẽ cao hơn nhiều lần so với những người có cuộc sống hạnh phúc.
– Mối quan hệ với cuộc sống xung quanh ảnh hưởng rõ rệt đến sức khỏe thể chất của
con người: kinh nghiệm và các cuộc điều tra cũng chứng minh rằng nếu có sự hỗ trợ của
người thân, của xã hội bệnh nhân sẽ phục hồi nhanh chóng dễ dàng.
1.2.2. Giao tiếp là điều kiện cho con người hình thành, hoàn thiện nhân cách
– Qua giao tiếp, từ sự đáp ứng và phản hồi của người xung quanh, con người tiếp nhận
kiến thức về thế giới, về bản thân để hình thành nên nhân cách.
– Con người thể hiện nhân cách, tiếp tục điều chỉnh và hoàn thiện nhân cách bản thân
nhờ vào quá trình giao tiếp. Sự hoàn thiện nầy diễn ra liên tục trong suốt cuộc đời con người.
1.1.3. Giao tiếp tốt sẽ tạo các quan hệ thuận lợi cho công cuộc làm ăn, chung sống
– Giao tiếp tốt sẽ là điều kiện thuận lợi cho công cuộc làm ăn phát triển: con người khi
có mối quan hệ tốt với những người chung quanh sẽ nhận được sự yêu thương, hỗ trợ, sẽ có
chỗ đứng vững vàng trong cuộc sống và dễ dàng có những bước thăng tiến trong sự nghiệp.
– Một xã hội được xây dựng trên nền tảng của mối giao tiếp chặt chẽ, tốt đẹp sẽ có
những bước phát triển mạnh mẽ. Dễ dàng nhận thấy ở một xã hội kém phát triển, mối tương
tác của các thành viên trong xã hội đó rất mờ nhạt, giao tiếp trong xã hội nhiều hạn chế, kinh
tế thường rơi vào tình trạng manh mún, cuộc sống tự cung tự cấp là chủ yếu
1.3 CÁC QUAN NIỆM TRIẾT HỌC VỀ GIAO TIẾP
1.3.1 Quan niệm của Phật giáo
“Kẻ nào tặng người khác bông hồng, trên tay kẻ đó phảng phất mùi thơm”.
Cuộc sống hạnh phúc luôn dành cho những người sẵn sàng mở lòng, trao tặng người
khác những điều tốt đẹp, bởi khái niệm “cho” luôn bao hàm trong nó khái niệm “nhận”
.
1.3.2 Quan niệm của Nho giáo
Theo Khổng Tử:“Cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cứ” (Cùng đường sẽ có
biến, có biến mới thông, có thông mới lâu bền được).
Nguyên tắc quan trọng trong đạo xử thế của Khổng Tử là phải biết biến. Biến ở đây
là sự ứng xử, giải quyết tình thế cho phù hợp với từng tình huống, từng đối tượng giao tiếp.
Trong cuộc đời, nếu lúc nào cũng nguyên tắc cứng nhắc thì khó có được thành công. Đôi
khi, sự thiếu uyển chuyển còn mang đến cho người ta một sự thất bại thảm hại. Truyện cổ
dân gian Việt Nam có câu truyện cười “Làm theo lời vợ dặn”có thể xem là bài học ý nhị
minh họa cho phép xử thế của Khổng Tử: phải biết biến hay là chết.
Cùng ý nghĩa với quan niệm trên, Kinh Thánh của đạo Thiên Chúa có dạy rằng nếu
cuộc đời đóng sập cánh cửa này trước mặt ta thì cũng có nghĩa là đang có một cánh cửa khác
được mở ra. Tuy nhiên, sự biến này chưa chắc đã dẫn con người tới chỗ thông nếu con người
chưa được trang bị tốt kỹ năng sống. Danh ngôn phương Tây có câu nói rất hay rằng con
đường luôn có dưới chân người giàu nghị lực. Hay nói khác đi, để có thể sống và sống tốt,
6
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
chúng ta phải vững vàng đi vào cuộc sống, hòa nhập với cuộc sống trong tâm thế của người
trong cuộc. Khi đó, kỹ năng giao tiếp tốt với cộng đồng sẽ giúp chúng ta tìm được con
đường thông suốt cho bản thân.
Như vậy, đạo xử thế hay mối quan hệ giữa con người với nhau hay giao tiếp xã hội
phải có sự thay đổi, điều chỉnh uyển chuyển cho phù hợp với sự thay đổi của môi trường
sống thì con người mới có thể tồn tại, phát triển cùng với xã hội
Hoặc theo Tử Phòng (người giúp Lưu Bang xây dựng cơ đồ nhà Hán. Khi nghiệp lớn
đã hoàn thành, ông từ bỏ quan trường lên núi tìm đường tu tiên), thì sống trong cuộc đời
“Phải luôn tự biết mình là ai. Muốn thế phải hiểu rõ cái thời mình đang sống”.
Quan niệm này đi sâu mở rộng hơn quan niệm của Khổng Tử, không chỉ có biến mới
thông, có thông mới lâu bền, Tử Phòng nhấn mạnh biết người biết ta thì trăm trận mới trăm
thắng. Nguyễn Trãi, tài năng, đức độ rạng ngời “sáng tựa sao Khuê” nhưng chỉ vì không
chấp nhận được cái thời mình đang sống mà phải nhận lấy hậu quả vô cùng khốc liệt cho
cuộc đời. Bản án “tru di tam tộc” không chỉ đẫm máu dòng họ của Nguyễn Trãi và những
dòng họ có liên quan đến ông mà còn làm nhỏ máu biết bao thế hệ tâm hồn Việt Nam quan
tâm đến lịch sử dân tộc.
1.3.3 Quan niệm của triết học Mác- Lênin
“Con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội”
Quan niệm này làm rõ hơn về tầm quan trọng lớn lao của giao tiếp. Con người sẽ
không thể là con người nếu không có môi trường sống với những mối quan hệ vô cùng đa
dạng và phức tạp của nó. Giao tiếp giữ vai trò quyết định trong việc xác định tư cách Người
cho con người, để từ đó con người phát huy vai trò của mình, thúc đẩy xã hội phát triển.
CÂU HỎI
1. Giao tiếp có vai trò như thế nào trong cuộc sống con người?
2. Giao tiếp có vai trò như thế nào trong sự hình thành và phát triển của xã hội?
3. Những ngành nghề nào cần thiết phải có kỹ năng giao tiếp tốt? Tại sao?
BÀI TẬP
1. Trong số các hiện tượng được nêu ra dưới đây, hiện tượng nào là giao tiếp?
a. Một đứa trẻ đang trò chuyện với một con búp bê.
b. Người thư ký đang soạn thảo một bức thư điện tử để gửi đến một đối tác ở xa.
c. Hai người đang cãi cọ (to tiếng) với nhau.
d. Hai đứa trẻ đang chơi đùa với nhau.
e. Một nhân viên bán hàng đang giải thích cho khách hàng mua một sản phẩm.
f. Bộ trưởng ngoại giao các nước ASEAN gặp nhau để thống nhất về cuộc gặp thượng
đỉnh giữa các nguyên thủ quốc gia.
2.
7
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
8
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
Bài 2:
CÁC CÁCH TIẾP CẬN HIỆN TƯỢNG GIAO TIẾP
Giao tiếp là một quá trình phức tạp, nhiều mặt, nhiều mức độ của sự tác động qua lại
giữa con người với con người. Trong giao tiếp có các mặt: Trao đổi thông tin, tác động lẫn
nhau, nhận thức, hiểu biết lẫn nhau. Do đó cần tiếp cận hiện tượng giao tiếp như là một đối
tượng khoa học liên ngành: Tâm lý học, Ngôn ngữ học, văn hóa, lý thuyết thông tin…
2.1 TIẾP CẬN TỪ YẾU TỐ TÂM LÝ
Tíêp cận hiện tượng giao tiếp từ yếu tố tâm lý để thấy được cơ sở quan trọng nhất của
hoạt động giao tiếp của con người, đó chính là tâm lý. Tất cả các hiện tượng tâm lý diễn ra
trong suy nghĩ của con người, gắn với hoạt động của con người và nó điều hành các hoạt
động của con người, đặc biết là hoạt động giao tiếp:
Hình 1.2 Các yếu tố tâm lí
2.1.1 Những nhu cầu cơ bản của con người
Abraham Maslow là người đầu tiên hình dung sự phát triển của con người như những
bậc thang, mỗi nhu cầu trong số đó phải được thỏa mãn trong mối quan hệ với môi trường
dọc theo chiếc thang phát triển này. Theo ông những nhu cầu là cơ sở cho sự phát triển lành
mạnh của con người. Hệ thống các nhu cầu cơ bản của con người có phân cấp. Mỗi bậc của
thang nhu cầu phụ thuộc vào bậc trước đó. Nếu có một nhu cầu không được đáp ứng, nó sẽ
ảnh hưởng đến khả năng của cá nhân ở các bước phát triển tiếp theo.
TI P C N T Ế Ậ Ừ
Y U T TÂM LÝẾ Ố
Nhu cầu
Tình
cảm
Nh n ậ
th cứ
Tính
cách
Ni mề
tin
9
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
Hình 1.3 Bậc thang những nhu cầu cơ bản ( theo Maslow)
(Nguồn: Quản lí nguồn nhân lực, Paul Hersey, Ken Blanc Hard)
* Nhu cầu sinh học:
Bậc thang này rất cơ bản và rất quan trọng. Nếu nhu cầu cơ bản này chưa được đáp ứng
đủ thì các nhu cầu khác ít có động cơ thúc đẩy. Nhưng nếu nó được đáp ứng thì nhu cầu kế
tiếp lại xuất hiện nổi trội hơn và tiếp tục như vậy. Khi nhu cầu sinh tồn được thỏa mãn thì con
người sẽ hướng về sự an toàn.
* Nhu cầu được an toàn:
Đây là nhu cầu tự duy trì và chuẩn bị cho tương lai vững chắc hơn. An toàn có nghĩa là
an toàn để sống trong một môi trường cho phép sự phát triển của con người được liên tục và
lành mạnh. Điều này có nghĩa là một ngôi nhà, công việc, điều kiện được chăm sóc y tế và sự
bảo vệ cơ thể. Sau khi nhu cầu này được thỏa mãn thì nhu cầu xã hội có thể xuất hiện nổi trội
hơn, nhưng cũng có thể con người trở nên an phận, bảo thủ.
* Nhu cầu xã hội:
Trong đời sống, mỗi cá nhân đều mong muốn mình “thuộc về” các nhóm khác nhau và
được chấp nhận, được yêu thương, cố gắng có mối quan hệ tốt đẹp với người khác. Cảm tưởng
không được yêu thương, bị bỏ rơi, bị cô lập là cội rễ của hầu hết những trường hợp không hội
nhập. Chúng ta đã ghi nhận được là trẻ em trong một số trại trẻ mồ côi, dù được chăm sóc tốt
về mặt thể chất, nhưng chúng không lớn lên ( gọi là “lùn tâm lí”) và phát triển bình thường
như trẻ em khác.
* Nhu cầu được tôn trọng:
Khi đã được chấp nhận thì con người lại muốn được đánh giá cao. Điều này đơn giản là
nhu cầu cảm thấy mình tốt, cảm nhận con người mình có giá trị và một chút tự hào về những
thành quả của bản thân. Một mặt, con người muốn tự do và độc lập, mặt khác cũng muốn có
sức mạnh, năng lực khi đối phó với cuộc đời. Việc thỏa mãn nhu cầu được tôn trọng giúp con
người tự tin, có được uy tín, quyền lực và cả sự kiềm chế. Con người cảm thấy có ích và có
ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, được sụ kính nể của người khác. Sự tự nhìn nhận của
mọi người giúp cho con người nỗ lực nhiều hơn nữa. Ngược lại thì có thể dẫn đến các hành vi
phá hoại.
* Nhu cầu tự khẳng định mình:
Tự khẳng định mình là nhu cầu để tăng đến mức tối đa tiềm năng của một người. Nhu
cầu này bao gồm những khát vọng và những nỗ lực để trở thành cái mà một người có thể trở
thành. Maslow nói: “ Một con người muốn có thể sẽ là gì, thì anh ta sẽ phải là cái đó” Vì vậy,
tự khẳng định mình là một mong muốn làm cái điều mà người ta có thể đạt được. Đó là nhu
cầu về phát triển nhân cách – cơ hội cho phát triển bản thân và tự học tập. Có cơ hội để phát
triển tiềm năng bản thân và những kĩ năng của một con người tạo cho ta cảm giác quan trọng
về tự hoàn thiện.
* Đặc điểm của các nhu cầu cơ bản của con người:
Nhu cầu là nguyên nhân hoạt động của con người. Con người nỗ lực hoạt động để
thỏa mãn các nhu cầu cơ bản.
Bất cứ nhu cầu nào cũng có mục đích. Nhu cầu và mục đích luôn thay đổi. Cùng một
nhu cầu, mỗi con người có thể hướng đến mục đích không giống nhau và ngược lại.
10
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
Các nhu cầu không bao giờ được thỏa mãn hoàn toàn. Khi một nhu cầu vừa được thỏa
mãn, nhu cầu tiềm ẩn khác sẽ nổi lên và tác động lên mối quan tâm của con người.
Ngoài ra, đặc điểm tâm lí chung của con người bình thường là tìm kiếm sự thỏa mãn
các nhu cầu của mình, tìm cách lánh xa đau đớn, lánh xa cảm giác bất an. Các hành vi của
con người bị chi phối bởi cái muốn và cái sợ : hành động để đạt được cái mình muốn và
tránh cái mình sợ. Nhu cầu đã đủ sức mạnh thôi thúc hành động sẽ trở thành động cơ
Động cơ như là một lực lượng bên trong thúc đẩy hành vi của con người. Trong mỗi
thời điểm có thể tồn tại nhiều nhu cầu. Nhu cầu nào mạnh nhất sẽ trở thành động cơ đóng vai
trò thúc đẩy hành động dựa trên sự nhận thức, tri thức, niềm tin và tình cảm đối với một sự
vật, hiện tượng. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến động cơ như lối sống, kiến thức, quan niệm,
tình cảm, triển vọng đời sống và nghề nghiệp.Động cơ có thể nảy sinh từ tình cảm hoặc ý
thức
2.1.2 Tình cảm
Một trong những yếu tố chi phối hành vi giao tiếp là tình cảm và các quy luật trong
đời sống tình cảm. Giao tiếp có thể bị tình cảm tác động như sau:
– Quy luật lây lan của tình cảm: Có ảnh hưởng lớn trong giao tiếp, chính nó tạo ra sự “a
dua, hùa theo, nói theo…” trong quá trình giao tiếp.
– Quy luật thích ứng: Tạo nên sự chai sạn trong giao tiếp – “Biết rồi, nói mãi nhàm
chán”
– Quy luật tương phản: Hai thái độ đối lập -“Nhường nhịn, im lặng, dồn nén và bùng
phát, cục cằn…trong giao tiếp”.
– Quy luật di chuyển: Trong GT phải sáng suốt để không “giận cá chém thớt”.
– Quy luật pha trộn: Nhiều ý kiến khác nhau, có khi trái ngược với nhau trong một con
Xem thêm: TUYỂN SINH ĐẠI HỌC 2021: Khoa học dữ liệu – Ngành học đón đầu kỷ nguyên số – CỔNG TUYỂN SINH UEH
người, trong cùng một thời điểm ”, tạo ra “Ý kiến đa chiều” trong giao tiếp.
2.1.3 Nhận thức
• Nhận thức là quá trình tập hợp, lựa chọn, sắp xếp thông tin đầu vào để tạo ra một bức
tranh có ý nghĩa về thế giới xung quanh. Giao tiếp của con người phụ thuộc nhiều vào sự
nhận thức của họ. Nhờ có nhận thức, con người suy xét, tổ chức và giải thích về hiện thực
khách quan. Nhận thức và sự hiểu biết của con người thể hiện qua nội dung giao tiếp và trực
tiếp quy định nội dung giao tiếp.
2.1.4 Tính cách và khí chất
• Tính cách và khí chất là những đặc điểm riêng của cá nhân có ảnh hưởng nhiều đến
hoạt động giao tiếp. Tình tình vui vẻ hòa đồng, cởi mở, thân thiện, năng động…thường làm
cho người ta giao tiếp dễ dàng hơn, giao tiếp tốt hơn, giao tiếp nhiều hơn… Ngược lại tính
tình trầm lặng, nhút nhát, hay những người có tâm lý hướng nội thường giao tiếp ít hơn.
2.1.5 Niềm tin
Niềm tin là sự khẳng định bằng ý nghĩ của con người với một đối tượng nào đó, về một
vấn đề nào đó. Niềm tin có một vai trò quan trọng trong giao tiếp. Tin vào đối tượng giao
tiếp, tin vào tính chính xác của thông điệp giao tiếp, và tự tin vào chính bản thân… sẽ làm
cho quá trình giao tiếp thành công hơn. Người ta chỉ có niềm tin khi đã có đầy đủ kiến thức,
thông tin để giao tiếp và một sự tập luyện cẩn thận, kỹ càng các kỹ năng giao tiếp cần thiết.
11
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
2.2 TIẾP CẬN TỪ YẾU TỐ VĂN HÓA
Văn hóa là yếu tố cơ bản quyết định hoạt động giao tiếp của con người. Cách thức hành
vi giao tiếp ứng xử của con người có cơ sở từ trình độ văn hóa của cá nhân đó. Trình độ văn
hóa của mỗi cá nhân có được từ việc tiếp thu những yếu tố bên ngoài và được điều chỉnh theo
lăng kính cá nhân. Mỗi một con người sinh ra và lớn lên đều được tiếp thu những điều cơ bản
về giá trị, sự cảm thụ, sự ưa thích, tác phong và hành vi đặc trưng cho gia đình của mình và
những thể chế cơ bản của xã hội. Từ đó giao tiếp con người cũng có cách thức ứng xử đặc
trưng với nền văn hóa đã tiếp thu.
Các yếu tố văn hoá bao gồm
Hình 1.4 Các yếu tố văn hóa
2.2.1 Nền văn hoá
• Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
ra và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi
trường tự nhiên và xã hội. Nền văn hóa được tạo nên bởi tất cả các văn hóa của xã hội như
văn hóa ẩm thực, văn hóa thời trang, văn hóa giao tiếp ứng xử, văn hóa giao thông, văn hóa
xã hội…
2.2.2 Văn hóa giao tiếp.
Cũng như các mặt khác của cuộc sống con người, giao tiếp rất cần có văn hóa. Văn
hóa giao tiếp đó là những chuẩn mực của giao tiếp, những nét đẹp trong giao tiếp… để hoạt
động giao tiếp ngày càng hoàn thiện và tốt đẹp. Mỗi dân tộc, tôn giáo, chủng tộc, địa
phương… đều có văn hoá giao tiêp tốt đẹp. tạo điều kiện cho mọi người cùng chia sẻ những
giá trị tinh thần do có chung kinh nghiệm và hoàn cảnh sống.
2.2.3 Văn hóa ứng xử.
Cùng với đạo đức học, văn hóa ứng xủ góp phần không nhỏ để tạo ra một xã hội văn
minh, dân chủ, lành mạnh, từ đó mang lại cuộc sống hạnh phúc cho con người trong xã hội.
Ứng xử một cách hợp tình, hợp lý, khiêm nhường, nhân đạo…luôn luôn tạo ra sự bình yên
trong cuộc sống. Ngược lại, những cách ứng xử thô bạo, cực đoan, hiếu chiến, quan liêu,
máy móc…thường gây ra những hậu quả không tốt.
V N HÓAĂ
V n hóa ă
giao tiếp
Văn hoa
ứng xử
Nền văn hóa
12
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
Giao tiếp được tiếp cận từ yếu tố văn hóa để tìm ra những nét văn hóa tốt đẹp trong
giao tiếp và xây dựng nền văn hóa giao tiếp ứng xử đẹp nhất.
2.3 TIẾP CẬN TỪ LÝ THUYẾT THÔNG TIN
Lý thuyết thông tin tìm ra các phương thức truyền tin phong phú, đa dạng, tiện lợi,
nhanh và chính xác để hoạt động giao tiếp của con người ngày càng phát triển. Vì dụ như đài
phát thanh, truyền hình, điện thoại, mạng Internet… Nhờ có khoa học thông tin mà hoạt
động giao tiếp của con người đã phát triển rất nhanh, và đạt trình độ cao.
CÂU HỎI
1. Trình bày những đặc điểm của bậc thang nhu cầu theo Maslow. Những giá trị vật chất có
phải luôn là động cơ điều khiển hành vi giao tiếp không? Tại sao?
2. Các yếu tố Tâm lý: Tình cảm, tính cách, nhận thức và niềm tin có ảnh hưởng như thế nào
đến hoạt động giao tiếp? Hãy cho ví dụ minh họa!
3. Văn hóa, ngôn ngữ, kỹ thuật truyền thông có ảnh hưởng đến hành vi giao tiếp của con
người như thế nào?
BÀI TẬP
1. Hãy phân tích tâm lý các nhân vật trong tình huống giao tiếp sau đây:
13
Ðộng cơ
Hành vi
Hành động
hướng đích
Hành động
thực hiện
Mục đích
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
Bài 3 :
HÀNH VI GIAO TIẾP
3.1 HÀNH VI GIAO TIẾP
3.1.1 Thế nào là hành vi giao tiếp ?
Hành vi là một chuỗi hành động, lời nói, ứng xử giữa người với người trước một
tình huống hoặc một hoàn cảnh nhất định. Trong một ngày, một người có thể có nhiều
hành vi giao tiếp khác nhau vì có nhiều tình tuống khác nhau và giao tiếp với nhiều đối
tượng khác nhau. Ví dụ, một giáo viên khi ở trên lớp giao tiếp với học sinh, khi về nhà lại
giao tiếp với bạn bè. Mỗi đối tượng trên, giáo viên phải giao tiếp khác.
Hành vi Giao tiếp được thúc đẩy bởi mục tiêu muốn thỏa mãn một nhu cầu nào
đó. Việc thỏa mãn nhu cầu liên quan đến khả năng của chủ thể giao tiếp. Nếu chưa thỏa
mãn nhu cầu, chủ thể giao tiếp có thể lập lại hành vi giao tiếp, hoặc thay đổi mục đích,
hoặc vỡ mộng,…
3.1.2 Tính chất của hành vi giao tiếp:
Hình 2.4 Tính chất của hành vi giao tiếp
3.1.3 Những yếu tố tác động đến hành vi giao tiếp
Yếu tố di truyền: Tác động đến sự phát triển của cơ thể, trí tuệ, đời sống tinh thần,
tình cảm của con người. Đó là nguồn gốc sâu xa ảnh hưởng đến hành vi giao tiếp.
Sự tác động của cảm xúc, suy nghĩ lên hành vi: Đây là yếu tố quan trọng, chủ yếu
quyết định tính chất của hành vi. Những cảm xúc càng bị chôn dấu càng có khả năng trở
thành động cơ của những hành vi tiêu cực, mang tính hủy hoại.
Môi trường xã hội: Cơ hội học hỏi, cách thỏa mãn các nhu cầu cá nhân, các vai trò
xã hội đảm nhận và sự chi phối của xã hội trong việc đánh giá vai trò.
3.2 CÁC THÀNH TỐ CỦA HÀNH VI GIAO TIẾP
3.2.1 Người phát tin (nguồn)
Để trở thành người giao tiếp tốt, người phát tin phải là người tự tin. Biểu hiện của
người tự tin là thể hiện những hiểu biết của mình về nội dung thông điệp, về bối cảnh
14
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
truyền đạt thông điệp và cả hiểu biết về người tiếp nhận thông điệp của mình. Nếu không
hiểu người mà mình truyền đạt thông điệp tới sẽ có thể dẫn đến thông điệp bị hiểu sai.
3.2.2 Người nhận tin
Người nhận tin sẽ là người phản hồi lại những thông điệp đã được tiếp nhận. Sự
phản hồi này có thể bằng lời hay bằng những hình thức khác. Đây cũng là cơ sở để đánh
giá mức độ hiểu thông điệp của người tiếp nhận.
Người nhận tin cũng luôn tham gia vào quá trình giao tiếp với những ý tưởng và
tình cảm có thể ảnh hưởng đến cách họ hiểu thông điệp của người phát tin cũng như cách
họ phản hồi lại những thông điệp đó. Để thành công trong giao tiếp, người phát tin cần
nghiên cứu những yếu tố này và có hành động phù hợp.
3.2.3 Thông điệp
Thông điệp là các nội dung giao tiếp được thể hiện qua hình thức nói, viết hoặc
các hình thức khác. Thông điệp bị chi phối bởi phong cách giao tiếp riêng của người
truyền đạt, bởi tính căn cứ của lý luận và bởi nội dung cần giao tiếp.
Thông điệp luôn chứa đựng yếu tố trí tuệ và yếu tố tình cảm của người phát. Yếu
tố trí tuệ tạo ra tính hợp lý của thông điệp. Yếu tố tình cảm tạo sức cuốn hút. Tùy theo
mức độ, hai yếu tố trên sẽ thuyết phục được người nghe thay đổi suy nghĩ, thái độ, hành
động.
3.2.4 Môi trường giao tiếp
Giao tiếp luôn tồn tại trong một bối cảnh, một môi trường nào đó. Môi trường giao
tiếp bao gồm các yếu tố: không gian, thời gian, không khí, ánh sáng, màu sắc, mùi vị, âm
thanh, thời tiết, sự sắp đặt… Môi trường giao tiếp có vai trò quan trọng để tạo ra hiệu quả
của cuộc giao tiếp. Nếu chủ động trước được hành vi giao tiếp người ta thường chọn môi
trường tốt nhất. Nếu không được lựa chọn môi trường giao tiếp người ta phải điều chỉnh
hành vi giao tiếp…
3.2.5 Kênh giao tiếp
Kênh là hình thức chuyển tải thông điệp trong giao tiếp.
Khi giao tiếp, thông điệp đã mã hóa được chuyển tải qua một kênh hay nhiều
kênh. Các kênh khác nhau đòi hỏi những phương pháp phát triển ý tưởng khác nhau, vì
thế, người phát tin nên kĩ càng trong việc lựa chọn kênh cho cuộc giao tiếp, giống như họ
tiến hành việc lựa chọn các kí hiệu để dùng.
3.2.6 Nhiễu
Nhiễu là bất kì một trở ngại bên trong hoặc bên ngoài nào với quá trình giao tiếp.
Nhiễu có thể do các nhân tố của môi trường, sự suy yếu của thể chất, những vấn đề về
ngữ nghĩa, những vấn đề về cú pháp, ngôn từ, sự lộn xộn trong cách sắp đặt, tiếng ồn xã
hội và những vấn đề tâm lí gây nên.
3.3. MÔ HÌNH GIAO TIẾP
3.3.1 Mô hình tuyến tính về giao tiếp (giao tiếp một chiều)
Theo mô hình này thì người phát tin (nguồn) mã hóa một thông điệp và gửi nó tới
người nghe thông qua một hay nhiều kênh giác quan. Người nghe, sau đó, tiếp nhận và
15
Nhiễu làm méo mó thông điệp
2. Kênh
Chuyển
thông điệp
3.Người nhận
Giải mã thông
điệp
1. Người gửi
Mã hóa TĐ
Thông tin
Phản hồi
1. Người gửi
Mã hóa thông
điệp
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
giải mã thông điệp này. Không tính đến mọi biến thiên, mọi đổi thay trong quá trình giao
tiếp. Là mô hình “người nói – người nghe” đơn giản.
Hình 3.1 Sơ đồ giao tiếp tuyến tính (theo Berko, Wolvin)
Mô hình giao tiếp này cũng khá phổ biến trong xã hội hiện nay. Người ta sử dụng
hình thức giao tiếp này nhằm thực các mục tiêu như thông báo, quảng cáo, tuyên truyền
và hướng dẫn…Với mô hình giao tiếp này có thể gửi thông điệp đến nhiều người. Tuy
nhiên, mô hình giao tiếp này chi có tính chất một chiều. thông điệp gửi đi và không có
hoặc rất ít sự phúc đáp và phản hồi.
Trong mô hình giao tiếp này, đòi hỏi thông điệp phải chính xác, ngắn gọn, cô
đọng. Thông điệp chỉ có một ý nghĩa, một cách hiểu, tránh tình trạng đa nghĩa.
3.3.2 Mô hình tác động qua lại về giao tiếp (giao tiếp hai chiều)
Nhiễu làm méo mó thông điệp
(Thông điệp)
Hình 3.2 Sơ đồ giao tiếp qua lại (theo Berko, Wolvin)
Trong mô hình này, nguồn mã hóa thông điệp và gửi nó đến người nhận thông qua
một hay nhiều kênh giác quan. Người tiếp nhận và giải mã thông điệp, sau đó mã hóa phản
hồi (một phản ứng hay các phản ứng) và gửi phản hồi này tới nguồn, vậy là quá trình trở
thành hai chiều. Sau đó, nguồn giải mã thông điệp phản hồi theo thông điệp gốc đã được
gửi và phản hồi đã được nhận, tiếp theo nguồn mã hóa một thông điệp mới thích ứng với
phản hồi nhận được (sự thích ứng).
Mô hình giao tiếp này có tính chất phổ biến nhất, nó được sử dụng thường xuyên,
rộng rãi với rất nhiều mục tiêu và ý nghĩa khác nhau như nói chuyện, hội họp, trao đổi, …
16
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
Quy mô của mô hình giao tiếp này hạn chế hơn so với mô hình giao tiếp tuyến tính.
Ít nhất là hai người, và nhiều cũng chỉ vài trăm hoặc vài ngàn người như trong lễ mít
tinh…
3.3.3 Mô hình giao dịch về giao tiếp (giao tiếp đa chiều)
Hình 3.3 Sơ đồ giao dịch về giao tiếp (Theo Berco, Volvin)
Trong mô hình này, người giao tiếp A mã hóa một thông điệp và gửi nó đi. Người
giao tiếp B, sau đó, mã hóa phản hồi gửi tới người giao tiếp A, Nhưng những bước này
không phải là độc chiếm lẫn nhau vì việc mã hóa và giải mã có thể xảy ra đồng thời. Là
những người nói, chúng ta có thể gửi một thông điệp phản hồi phi ngôn từ tới người nghe.
Sự mã hóa và giải mã này có thể xảy ra liên tiếp trong suốt quá trình giao tiếp. Trong đó
hai đối tượng luôn đổi vai trò người gửi, người nhận cho nhau.
Mục tiêu của mô hình giao tiếp này thường là giải quyết một công việc nhất định.
Do đó, mô hình giao tiếp này lại có quy mô nhỏ hơn các mô hình trên. Mặc dù giao tiếp đa
chiều nhưng không thể giao tiếp với nhiều người trong cùng một thời điểm. Nó được sử
dụng trong một số ngành nghề cụ thể như bán hàng, làm hồ sơ với khách hàng…
3.4 CÁC QUAN HỆ TRONG HÀNH VI GIAO TIẾP
3.4.1 Quan hệ chủ thể – khách thể
Chủ thể giao tiếp là những đối tượng tạo nên hành vi giao tiếp, quan hệ giao tiếp.
Khách thể là đối tượng mà chủ thể hướng tới trong quá trình giao tiếp
Mối quan hệ giữa chủ thể với khách thể là mối quan hệ qua lại trong giao tiếp.
Mối quan hệ ấy được quyết định bởi tính cách, khí chất của chủ thể.
Tính cách là sự kết hợp độc đáo các đặc điểm tâm lý ổn định của con người.
Những đặc điểm này quy định phương thức, hành vi điển hình của người đó trong những
điều kiện, hoàn cảnh nhất định, thể hiện thái độ của họ đối với thế giới xung quanh và
bản thân. Trong mỗi chủ thể thường lẫn lộn những nét tính cách tốt và những nét tính
cách xấu. Mỗi nét tính cách thường được biểu hiện qua những hành vi tương ứng nhưng
17
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
giữa tính cách với hành vi không phải luôn khớp với nhau như trường hợp “Khẩu Phật –
tâm xà” vẫn thường gặp.Tùy theo tính chất của khách thể trong giao tiếp, chủ thể cần
phát huy nét tính cách này hay nét tính cách khác.
Khí chất (tính khí con người) là sự biểu hiện về mặt cường độ, tốc độ và nhịp độ
của các hoạt động tâm lý trong hành vi của con người. Khí chất ảnh hưởng nhiều đến
khách thể giao tiếp, đến hiệu quả của giao tiếp. Con người có bốn khí chất cơ bản: Nóng
nảy – Trầm tĩnh; Sôi nổi – Lãnh đạm.
3.4.2 Quan hệ qua lại
Quan hệ qua lại chính là sự tương hỗ của nhân cách này với nhân cách khác hoặc
với cộng đồng. Quan hệ qua lại luôn luôn có mối liên hệ ngược giữa các chủ thể nhưng
không phải lúc nào cũng có cùng một mô thức (cùng một sắc thái).
Quan hệ qua lại có thể biểu hiện công khai nhưng cũng có thể ẩn giấu, ngấm ngầm
không thể hiện ra. Quan hệ qua lại là mối quan hệ giữa những chủ thể giao tiếp và rất
phức tạp bởi biểu tượng về các chủ thể này trong nhau thường xuyên biến động, thậm chí
có sự sai lệch.
Các yếu tố chi phối mối quan hệ qua lại thường xuất phát từ cảm nhận, nhận thức
giữa các chủ thể giao tiếp với nhau qua hình thức bên ngoài, khí chất, phẩm chất, phong
cách giao tiếp…
Như vậy, quan hệ qua lại là mối quan hệ rất phức tạp nhưng cũng rất lý thú. Nó
được hiện thực hóa trong giao tiếp và thông qua giao tiếp. Quan hệ qua lại cũng để lại
dấu ấn lên giao tiếp, tạo nên nội dung độc đáo của giao tiếp.
3.4.3 Vai trò xã hội trong giao tiếp
Vai trò xã hội là sự ấn định một vị trí nhất định mà mỗi cá nhân chiếm được trong
hệ thống các quan hệ xã hội. Vai trò đảm nhận tạo nên địa vị mà người đó có trong quan
hệ xã hội mà họ đang sống. Tùy thuộc vào hoàn cảnh xã hội mà mỗi người có vai trò nhất
định. Mỗi con người có thể đóng nhiều vai trò khác nhau, trong đó vai trò then chốt mà
cá nhân thường đồng hóa mình gắn với nghề nghiệp. Khi con người đóng một vai trò nào
đó sẽ có những hành vi ứng xử phù hợp với vai trò này. Sự chuyển dịch vai trò cá nhân
trong xã hội nói lên sự năng động của cá nhân, sự phát triển của tập thể, tài năng của
người lãnh đạo.
CÂU HỎI
1 Trình bày các mô hình giao tiếp thường gặp. Nêu mặt mạnh, mặt hạn chế của từng
mô hình.
2 Những điều kiện để trở thành một người phát tin tốt, một người nhận tin tốt, để có một
thông điệp tốt.
3. Hành vi giao tiếp là gì? Nguồn gốc chính của hành vi giao tiếp. Phân tích những yếu
tố tác động đến hành vi giao tiếp.
18
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
4. Hãy phân tích tính chất phức tạp của quan hệ qua lại trong quá trình giao tiếp.
BÀI TẬP CUỐI CHƯƠNG
1. Bài tập 01:
• Yêu cầu: Hãy phân tích yếu tố tâm lý của hành vi trong tình huống sau. Trên cơ sở
hiểu rõ bản chất của các hành vi đó, anh (chị) hãy viết tiếp câu chuyện để có kết
quả tốt đẹp nhất
• Tình huống: Trong một lần đang đánh bóng chuyền, bạn đã đánh bóng mạnh tay
và trúng vào mặt của một bạn khác (mối quan hệ với bạn này trước đó không được
tốt lắm và thật tâm bạn không muốn đánh trúng vào mặt người ta), làm bạn đó té
ngã. Bạn đó nổi nóng định xông vào đánh bạn.
Trước tình huống đó bạn sẽ xử lí ra sao?
2. Cho câu truyện ngụ ngôn sau:
Chim mẹ hỏi chim con trong nỗi mệt nhoài sau khi cõng con bay vượt qua giông
bão: “sau này mẹ già yếu không bay được nữa, con có cứu mẹ như mẹ vừa cứu con
không?”. Sau 1 lúc suy nghĩ, chim con trả lời: “con sẽ cứu con của con!”
Ẩn sau hình ảnh 2 con chim là hình ảnh của con người. Hãy phân tích cơ sở tâm lý
hình thành nên tâm trạng và thái độ của hai nhân vật. Nếu phải hóa thân vào một trong
hai đối tượng trên, bạn sẽ làm gì?
3. Hãy phân tích cơ sở của thủ thuật trong tình huống giao tiếp sau. Em rút ra được
bài học gì từ câu chuyện này
Một ông chủ cửa hàng đã dùng thủ thuật để bán lô quần áo ế ẩm của mình: ông bố
trí những người thân đến xếp hàng trước cửa hàng để chờ mua. Người nào sau khi mua
hàng xong đều bước ra đường với vẻ mặt hớn hở. Người đi đường thấy vậy liền cùng xếp
hàng để mua và chỉ trong vòng nửa ngày, ông đã bán hết lô hàng trên.
Bài tập 2: Hãy góp ý cho các nhân vật sau đây:
1. Em làm quen với một anh sinh viên học ngành khoa học tự nhiên, em rất vui vì
học ngành tự nhiên chắc là giỏi Toán, mà em thì yếu môn này. Bữa nọ em mời anh
ấy đến nhà chơi, nhưng anh ấy chẳng chào hỏi ai cả, chỉ cắm cúi ăn uống xong rồi
về khiến em thất vọng quá và quê với cả nhà… Em nên làm gì đây?
2. Em có một cô bồ quá ham vui, Đi chơi với em chưa đủ, cô nàng còn luôn yêu cầu
em dẫn bạn bè nam của em đi chung, rồi cô nàng còn cởi mở, đùa vui với chàng
trai đó khiến em cũng bực mình. Nay săp sinh nhật cô nàng, em không biết nên
tặng món quà gì cho cô nàng vui, mà hợp với tính cách ấy của cô nàng?
3. Năm ngoái, một bạn trai bày tỏ tình cảm với em, em chấp nhận. Xong rồi bạn ấy
lên thành phố học. Vì xa cách, em muốn kiểm tra tình cảm của bạn ấy xem có còn
với em không, nhưng không biết phải làm sao. Nói chuyện điện thoại thì ai biết
người ta nói thất hay nói dối???
19
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
4. Trong lớp em thích và để ý một cô bạn. Hôm nào vào lớp em cũng nhìn lén bạn ấy
vài lần. Thế rồi, lần nọ bạn ấy cũng nhìn lại em, hai ánh mắt gặp nhau, em gật đầu
chào và bạn cũng gật đầu chào, lại còn cười rất tươi nữa chứ. Như vậy là bạn ấy
cũng thích em rồi phải không ?
20
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC GIAO TIẾP
MỤC TIÊU
– Sinh viên phát biểu được khái niệm nội dung giao tiếp, nghĩa và đặc điểm
của các loại nghĩa, các loại ngôn ngữ thường sử dụng trong giao tiếp
– Sinh viên có ý thức trong việc sử dụng các loại nghĩa cũng như các hình
thức truyền nghĩa một cách phù hợp nhất để nâng cao hiệu quả giao tiếp
NỘI DUNG CHÍNH
Chương II gồm 3 bài:
Bài 4: Nôi dung giao tiếp
Bài 5: Ngôn ngữ trong giao tiếp
Bài 6: Khoảng cách trong giao tiếp
Với 3 bài này, chương 2 truyền tải những nội dung chính sau:
– Nội dung giao tiếp có 3 dạng cơ bản: hiển ngôn, hàm ngôn, ngụy biện. Mỗi dạng
đều có ý nghĩa riêng…Nội dung giao tiếp còn các các đặc tính quan trọng…góp
phần tạo nên nghệ thuật giao tiếp
– Các hình thức giao tiếp giao tiếp bằng phương tiện ngôn ngữ có lời, ngôn ngữ
không lời; bằng hình thức giao tiếp trực tiếp hoặc giao tiếp gián tiếp. Mỗi hình
thức giao tiếp đều ẩn chứa ưu điểm, nhược điểm nên các chủ thể giao tiếp phải
hết sức tỉnh táo, linh hoạt để có sự chọn lựa, sử dụng phù hợp nhất
Bài 4: NỘI DUNG GIAO TIẾP
4.1 NGHĨA VÀ SỰ TRUYỀN ĐẠT NGHĨA TRONG GIAO TIẾP :
4.1.1 Nghĩa trong ngôn ngữ giao tiếp :
Ngôn ngữ giao tiếp gồm: Ngôn ngữ có lời – Giao tiếp bằng ngôn từ ; Ngôn ngữ
không lời – Giao tiếp phi ngôn từ
* Nghĩa của từ trong ngôn từ:
Từ là một biểu tượng ám chỉ một sự vật, tư tưởng, cảm nghĩ, khái niệm
Ý nghĩa của ngôn từ được tạo bởi sự kết nối từ, các cụm từ với nhau theo một hệ
thống, một quy luật nào đó.
Nghĩa của từ hay một tập hợp từ có hai hình thức tồn tại :
+ Nghĩa khách quan : Là nghĩa tự thân của từ, không phụ thuộc vào ý muốn, sở
thích của một cá nhân nào (nghĩa hiển ngôn)
+ Nghĩa chủ quan : Là nghĩa do người sử dụng gán cho từ (nghĩa hàm ngôn).
* Nghĩa của các hành vi:
21
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
Bao gồm các hành vi, biểu tượng, đồ vật, sắc thái… mang ý nghĩa biểu thị tâm
lí, thái độ, tình cảm, được nhận biết bằng năm giác quan và tâm thế của đối tác giao
tiếp
4.1.2 Một số hình thức dùng « nghĩa » đặc biệt trong ngôn từ giao tiếp
4.1.2.1 Hàm ngôn trong giao tiếp:
* Hiển ngôn và hàm ngôn
Hiển ngôn là lời nói có ý nghĩa biểu hiện trực tiếp ra ngoài
Hàm ngôn là lời nói có ý nghĩa ẩn bên trong, đòi hỏi người nghe phải giải mã
để hiểu nghĩa người nói muốn ám chỉ. Ẩn nghĩa của câu nói phụ thuộc rất nhiều vào
bối cảnh hay tình huống, vào kinh nghiệm, cảm xúc của người nói, đòi hỏi sự giải mã
đặc biệt, vì ngoài ngôn ngữ còn có mã tâm lý xã hội
Theo Ducrot, hiển ngôn là « cái người ta nói ra », còn hàm ngôn là « cái
người ta muốn nói mà không tiện nói ra »
Trong cuộc sống gia đình, với bạn bè thân mật, phần lớn chúng ta dùng lối hiển
ngôn (vừa tiết kiệm thời gian, vừa đảm bảo tính chính xác của thông tin…)
* Tác dụng của hàm ngôn
– Người nói có thể không phải chịu trách nhiệm về thông điệp.
– Bộc lộ ý một cách lịch sự.
– Tạo ra hiệu quả mạnh mẽ, sâu sắc hơn cách nói tường minh.
4.1.2.2 Ngụy biện trong giao tiếp
* Thế nào là ngụy biện?
Ngụy biện là dùng kỹ xảo lôgic để liên kết các luận cứ vào một luận điểm
không phù hợp nhằm chứng minh, thuyết phục người khác tin theo một quan điểm sai
trái.
* Cơ cấu của ngụy biện
Dùng luận cứ đúng chen lẫn luận cứ sai
Dùng luận cứ đúng nhưng không đủ
Dùng luận cứ không phù hợp với luận điểm
* Các hình thức biểu hiện của ngụy biện
– Đè nén (represion): Đó là sự chối bỏ thực tế, ngoảnh đi trước những hiện tượng
đau buồn, tránh đề cập đến những vấn đề khó giải quyết, chỉ chấp nhận thấy
những cái muốn thấy.
– Đền bù (compensation): Cố gắng che đậy những khuyết điểm của cá nhân bằng
cách phát triển những nét tích cực trong nhân cách.
– Viện lý (rationalization): Đưa ra những lý lẽ không đúng sự thật để giải thich
thanh minh cho hành động, cảm xúc không tốt.
22
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
– Quy chụp (phóng chiếu- projection): Gán cho người khác những ý nghĩ, lỗi lầm
hay ước muốn của chúng ta. Thường chúng ta hay đổ lỗi cho số phận, cho sự hên
xui.
– Thoái bộ (regression): Dùng tình cảm, hành vi trẻ con để trốn tránh trách nhiệm,
tránh né thử thách.
* Ảnh hưởng của ngụy biện trong giao tiếp:
Ngụy biện có thể giúp chúng ta có thể giải thích được những hành vi, lập luận
sai trái của mình cũng như của đối tượng giao tiếp. Nhận biết chúng đồng thời cũng
giúp chúng ta nhận rõ mình, chấp nhận mình, chấp nhận thực tiễn chung quanh.
Nhưng nếu lạm dụng ngụy biện, con người sẽ bị đánh mất niềm tin từ người khác, bản
thân không phát triển được hoặc dễ lâm vào trạng thái stress. Điều này có thể sẽ giải
thoát chúng ta, giúp chúng ta có những bước tiến bộ vững chắc trong cuộc sống.
4.1.3 Sự truyền đạt nghĩa trong giao tiếp
4.1.3.1 Người phát
Người phát tin, muốn truyền đạt một ý nghĩ trừu tượng cho người khác, phải
bắt đầu từ việc mã hóa ý nghĩ đó. Mã hóa là quá trình chuyển từ ý nghĩ sang lời nói,
chữ viết hay các dấu hiệu, ký hiệu, các phương tiện phi ngôn ngữ…để biến ý nghĩa
thành thông điệp. Thông điệp sẽ được phát đi bằng các kênh truyền thông tương ứng
với quá trình mã hóa.
4.1.3.2 Người nhận
Người nhận tin sẽ nhận thông điệp bằng các giác quan của mình và giải mã.
Giải mã là một quá trình không đơn giản. Thông tin chính xác chỉ xảy ra khi cả hai
người phát và nhận gán cho các ký hiệu lập thành thông điệp cùng một ý nghĩa hoặc ít
ra là những ý nghĩa tương tự. Sau khi giải mã, khâu cuối cùng kết thúc mạch truyền
thông là thông qua phản hồi. Người nhận tín hiệu cho người phát biết rằng thông điệp
đã nhận được và tín chất của sự trả lời thường cho thấy một phần chất lượng của sự
thông hiểu.
Quá trình truyền đạt nghĩa trong giao tiếp là một quá trình tương hỗ và tuần
hoàn. Sự phản hồi tạo cơ hội để sửa hoặc định hình lại thông điệp ban đầu. Người gửi
có thể thêm hoặc thay đổi thông điệp ban đầu để làm sáng tỏ hơn và người nhận có thể
thử lại việc giải mã để đảm bảo rằng thông điệp đã được ghi nhận đúng là thông điệp
mà người phát có ý định muốn truyền.
23
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
Hình 4.1 Sơ đồ về quá trình truyền đạt nghĩa trong giao tiếp
4.2. CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC NỘI DUNG GIAO TIẾP
4.2.1. * Nội dung giao tiếp: Nội dung giao tiếp là những vấn đề, chủ đề được đề cập
Xem thêm: Sách Giáo Khoa Khoa Học Lớp 4
đến trong cuộc giao tiếp hoặc trong hành vi giao tiếp. Nội dung giao tiếp được thể hiện
qua các chủ đề giao tiếp và mức độ phong phú, sâu sắc của từng chủ đề.
Nội dung giao tiếp tốt có các tính chất:
– Nội dung phong phú, không với nghèo nàn, đơn điệu.
– Chủ đề mới và hấp dẫn, tích cực, không cũ và tẻ nhạt.
– Nội dung giao tiếp sâu sắc, cụ thể, chi tiết không chung chung, hời hợt …
– Nội dung logic và dễ hiểu, xúc tích, vui, hài hước…
4.2.2. Soạn thảo nội dung:
* Xác định mục đích, mục tiêu giao tiếp
Để có được nội dung giao tiếp mang tính thuyết phục cao, cần phải biết rõ mình
« muốn gì ? » và « với ai ? » để thuyết phục có hiệu quả. Không nên ôm đồm quá
nhiều mục tiêu, cần đặt những mục tiêu cụ thể để có thể kiểm tra sau buổi giao tiếp.
Một bài nói chuyện thường được chia làm 3 phần :
* Phần mở đầu
Thiết lập mối quan hệ với người nghe và phác qua những nội dung lớn sẽ trình
bày để mọi người dễ theo dõi.
Cần nắm được quy luật của sự chú ý: sự tập trung cao nhất của người nghe
được diễn ra chỉ trong vòng 30 giây đầu tiên và 30 giây cuối cùng của bài nói. Giữa
hai cao điểm đó, sự chú ý của người nghe tương đối kém, thỉnh thoảng có những đợt
sóng nhô cao tùy vào khả năng gây chú ý của người nói. Cần phải tận dụng quy luật
24
Giáo trình Khoa học Giao tiếp
này để lôi cuốn người nghe. Những lời nói đầu tiên không chỉ đơn thuần là nhập đề mà
còn phải gây được sự quan tâm và chiếm được cảm tình của mọi người.
* Phần nội dung
Chứa đựng những tư tưởng hay ý kiến then chốt. Để khắc sâu vào trí óc người
nghe và lôi cuốn được họ, bài phát biểu phải được phát triển dưới dạng một chuỗi các
luận điểm và luận cứ theo một logic chặt chẽ. Sự chuyển tiếp cần thực hiện một cách
cẩn thận để khỏi mất sự mạch lạc của câu chuyện.
Ngoài ra, cần linh hoạt sử dụng kết hợp một số thủ thuật để gây sự chú ý của
người nghe như sử dụng câu hỏi gợi mở, ví dụ, số liệu thực tế, trích dẫn câu nói của
những nhân vật nổi tiếng, những giai thoại, những câu chuyện khôi hài, những câu nói
đùa dí dỏm…Tuy nhiên, phải đúng liều, đúng lượng và phải tập trung làm nổi bật chủ
đề cần truyền tải.
* Phần kết
Nhắc lại những điểm then chốt. Tùy theo tính chất của bài phát biểu có thể có
lời chúc mừng, lời kêu gọi, những vấn đề nêu ra để người nghe giải quyết. Cần dành
thời gian để giải đáp thắc mắc từ người nghe.
4.2.3. Chuẩn bị thực hiện nội dung giao tiếp:
Để giao tiếp có hiệu quả, cần chuẩn bị đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng đến quá
trình giao tiếp, đặc biệt là nội dung giao tiếp. Sau đây là những yếu tố cơ bản để có
nội dung giao tiếp tốt :
Hiểu rõ nội dung giao tiếp: Để làm gì? Như thế nào? (chọn lựa kênh giao tiếp),
Có bản ghi nhớ (hoặc được viết ra, hoặc đã thuộc), sổ ghi chép…
Tìm hiểu đối tượng giao tiếp: Với ai? Trình độ, tính cách như thế nào? để chuẩn
bị các yếu tố khác cho phù hợp
Chuẩn bị cho bản thân: Chú ý trang phục và các phụ kiện đi kèm, tâm lí tự tin,
thể trạng tốt
Chuẩn bị cho môi trường giao tiếp: Sắp xếp, chọn lựa, tìm hiểu về thời gian,
không gian – địa điểm, thời tiết, ánh sáng…
Ngoài ra còn cần chú ý các yếu tố nhiễu để có thể khắc phục hoặc hạn chế
những ảnh hưởng không tốt, những cản trở đến cuộc giao tiếp.
CÂU HỎI
1. Hãy giới thiệu về các loại « nghĩa » đặc biệt trong ngôn từ giao tiếp trong giao tiếp
(định nghĩa, dẫn chứng minh họa, tác dụng)
2. Xác lập các bước để thực hiện một buổi giao tiếp trước công chúng.
3. Trình bày những thủ pháp để thu hút công chúng trong giao tiếp.
4. Hãy phác họa nội dung về một vấn đề và trình bày vấn đề đó trước lớp học
25
– Ứng dụng được những nguyên tắc, những lý luận cơ bản về giao tiếp. – Tích cực, dữ thế chủ động trong học tập, đặc biệt quan trọng là trong giờ học thực hành thực tế để hình thành cáckỹ năng giao tiếp, đồng thời không ngừng trau dồi, rèn luyện chúng cả trong đời sốngthường nhật để nâng chúng lên thành thẩm mỹ và nghệ thuật giao tiếp. 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN HỌC2. 1 Đối tượng nghiên cứu và điều tra của môn học giao tiếpMôn khoa học giao tiếp điều tra và nghiên cứu những yếu tố cơ bản sau đây : – Bản chất, đặc thù của quy trình giao tiếp – Các mô hình giao tiếp và đặc trưng của chúng – Các kiến thức và kỹ năng giao tiếp – Hiệu quả và những tác động ảnh hưởng đến hiệu suất cao của quy trình giao tiếp. – Các hiện tượng kỳ lạ tâm ý và tâm lý – xã hội diễn ra trong giao tiếp, văn hóa truyền thống giao tiếp, ứngxử của con người trong xã hội tân tiến trong đời sống cũng như trong việc làm. Giáo trình Khoa học Giao tiếp2. 2 Phương pháp học tập môn học nhập môn khoa học giao tiếpSinh viên hoàn toàn có thể sử dụng nhiều giải pháp khác nhau, sau đây là giải pháp cơ bản2. 2.1 Phương pháp duy vật biện chứngHai yếu tố khi nghiên cứu và phân tích, lý giải một hành vi giao tiếp đơn cử : – Thứ nhất, không có thế lực siêu tự nhiên nào mà chính là hiện thực xã hội, những quan hệxã hội, quan hệ kinh tế tài chính quyết định hành động hành vi giao tiếp của con người. Hành vi giao tiếp của con người chịu sự tác động ảnh hưởng của nhiều yếu tố, như : thực trạng, trường hợp, tâm ý, phong tục, tập quán, tuyền thống v.v. Các yếu tố tâm ý như nhu yếu, động cơ, mục tiêu của chủ thể giao tiếp pháp luật hành vi giao tiếp của họ. – Thứ hai, mỗi hành vi giao tiếp chịu sự ảnh hưởng tác động, chi phối của nhiều yếu tố khác nhau, vì thế không được tách rời, cô lập hành vi giao tiếp mà phải đặt nó trong mối quan hệ chặtchẽ, trong sự tác động ảnh hưởng tác động ảnh hưởng qua lại với những yếu tố đó mới hoàn toàn có thể lý giải nó một cáchchính xác và rất đầy đủ. 2.2.2 Phương pháp nghiên cứu và điều tra tài liệuHiện nay có rất nhiều khu công trình điều tra và nghiên cứu về giao tiếp đã được công bố, in ấn thànhsách hoặc được phổ cập trên những phương tiện thông tin đại chúng khác. Điều này chothấy, giao tiếp, ứng xử không chỉ là yếu tố mê hoặc, thiết thực, được nhiều người chăm sóc, mà còn là yếu tố rất phức tạp. Trong khoanh vùng phạm vi giáo trình này, tác giả không hề trình diễn đầyđủ toàn bộ những tri thức của quả đât về giao tiếp, ứng xử. Vì vậy, sinh viên cần sưu tầm, thamkhảo thêm những tài liệu khác để triển khai xong hơn nữa vốn hiểu biết của mình. 2.2.3 Phương pháp quan sátKhoa học giao tiếp là môn học về đời sống đời thường đang diễn ra hàng ngày, hànggiờ xung quanh tất cả chúng ta, về quan hệ người – người, về ứng xử giữa con người. chính vì thế, học tập môn khoa học giao tiếp không chỉ là học tập qua sách vở mà còn phải học tập trongcuộc sống, trải qua đời sống. Nghĩa là tất cả chúng ta phải chú ý quan tâm quan sát lời nói, hành vi, cửchỉ, điệu bộ, thái độ, cách ứng xử, cách ăn mặc … của những người xung quanh và cả củabản thân ( tự quan sát ), nghiên cứu và phân tích, nhìn nhận, so sánh chúng với những gì tiếp thu được quasách vở và tự rút ra cho mình những Kết luận thiết yếu. Đây cũng chính là một trong nhữngđiều kiện cơ bản để tất cả chúng ta để hoàn toàn có thể nhanh gọn văn minh và thành công xuất sắc trong giao tiếp. 3. KHÁI QUÁT NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA MÔN HỌCCó thể chia những nội dung cơ bản của môn học khoa học giao tiếp thành hai phần : phần chung và phần riêng. Phần chung trình làng những kiến thức và kỹ năng lý luận chung về giao tiếpnhư : khái niệm, vai trò, tính năng, cấu trúc của giao tiếp, những phương tiện đi lại giao tiếp v.v. Phần lý luận trình diễn những triết lý, những nguyên tắc, những đặc thù chung làm cơ sởcho phần rèn kiến thức và kỹ năng. Còn phần kỹ năng và kiến thức trình làng tiến trình, phương pháp, giải pháp để tổchức và triển khai một cuộc tiếp xúc có hiệu suất cao. Để giúp sinh viên nhìn nhận hiệu quả học tập của mình, đồng thời giúp củng cố kiến thứcvà rèn luyện kiến thức và kỹ năng, ở đầu mỗi chương đều có tiềm năng và nội dung tóm tắt của chương, ởcuối mỗi chương có phần câu hỏi và bài tập trường hợp để thực hành thực tế. Ngoài ra, cuối giáotrình còn có phần ôn tập, trong đó hướng dẫn giải hoặc đưa ra đáp án bài tập trường hợp vàgiới thiệu 1 số ít trắc nhiệm giao tiếp. Để những bài tập trường hợp phát huy được hiệu suất cao tốiđa, sinh viên chỉ nên xem phần hướng dẫn ở cuối sách sau khi đã giải thử những bài tập này. Hơn nữa, mỗi trường hợp đều hoàn toàn có thể có nhiều giải pháp xử lý, phần hướng dẫn chỉ nêuphương án có đặc thù gợi ýGiáo trình Khoa học Giao tiếpNhững người triển khai. Chương 1 : KHOA HỌC GIAO TIẾP VÀ HÀNH VI GIAO TIẾPMỤC TIÊU – Sinh viên phải phát biểu được những khái niệm : giao tiếp, hành vi giao tiếp và nêu được đặcđiểm của từng thành tố của hành vi giao tiếp. – Sinh viên thiết lập được cho bản thân một ý niệm giao tiếp đúng đắn, một thái độ tíchcực với hoạt động giải trí giao tiếp. NỘI DUNG CHÍNHChương I gồm 3 bài : Bài 1 : Giao tiếp và việc điều tra và nghiên cứu yếu tố giao tiếpBài 2 : Các cách tiếp cận hiện tương giao tiếpBài 3 : Cấu trúc của hành vi giao tiếpVới 3 bài này, chương I truyền tải những nội dung chính sau : – Giao tiếp là hoạt động giải trí xác lập và quản lý và vận hành những mối quan hệ xã hội giữa con người vớicon người hoặc giữa con người và những yếu tố xã hội khác, nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu những nhucầu nhất định. – Giao tiếp được bộc lộ đơn cử trải qua những hành vi. Hành vi giao tiếp là một chuỗihành động được thôi thúc bởi mục tiêu muốn thỏa mãn nhu cầu một nhu yếu nào đó – Các thành tố của hành vi giao tiếp là : những chủ thể giao tiếp, thông điệp, kênh truyền, bốicảnh giao tiếp và yếu tố nhiễu – Có 3 cách tiếp cận cơ bản để hiểu được thực chất của một hành vi giao tiếp : tiếp cận từyếu tố tâm ý, tiếp cận từ yếu tố văn hóa truyền thống, xã hội, tiếp cận từ yếu tố triết họcBài 1GIAO TIẾP VÀ VIỆC NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ GIAO TIẾP1. 1. GIAO TIẾP1. 1.1 Giao tiếp là gì ? Sự sống sót và tăng trưởng của mỗi con người luôn gắn liền với sự sống sót và tăng trưởng củanhững hội đồng xã hội nhất định. Không ai hoàn toàn có thể sống, hoạt động giải trí ngoài mái ấm gia đình, bạn hữu, địa phương, tập thể, dân tộc bản địa, tức là ngoài xã hội. Người La Tinh nói rằng : “ Ai hoàn toàn có thể mộtmình thì người đó hoặc là thánh nhân, hoặc là quỉ sứ ” Trong quy trình sống và hoạt động giải trí, giữa tất cả chúng ta với người khác luôn sống sót nhiềumối quan hệ. Đó là mối quan hệ dòng họ, huyết thống, quan hệ họ hàng, thôn xóm, quan hệhành chính – việc làm, quan hệ bạn hữu … Trong những mối quan hệ đó thì chỉ một số ít ít là cósẵn ngay từ khi tất cả chúng ta cất tiếng khóc chào đời ( quan hệ huyết thống, họ hàng ), còn đa sốcác quan hệ còn lại đa phần được hình thành, tăng trưởng trong quy trình tất cả chúng ta sống và hoạtđộng trong hội đồng xã hội, trải qua những hình thức tiếp xúc, gặp gỡ, liên lạc phong phú vớingười khác mà tất cả chúng ta thường gọi là giao tiếp. Giáo trình Khoa học Giao tiếpVậy, giao tiếp là gì ? Giao tiếp là hoạt động giải trí xác lập và quản lý và vận hành những mối quan hệ xãhội giữa con người với con người hoặc giữa con người và những yếu tố xã hội khác, nhằm mục đích thỏamãn những nhu yếu nhất định. Giao tiếp bao hàm hàng loạt tiềm năng ý nghĩa như trao đổi thông tin, kiến thiết xây dựng hoạtđộng kế hoạch phối hợp, tự nhận ra mình và tìm hiểu và khám phá người khác. Tương ứng với những yếutố trên, giao tiếp có 3 góc nhìn chính : giao lưu, tác động ảnh hưởng qua lại và tri giác. 1.1.2 Các mức độ giao tiếpHình 1.1 Các mức độ giao tiếp1. 1.3 Phân loại giao tiếpa. Phân loại theo phương tiện đi lại giao tiếp * Giao tiếp bằng ngôn từ : Giao tiếp bằng lời nói và chữ viết * Giao tiếp phi ngôn từ : Giao tiếp bằng những hành vi, hình tượng, sắc thái, vật phẩm … bộc lộ thái độ, tâm lí, tình cảm. b. Phân loại theo khoảng cách * Giao tiếp trực tiếp : là sự giao tiếp mặt giáp mặt giũa những chủ thể giao tiếp, trongcùng một khoảng trống. Đây là mô hình giao tiếp phổ cập nhất trong đời sống con người. * Giao tiếp gián tiếp : Là sự giao tiếp trong đó những chủ thể tiếp xúc với nhau thông quangười khác hoặc trải qua những phương tiện đi lại truyền tin. c. Phân loại theo qui cách * Giao tiếp chính thức : Là sự giao tiếp mang đặc thù công vụ, theo chức trách, quyđịnh, thể chế. Ví dụ : hội họp, mít tinh, giờ học … Trong giao tiếp chính thức, yếu tố cần traođổi, tranh luận thường được xác lập trước, thế cho nên thông tin thường có tính đúng chuẩn cao. * Giao tiếp không chính thức : Là sự giao tiếp mang tính cá thể, không câu nệ vàothể thức, hầu hết dựa trên sự hiểu biết về nhau giữa những chủ thể. Ví dụ : Bạn bè, đồngnghiệp … trò chuyện, hoặc giao tiếp trải qua người thứ ba – “ tam sao thất bản ”. Ưu điểmcủa giao tiếp không chính thức là gợi không khí thân tình, cởi mở và tất cả chúng ta hoàn toàn có thể tự dotrao đổi những yếu tố mà tất cả chúng ta chăm sóc. Giáo trình Khoa học Giao tiếpTrong đời sống, tất cả chúng ta cần biết sử dụng phối hợp giao tiếp không chính thức vớigiao tiếp chính thức để tạo không khí thân thương, cởi mở và thân mật nhau, tạo điều kiện kèm theo thuậnlợi cho giao tiếp chính thức đạt hiệu quả. 1.1.4 Chức năng của giao tiếpCác nhà khoa học đã có những nhìn nhận khác nhau về công dụng của giao tiếp. Verderber ( 1990 ) cho rằng giao tiếp có ba tính năng cơ bản. * Chức năng tâm lí : Giao tiếp phân phối những nhu yếu tâm ý, niềm tin con người * Chức năng xã hội : Giao tiếp để tăng trưởng và thực thi những mối quan hệ xã hội. * Chức năng lập quyết định hành động : Giao tiếp để trao đổi, nhìn nhận thông tin và tạo ảnh hưởngđối với người khácTrong khoa học giao tiếp lúc bấy giờ, hoàn toàn có thể xác lập công dụng giao tiếp là. * Chức năng thông tin : Muốn thông tin và truyền tin, người ta thường trải qua giaotiếp. Giao tiếp làm cho thông tin được truyền từ người này sang người khác, vương quốc nàysang vương quốc khác, thế hệ này sang thế hệ khác, tạo thành kho tàng tri thức khổng lồ cho xãhội loài người. * Chức năng giải tỏa xúc cảm : Giao tiếp là cho những cảm hứng tích cực của con ngườiđược nhân lên, nhưng giao tiếp lại làm cho những cảm hứng tíêu cực được vơi đi rất nhiều. manglại sự cân đối tâm ý và tâm ý tích cực cho con người. Nếu không có giao tiếp, sẽ không cócảm xúc, không tăng trưởng tâm ý. * Chức năng thiết lập mối quan hệ liên nhân cách : Trong đời sống, con người cần rấtnhiều mối quan hệ. Các mối quan hệ đa phần được thiết lập trên cơ sở hoạt động giải trí giao tiếp. Nếu không giao tiếp sẽ không có mối quan hệ nào. Ngược lại giao tiếp nhiều sẽ có nhiều mốiquan hệ, “ người năng chào năng thân ” * Chức năng tổ chức triển khai và phối phợp hoạt động giải trí : Khoa học kỹ thuật của con người pháttriển đến mức độ cao, hoạt động giải trí của con người phong phú và phức tạp, con người hải phối hợphoạt độn, do đó con người phải giao tiếp để tranh luận để thống nhất về tiềm năng, kế hoạch vàphương thức hoạt động giải trí. 1.2 VAI TRÒ CỦA GIAO TIẾPGiao tiếp có vai trò đặc biệt quan trọng quan trọng trong đời sống xã hội và đời sống con người1. 2.1. Giao tiếp là tiền đề cho sự tăng trưởng của sức khỏe thể chất * Giao tiếp kém, ảnh hưởng tác động xấu đến sức khỏe thể chất, đến đời sống – Người không có kỹ năng và kiến thức giao tiếp tốt không thổ lộ được tâm trạng, không có ngườihiểu nổi tâm tình của mình, không san sẻ tâm tư nguyện vọng, tâm trạng, tình cảm với người xung quanhnên dễ rơi vào trạng thái đơn độc dù sống ngay giữa đám đông. – Sự đơn độc, khác biệt làm cho con người dễ bị suy sụp về sức khỏe thể chất, niềm tin, dễ mắcphải những căn bệnh về tim mạch, tinh thần và hoàn toàn có thể có những dự tính xấu đi, bế tắc … Để chứng minh và khẳng định can đảm và mạnh mẽ vai trò to lớn của giao tiếp trong đời sống, David W.Johnson trong tác phẩm Reaching Out ( Với tới tha nhân ) đã mượn lời một nhân vật thốt lênrằng : “ Chúng ta phải yêu quý nhau hay là chết ”. * Giao tiếp tốt đẹp với mọi người xung quanh sẽ mang lại đời sống tốt đẹpGiáo trình Khoa học Giao tiếp – Con người có mối quan hệ tốt đẹp với đời sống chung quanh sẽ nhận được niềmvui, sự tương hỗ để có một chỗ đứng vững vàng trong xã hội, trong sự nghiệp và sẽ tìm thấyđược niềm hạnh phúc cùng một tương lai luôn rộng mở. – Mối quan hệ tốt đẹp với đời sống chung quanh còn mang lại tuổi thọ cho con người : theo một số ít cuộc tìm hiểu được công bố thoáng rộng, phái mạnh ở độ tuổi 47, nếu ly dị hay góa vợthì tỷ suất tử trận sẽ cao hơn nhiều lần so với những người có đời sống niềm hạnh phúc. – Mối quan hệ với đời sống xung quanh ảnh hưởng tác động rõ ràng đến sức khỏe thể chất sức khỏe thể chất củacon người : kinh nghiệm tay nghề và những cuộc tìm hiểu cũng chứng tỏ rằng nếu có sự tương hỗ củangười thân, của xã hội bệnh nhân sẽ hồi sinh nhanh gọn thuận tiện. 1.2.2. Giao tiếp là điều kiện kèm theo cho con người hình thành, hoàn thành xong nhân cách – Qua giao tiếp, từ sự cung ứng và phản hồi của người xung quanh, con người tiếp nhậnkiến thức về quốc tế, về bản thân để hình thành nên nhân cách. – Con người bộc lộ nhân cách, liên tục kiểm soát và điều chỉnh và triển khai xong nhân cách bản thânnhờ vào quy trình giao tiếp. Sự hoàn thành xong nầy diễn ra liên tục trong suốt cuộc sống con người. 1.1.3. Giao tiếp tốt sẽ tạo những quan hệ thuận tiện cho công cuộc làm ăn, chung sống – Giao tiếp tốt sẽ là điều kiện kèm theo thuận tiện cho công cuộc làm ăn tăng trưởng : con người khicó mối quan hệ tốt với những người chung quanh sẽ nhận được sự yêu thương, tương hỗ, sẽ cóchỗ đứng vững vàng trong đời sống và thuận tiện có những bước thăng quan tiến chức trong sự nghiệp. – Một xã hội được kiến thiết xây dựng trên nền tảng của mối giao tiếp ngặt nghèo, tốt đẹp sẽ cónhững bước tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ. Dễ dàng nhận thấy ở một xã hội kém tăng trưởng, mối tươngtác của những thành viên trong xã hội đó rất mờ nhạt, giao tiếp trong xã hội nhiều hạn chế, kinhtế thường rơi vào thực trạng manh mún, đời sống tự cung tự túc tự cấp là chủ yếu1. 3 CÁC QUAN NIỆM TRIẾT HỌC VỀ GIAO TIẾP1. 3.1 Quan niệm của Phật giáo “ Kẻ nào khuyến mãi người khác bông hồng, trên tay kẻ đó phảng phất mùi thơm ”. Cuộc sống niềm hạnh phúc luôn dành cho những người sẵn sàng chuẩn bị mở lòng, trao tặng ngườikhác những điều tốt đẹp, bởi khái niệm “ cho ” luôn bao hàm trong nó khái niệm “ nhận ” 1.3.2 Quan niệm của Nho giáoTheo Khổng Tử : “ Cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cứ ” ( Cùng đường sẽ cóbiến, có biến mới thông, có thông mới lâu bền được ). Nguyên tắc quan trọng trong đạo xử thế của Khổng Tử là phải biết biến. Biến ở đâylà sự ứng xử, xử lý tình thế cho tương thích với từng trường hợp, từng đối tượng người dùng giao tiếp. Trong cuộc sống, nếu khi nào cũng nguyên tắc cứng ngắc thì khó có được thành công xuất sắc. Đôikhi, sự thiếu uyển chuyển còn mang đến cho người ta một sự thất bại thảm hại. Truyện cổdân gian Nước Ta có câu truyện cười “ Làm theo lời vợ dặn ” hoàn toàn có thể xem là bài học kinh nghiệm ý nhịminh họa được cho phép xử thế của Khổng Tử : phải biết biến hay là chết. Cùng ý nghĩa với ý niệm trên, Kinh Thánh của đạo Thiên Chúa có dạy rằng nếucuộc đời đóng sập cánh cửa này trước mặt ta thì cũng có nghĩa là đang có một cánh cửa khácđược mở ra. Tuy nhiên, sự biến này chưa chắc đã dẫn con người tới chỗ thông nếu con ngườichưa được trang bị tốt kỹ năng và kiến thức sống. Danh ngôn phương Tây có câu nói rất hay rằng conđường luôn có dưới chân người giàu nghị lực. Hay nói khác đi, để hoàn toàn có thể sống và sống tốt, Giáo trình Khoa học Giao tiếpchúng ta phải vững vàng đi vào đời sống, hòa nhập với đời sống trong tâm thế của ngườitrong cuộc. Khi đó, kiến thức và kỹ năng giao tiếp tốt với hội đồng sẽ giúp tất cả chúng ta tìm được conđường thông suốt cho bản thân. Như vậy, đạo xử thế hay mối quan hệ giữa con người với nhau hay giao tiếp xã hộiphải có sự đổi khác, kiểm soát và điều chỉnh uyển chuyển cho tương thích với sự biến hóa của môi trườngsống thì con người mới hoàn toàn có thể sống sót, tăng trưởng cùng với xã hộiHoặc theo Tử Phòng ( người giúp Lưu Bang thiết kế xây dựng cơ đồ nhà Hán. Khi nghiệp lớnđã triển khai xong, ông từ bỏ quan trường lên núi tìm đường tu tiên ), thì sống trong cuộc sống “ Phải luôn tự biết mình là ai. Muốn thế phải hiểu rõ cái thời mình đang sống ”. Quan niệm này đi sâu lan rộng ra hơn ý niệm của Khổng Tử, không riêng gì có biến mớithông, có thông mới lâu bền, Tử Phòng nhấn mạnh vấn đề biết người biết ta thì trăm trận mới trămthắng. Nguyễn Trãi, kĩ năng, đức độ rạng ngời “ sáng tựa sao Khuê ” nhưng chỉ vì khôngchấp nhận được cái thời mình đang sống mà phải nhận lấy hậu quả vô cùng quyết liệt chocuộc đời. Bản án “ tru di tam tộc ” không chỉ đẫm máu dòng họ của Nguyễn Trãi và nhữngdòng họ có tương quan đến ông mà còn làm nhỏ máu biết bao thế hệ tâm hồn Nước Ta quantâm đến lịch sử vẻ vang dân tộc bản địa. 1.3.3 Quan niệm của triết học Mác – Lênin “ Con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội ” Quan niệm này làm rõ hơn về tầm quan trọng lớn lao của giao tiếp. Con người sẽkhông thể là con người nếu không có thiên nhiên và môi trường sống với những mối quan hệ vô cùng đadạng và phức tạp của nó. Giao tiếp giữ vai trò quyết định hành động trong việc xác lập tư cách Ngườicho con người, để từ đó con người phát huy vai trò của mình, thôi thúc xã hội tăng trưởng. CÂU HỎI1. Giao tiếp có vai trò như thế nào trong đời sống con người ? 2. Giao tiếp có vai trò như thế nào trong sự hình thành và tăng trưởng của xã hội ? 3. Những ngành nghề nào thiết yếu phải có kiến thức và kỹ năng giao tiếp tốt ? Tại sao ? BÀI TẬP1. Trong số những hiện tượng kỳ lạ được nêu ra dưới đây, hiện tượng kỳ lạ nào là giao tiếp ? a. Một đứa trẻ đang trò chuyện với một con búp bê. b. Người thư ký đang soạn thảo một bức thư điện tử để gửi đến một đối tác chiến lược ở xa. c. Hai người đang cự cãi ( to tiếng ) với nhau. d. Hai đứa trẻ đang chơi đùa với nhau. e. Một nhân viên cấp dưới bán hàng đang lý giải cho người mua mua một mẫu sản phẩm. f. Bộ trưởng ngoại giao những nước ASEAN gặp nhau để thống nhất về cuộc gặp thượngđỉnh giữa những nguyên thủ vương quốc. 2. Giáo trình Khoa học Giao tiếpGiáo trình Khoa học Giao tiếpBài 2 : CÁC CÁCH TIẾP CẬN HIỆN TƯỢNG GIAO TIẾPGiao tiếp là một quy trình phức tạp, nhiều mặt, nhiều mức độ của sự tác động ảnh hưởng qua lạigiữa con người với con người. Trong giao tiếp có những mặt : Trao đổi thông tin, ảnh hưởng tác động lẫnnhau, nhận thức, hiểu biết lẫn nhau. Do đó cần tiếp cận hiện tượng kỳ lạ giao tiếp như thể một đốitượng khoa học liên ngành : Tâm lý học, Ngôn ngữ học, văn hóa truyền thống, triết lý thông tin … 2.1 TIẾP CẬN TỪ YẾU TỐ TÂM LÝTíêp cận hiện tượng kỳ lạ giao tiếp từ yếu tố tâm ý để thấy được cơ sở quan trọng nhất củahoạt động giao tiếp của con người, đó chính là tâm ý. Tất cả những hiện tượng kỳ lạ tâm ý diễn ratrong tâm lý của con người, gắn với hoạt động giải trí của con người và nó quản lý và điều hành những hoạtđộng của con người, đặc biết là hoạt động giải trí giao tiếp : Hình 1.2 Các yếu tố tâm lí2. 1.1 Những nhu yếu cơ bản của con ngườiAbraham Maslow là người tiên phong tưởng tượng sự tăng trưởng của con người như nhữngbậc thang, mỗi nhu yếu trong số đó phải được thỏa mãn nhu cầu trong mối quan hệ với môi trườngdọc theo chiếc thang tăng trưởng này. Theo ông những nhu yếu là cơ sở cho sự tăng trưởng lànhmạnh của con người. Hệ thống những nhu yếu cơ bản của con người có phân cấp. Mỗi bậc củathang nhu yếu phụ thuộc vào vào bậc trước đó. Nếu có một nhu yếu không được cung ứng, nó sẽảnh hưởng đến năng lực của cá thể ở những bước tăng trưởng tiếp theo. TI P C N T Ế Ậ ỪY U T TÂM LÝẾ ỐNhu cầuTìnhcảmNh n ậth cứTínhcáchNi mềtinGiáo trình Khoa học Giao tiếpHình 1.3 Bậc thang những nhu yếu cơ bản ( theo Maslow ) ( Nguồn : Quản lí nguồn nhân lực, Paul Hersey, Ken Blanc Hard ) * Nhu cầu sinh học : Bậc thang này rất cơ bản và rất quan trọng. Nếu nhu yếu cơ bản này chưa được đáp ứngđủ thì những nhu yếu khác ít có động cơ thôi thúc. Nhưng nếu nó được cung ứng thì nhu yếu kếtiếp lại Open nổi trội hơn và liên tục như vậy. Khi nhu yếu sống sót được thỏa mãn nhu cầu thì conngười sẽ hướng về sự bảo đảm an toàn. * Nhu cầu được bảo đảm an toàn : Đây là nhu yếu tự duy trì và chuẩn bị sẵn sàng cho tương lai vững chãi hơn. An toàn có nghĩa làan toàn để sống trong một thiên nhiên và môi trường được cho phép sự tăng trưởng của con người được liên tục vàlành mạnh. Điều này có nghĩa là một ngôi nhà, việc làm, điều kiện kèm theo được chăm nom y tế và sựbảo vệ khung hình. Sau khi nhu yếu này được thỏa mãn nhu cầu thì nhu yếu xã hội hoàn toàn có thể Open nổi trộihơn, nhưng cũng hoàn toàn có thể con người trở nên an phận, bảo thủ. * Nhu cầu xã hội : Trong đời sống, mỗi cá thể đều mong ước mình “ thuộc về ” những nhóm khác nhau vàđược đồng ý, được yêu thương, nỗ lực có mối quan hệ tốt đẹp với người khác. Cảm tưởngkhông được yêu thương, bị bỏ rơi, bị cô lập là cội rễ của hầu hết những trường hợp không hộinhập. Chúng ta đã ghi nhận được là trẻ nhỏ trong 1 số ít trại trẻ mồ côi, dù được chăm nom tốtvề mặt sức khỏe thể chất, nhưng chúng không lớn lên ( gọi là “ lùn tâm lí ” ) và tăng trưởng bình thườngnhư trẻ nhỏ khác. * Nhu cầu được tôn trọng : Khi đã được gật đầu thì con người lại muốn được nhìn nhận cao. Điều này đơn thuần lànhu cầu cảm thấy mình tốt, cảm nhận con người mình có giá trị và một chút ít tự hào về nhữngthành quả của bản thân. Một mặt, con người muốn tự do và độc lập, mặt khác cũng muốn cósức mạnh, năng lượng khi đối phó với cuộc sống. Việc thỏa mãn nhu cầu nhu yếu được tôn trọng giúp conngười tự tin, có được uy tín, quyền lực tối cao và cả sự kiềm chế. Con người cảm thấy có ích và cóảnh hưởng đến thiên nhiên và môi trường xung quanh, được sụ kính nể của người khác. Sự tự nhìn nhận củamọi người giúp cho con người nỗ lực nhiều hơn nữa. Ngược lại thì hoàn toàn có thể dẫn đến những hành viphá hoại. * Nhu cầu tự chứng minh và khẳng định mình : Tự khẳng định chắc chắn mình là nhu yếu để tăng đến mức tối đa tiềm năng của một người. Nhucầu này gồm có những khát vọng và những nỗ lực để trở thành cái mà một người hoàn toàn có thể trởthành. Maslow nói : “ Một con người muốn hoàn toàn có thể sẽ là gì, thì anh ta sẽ phải là cái đó ” Vì vậy, tự chứng minh và khẳng định mình là một mong ước làm cái điều mà người ta hoàn toàn có thể đạt được. Đó là nhucầu về tăng trưởng nhân cách – thời cơ cho tăng trưởng bản thân và tự học tập. Có thời cơ để pháttriển tiềm năng bản thân và những kĩ năng của một con người tạo cho ta cảm giác quan trọngvề tự triển khai xong. * Đặc điểm của những nhu yếu cơ bản của con người : Nhu cầu là nguyên do hoạt động giải trí của con người. Con người nỗ lực hoạt động giải trí đểthỏa mãn những nhu yếu cơ bản. Bất cứ nhu yếu nào cũng có mục tiêu. Nhu cầu và mục tiêu luôn đổi khác. Cùng mộtnhu cầu, mỗi con người hoàn toàn có thể hướng đến mục tiêu không giống nhau và ngược lại. 10G iáo trình Khoa học Giao tiếpCác nhu yếu không khi nào được thỏa mãn nhu cầu trọn vẹn. Khi một nhu yếu vừa được thỏamãn, nhu yếu tiềm ẩn khác sẽ nổi lên và ảnh hưởng tác động lên mối chăm sóc của con người. Ngoài ra, đặc thù tâm lí chung của con người thông thường là tìm kiếm sự thỏa mãncác nhu yếu của mình, tìm cách lánh xa đau đớn, lánh xa cảm xúc không an tâm. Các hành vi củacon người bị chi phối bởi cái muốn và cái sợ : hành vi để đạt được cái mình muốn vàtránh cái mình sợ. Nhu cầu đã đủ sức mạnh thôi thúc hành vi sẽ trở thành động cơĐộng cơ như thể một lực lượng bên trong thôi thúc hành vi của con người. Trong mỗithời điểm hoàn toàn có thể sống sót nhiều nhu yếu. Nhu cầu nào mạnh nhất sẽ trở thành động cơ đóng vaitrò thôi thúc hành vi dựa trên sự nhận thức, tri thức, niềm tin và tình cảm so với một sựvật, hiện tượng kỳ lạ. Có nhiều yếu tố tác động ảnh hưởng đến động cơ như lối sống, kiến thức và kỹ năng, ý niệm, tình cảm, triển vọng đời sống và nghề nghiệp. Động cơ hoàn toàn có thể phát sinh từ tình cảm hoặc ýthức2. 1.2 Tình cảmMột trong những yếu tố chi phối hành vi giao tiếp là tình cảm và những quy luật trongđời sống tình cảm. Giao tiếp hoàn toàn có thể bị tình cảm tác động như sau : – Quy luật lây lan của tình cảm : Có ảnh hưởng tác động lớn trong giao tiếp, chính nó tạo ra sự “ adua, hùa theo, nói theo … ” trong quy trình giao tiếp. – Quy luật thích ứng : Tạo nên sự chai sạn trong giao tiếp – “ Biết rồi, nói mãi nhàmchán ” – Quy luật tương phản : Hai thái độ trái chiều – “ Nhường nhịn, yên lặng, dồn nén và bùngphát, cục cằn … trong giao tiếp ”. – Quy luật vận động và di chuyển : Trong GT phải sáng suốt để không “ giận cá chém thớt ”. – Quy luật trộn lẫn : Nhiều quan điểm khác nhau, có khi trái ngược với nhau trong một conngười, trong cùng một thời gian ”, tạo ra “ Ý kiến đa chiều ” trong giao tiếp. 2.1.3 Nhận thức • Nhận thức là quy trình tập hợp, lựa chọn, sắp xếp thông tin nguồn vào để tạo ra một bứctranh có ý nghĩa về quốc tế xung quanh. Giao tiếp của con người phụ thuộc vào nhiều vào sựnhận thức của họ. Nhờ có nhận thức, con người xem xét, tổ chức triển khai và lý giải về hiện thựckhách quan. Nhận thức và sự hiểu biết của con người biểu lộ qua nội dung giao tiếp và trựctiếp pháp luật nội dung giao tiếp. 2.1.4 Tính cách và khí chất • Tính cách và khí chất là những đặc thù riêng của cá thể có tác động ảnh hưởng nhiều đếnhoạt động giao tiếp. Tình tình vui tươi hòa đồng, cởi mở, thân thiện, năng động … thường làmcho người ta giao tiếp thuận tiện hơn, giao tiếp tốt hơn, giao tiếp nhiều hơn … trái lại tínhtình trầm lặng, nhút nhát, hay những người có tâm ý hướng nội thường giao tiếp ít hơn. 2.1.5 Niềm tinNiềm tin là sự chứng minh và khẳng định bằng ý nghĩ của con người với một đối tượng người tiêu dùng nào đó, về mộtvấn đề nào đó. Niềm tin có một vai trò quan trọng trong giao tiếp. Tin vào đối tượng người dùng giaotiếp, tin vào tính đúng mực của thông điệp giao tiếp, và tự tin vào chính bản thân mình … sẽ làmcho quy trình giao tiếp thành công xuất sắc hơn. Người ta chỉ có niềm tin khi đã có rất đầy đủ kiến thức và kỹ năng, thông tin để giao tiếp và một sự tập luyện cẩn trọng, kỹ càng những kỹ năng và kiến thức giao tiếp thiết yếu. 11G iáo trình Khoa học Giao tiếp2. 2 TIẾP CẬN TỪ YẾU TỐ VĂN HÓAVăn hóa là yếu tố cơ bản quyết định hành động hoạt động giải trí giao tiếp của con người. Cách thức hànhvi giao tiếp ứng xử của con người có cơ sở từ trình độ văn hóa truyền thống của cá thể đó. Trình độ vănhóa của mỗi cá thể có được từ việc tiếp thu những yếu tố bên ngoài và được kiểm soát và điều chỉnh theolăng kính cá thể. Mỗi một con người sinh ra và lớn lên đều được tiếp thu những điều cơ bảnvề giá trị, sự cảm thụ, sự ưa thích, tác phong và hành vi đặc trưng cho mái ấm gia đình của mình vànhững thể chế cơ bản của xã hội. Từ đó giao tiếp con người cũng có phương pháp ứng xử đặctrưng với nền văn hóa truyền thống đã tiếp thu. Các yếu tố văn hoá bao gồmHình 1.4 Các yếu tố văn hóa2. 2.1 Nền văn hoá • Văn hóa là một mạng lưới hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và niềm tin do con người sáng tạora và tích góp trong quy trình hoạt động giải trí thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môitrường tự nhiên và xã hội. Nền văn hóa truyền thống được tạo nên bởi toàn bộ những văn hóa truyền thống của xã hội nhưvăn hóa siêu thị nhà hàng, văn hóa truyền thống thời trang, văn hóa truyền thống giao tiếp ứng xử, văn hóa truyền thống giao thông vận tải, văn hóaxã hội … 2.2.2 Văn hóa giao tiếp. Cũng như những mặt khác của đời sống con người, giao tiếp rất cần có văn hóa truyền thống. Vănhóa giao tiếp đó là những chuẩn mực của giao tiếp, những nét đẹp trong giao tiếp … để hoạtđộng giao tiếp ngày càng triển khai xong và tốt đẹp. Mỗi dân tộc bản địa, tôn giáo, chủng tộc, địaphương … đều có văn hoá giao tiêp tốt đẹp. tạo điều kiện kèm theo cho mọi người cùng san sẻ nhữnggiá trị niềm tin do có chung kinh nghiệm tay nghề và thực trạng sống. 2.2.3 Văn hóa ứng xử. Cùng với đạo đức học, văn hóa truyền thống ứng xủ góp thêm phần không nhỏ để tạo ra một xã hội vănminh, dân chủ, lành mạnh, từ đó mang lại đời sống niềm hạnh phúc cho con người trong xã hội. Ứng xử một cách hợp tình, hài hòa và hợp lý, khiêm nhường, nhân đạo … luôn luôn tạo ra sự bình yêntrong đời sống. Ngược lại, những cách ứng xử thô bạo, cực đoan, hiếu chiến, quan liêu, máy móc … thường gây ra những hậu quả không tốt. V N HÓAĂV n hóa ăgiao tiếpVăn hoaứng xửNền văn hóa12Giáo trình Khoa học Giao tiếpGiao tiếp được tiếp cận từ yếu tố văn hóa truyền thống để tìm ra những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp tronggiao tiếp và thiết kế xây dựng nền văn hóa truyền thống giao tiếp ứng xử đẹp nhất. 2.3 TIẾP CẬN TỪ LÝ THUYẾT THÔNG TINLý thuyết thông tin tìm ra những phương pháp truyền tin đa dạng và phong phú, phong phú, thuận tiện, nhanh và đúng mực để hoạt động giải trí giao tiếp của con người ngày càng tăng trưởng. Vì dụ như đàiphát thanh, truyền hình, điện thoại thông minh, mạng Internet … Nhờ có khoa học thông tin mà hoạtđộng giao tiếp của con người đã tăng trưởng rất nhanh, và đạt trình độ cao. CÂU HỎI1. Trình bày những đặc thù của bậc thang nhu yếu theo Maslow. Những giá trị vật chất cóphải luôn là động cơ điều khiển và tinh chỉnh hành vi giao tiếp không ? Tại sao ? 2. Các yếu tố Tâm lý : Tình cảm, tính cách, nhận thức và niềm tin có tác động ảnh hưởng như thế nàođến hoạt động giải trí giao tiếp ? Hãy cho ví dụ minh họa ! 3. Văn hóa, ngôn từ, kỹ thuật tiếp thị quảng cáo có ảnh hưởng tác động đến hành vi giao tiếp của conngười như thế nào ? BÀI TẬP1. Hãy nghiên cứu và phân tích tâm ý những nhân vật trong trường hợp giao tiếp sau đây : 13 Ðộng cơHành viHành độnghướng đíchHành độngthực hiệnMục đíchGiáo trình Khoa học Giao tiếpBài 3 : HÀNH VI GIAO TIẾP3. 1 HÀNH VI GIAO TIẾP3. 1.1 Thế nào là hành vi giao tiếp ? Hành vi là một chuỗi hành vi, lời nói, ứng xử giữa người với người trước mộttình huống hoặc một thực trạng nhất định. Trong một ngày, một người hoàn toàn có thể có nhiềuhành vi giao tiếp khác nhau vì có nhiều tình tuống khác nhau và giao tiếp với nhiều đốitượng khác nhau. Ví dụ, một giáo viên khi ở trên lớp giao tiếp với học viên, khi về nhà lạigiao tiếp với bạn hữu. Mỗi đối tượng người dùng trên, giáo viên phải giao tiếp khác. Hành vi Giao tiếp được thôi thúc bởi tiềm năng muốn thỏa mãn nhu cầu một nhu yếu nàođó. Việc thỏa mãn nhu cầu nhu yếu tương quan đến năng lực của chủ thể giao tiếp. Nếu chưa thỏamãn nhu yếu, chủ thể giao tiếp hoàn toàn có thể lập lại hành vi giao tiếp, hoặc biến hóa mục tiêu, hoặc vỡ mộng, … 3.1.2 Tính chất của hành vi giao tiếp : Hình 2.4 Tính chất của hành vi giao tiếp3. 1.3 Những yếu tố ảnh hưởng tác động đến hành vi giao tiếpYếu tố di truyền : Tác động đến sự tăng trưởng của khung hình, trí tuệ, đời sống niềm tin, tình cảm của con người. Đó là nguồn gốc sâu xa ảnh hưởng tác động đến hành vi giao tiếp. Sự tác động ảnh hưởng của xúc cảm, tâm lý lên hành vi : Đây là yếu tố quan trọng, chủ yếuquyết định tính chất của hành vi. Những xúc cảm càng bị chôn dấu càng có năng lực trởthành động cơ của những hành vi xấu đi, mang tính hủy hoại. Môi trường xã hội : Cơ hội học hỏi, cách thỏa mãn nhu cầu những nhu yếu cá thể, những vai tròxã hội đảm nhiệm và sự chi phối của xã hội trong việc nhìn nhận vai trò. 3.2 CÁC THÀNH TỐ CỦA HÀNH VI GIAO TIẾP3. 2.1 Người phát tin ( nguồn ) Để trở thành người giao tiếp tốt, người phát tin phải là người tự tin. Biểu hiện củangười tự tin là bộc lộ những hiểu biết của mình về nội dung thông điệp, về bối cảnh14Giáo trình Khoa học Giao tiếptruyền đạt thông điệp và cả hiểu biết về người đảm nhiệm thông điệp của mình. Nếu khônghiểu người mà mình truyền đạt thông điệp tới sẽ hoàn toàn có thể dẫn đến thông điệp bị hiểu sai. 3.2.2 Người nhận tinNgười nhận tin sẽ là người phản hồi lại những thông điệp đã được tiếp đón. Sựphản hồi này hoàn toàn có thể bằng lời hay bằng những hình thức khác. Đây cũng là cơ sở để đánhgiá mức độ hiểu thông điệp của người đảm nhiệm. Người nhận tin cũng luôn tham gia vào quy trình giao tiếp với những ý tưởng sáng tạo vàtình cảm hoàn toàn có thể tác động ảnh hưởng đến cách họ hiểu thông điệp của người phát tin cũng như cáchhọ phản hồi lại những thông điệp đó. Để thành công xuất sắc trong giao tiếp, người phát tin cầnnghiên cứu những yếu tố này và có hành vi tương thích. 3.2.3 Thông điệpThông điệp là những nội dung giao tiếp được biểu lộ qua hình thức nói, viết hoặccác hình thức khác. Thông điệp bị chi phối bởi phong thái giao tiếp riêng của ngườitruyền đạt, bởi tính địa thế căn cứ của lý luận và bởi nội dung cần giao tiếp. Thông điệp luôn tiềm ẩn yếu tố trí tuệ và yếu tố tình cảm của người phát. Yếutố trí tuệ tạo ra tính hài hòa và hợp lý của thông điệp. Yếu tố tình cảm tạo sức hấp dẫn. Tùy theomức độ, hai yếu tố trên sẽ thuyết phục được người nghe đổi khác tâm lý, thái độ, hànhđộng. 3.2.4 Môi trường giao tiếpGiao tiếp luôn sống sót trong một toàn cảnh, một môi trường tự nhiên nào đó. Môi trường giaotiếp gồm có những yếu tố : khoảng trống, thời hạn, không khí, ánh sáng, sắc tố, mùi vị, âmthanh, thời tiết, sự sắp xếp … Môi trường giao tiếp có vai trò quan trọng để tạo ra hiệu quảcủa cuộc giao tiếp. Nếu dữ thế chủ động trước được hành vi giao tiếp người ta thường chọn môitrường tốt nhất. Nếu không được lựa chọn môi trường tự nhiên giao tiếp người ta phải điều chỉnhhành vi giao tiếp … 3.2.5 Kênh giao tiếpKênh là hình thức chuyển tải thông điệp trong giao tiếp. Khi giao tiếp, thông điệp đã mã hóa được chuyển tải qua một kênh hay nhiềukênh. Các kênh khác nhau yên cầu những giải pháp tăng trưởng ý tưởng sáng tạo khác nhau, vìthế, người phát tin nên kĩ càng trong việc lựa chọn kênh cho cuộc giao tiếp, giống như họtiến hành việc lựa chọn những kí hiệu để dùng. 3.2.6 NhiễuNhiễu là bất kỳ một trở ngại bên trong hoặc bên ngoài nào với quy trình giao tiếp. Nhiễu hoàn toàn có thể do những tác nhân của môi trường tự nhiên, sự suy yếu của sức khỏe thể chất, những yếu tố vềngữ nghĩa, những yếu tố về cú pháp, ngôn từ, sự lộn xộn trong cách sắp xếp, tiếng ồn xãhội và những yếu tố tâm lí gây nên. 3.3. MÔ HÌNH GIAO TIẾP3. 3.1 Mô hình tuyến tính về giao tiếp ( giao tiếp một chiều ) Theo quy mô này thì người phát tin ( nguồn ) mã hóa một thông điệp và gửi nó tớingười nghe trải qua một hay nhiều kênh giác quan. Người nghe, sau đó, tiếp đón và15Nhiễu làm méo mó thông điệp2. KênhChuyểnthông điệp3. Người nhậnGiải mã thôngđiệp1. Người gửiMã hóa TĐThông tinPhản hồi1. Người gửiMã hóa thôngđiệpGiáo trình Khoa học Giao tiếpgiải mã thông điệp này. Không tính đến mọi biến thiên, mọi thay đổi trong quy trình giaotiếp. Là quy mô “ người nói – người nghe ” đơn thuần. Hình 3.1 Sơ đồ giao tiếp tuyến tính ( theo Berko, Wolvin ) Mô hình giao tiếp này cũng khá phổ cập trong xã hội lúc bấy giờ. Người ta sử dụnghình thức giao tiếp này nhằm mục đích thực những tiềm năng như thông tin, quảng cáo, tuyên truyềnvà hướng dẫn … Với quy mô giao tiếp này hoàn toàn có thể gửi thông điệp đến nhiều người. Tuynhiên, quy mô giao tiếp này chi có đặc thù một chiều. thông điệp gửi đi và không cóhoặc rất ít sự phúc đáp và phản hồi. Trong quy mô giao tiếp này, yên cầu thông điệp phải đúng mực, ngắn gọn, côđọng. Thông điệp chỉ có một ý nghĩa, một cách hiểu, tránh thực trạng đa nghĩa. 3.3.2 Mô hình ảnh hưởng tác động qua lại về giao tiếp ( giao tiếp hai chiều ) Nhiễu làm méo mó thông điệp ( Thông điệp ) Hình 3.2 Sơ đồ giao tiếp qua lại ( theo Berko, Wolvin ) Trong quy mô này, nguồn mã hóa thông điệp và gửi nó đến người nhận thông quamột hay nhiều kênh giác quan. Người tiếp đón và giải thuật thông điệp, sau đó mã hóa phảnhồi ( một phản ứng hay những phản ứng ) và gửi phản hồi này tới nguồn, vậy là quy trình trởthành hai chiều. Sau đó, nguồn giải thuật thông điệp phản hồi theo thông điệp gốc đã đượcgửi và phản hồi đã được nhận, tiếp theo nguồn mã hóa một thông điệp mới thích ứng vớiphản hồi nhận được ( sự thích ứng ). Mô hình giao tiếp này có đặc thù thông dụng nhất, nó được sử dụng tiếp tục, thoáng rộng với rất nhiều tiềm năng và ý nghĩa khác nhau như trò chuyện, hội họp, trao đổi, … 16G iáo trình Khoa học Giao tiếpQuy mô của quy mô giao tiếp này hạn chế hơn so với quy mô giao tiếp tuyến tính. Ít nhất là hai người, và nhiều cũng chỉ vài trăm hoặc vài ngàn người như trong lễ míttinh … 3.3.3 Mô hình thanh toán giao dịch về giao tiếp ( giao tiếp đa chiều ) Hình 3.3 Sơ đồ thanh toán giao dịch về giao tiếp ( Theo Berco, Volvin ) Trong quy mô này, người giao tiếp A mã hóa một thông điệp và gửi nó đi. Ngườigiao tiếp B, sau đó, mã hóa phản hồi gửi tới người giao tiếp A, Nhưng những bước nàykhông phải là độc chiếm lẫn nhau vì việc mã hóa và giải thuật hoàn toàn có thể xảy ra đồng thời. Lànhững người nói, tất cả chúng ta hoàn toàn có thể gửi một thông điệp phản hồi phi ngôn từ tới người nghe. Sự mã hóa và giải thuật này hoàn toàn có thể xảy ra liên tục trong suốt quy trình giao tiếp. Trong đóhai đối tượng người dùng luôn đổi vai trò người gửi, người nhận cho nhau. Mục tiêu của quy mô giao tiếp này thường là xử lý một việc làm nhất định. Do đó, quy mô giao tiếp này lại có quy mô nhỏ hơn những quy mô trên. Mặc dù giao tiếp đachiều nhưng không hề giao tiếp với nhiều người trong cùng một thời gian. Nó được sửdụng trong 1 số ít ngành nghề đơn cử như bán hàng, làm hồ sơ với người mua … 3.4 CÁC QUAN HỆ TRONG HÀNH VI GIAO TIẾP3. 4.1 Quan hệ chủ thể – khách thểChủ thể giao tiếp là những đối tượng người dùng tạo nên hành vi giao tiếp, quan hệ giao tiếp. Khách thể là đối tượng người dùng mà chủ thể hướng tới trong quy trình giao tiếpMối quan hệ giữa chủ thể với khách thể là mối quan hệ qua lại trong giao tiếp. Mối quan hệ ấy được quyết định hành động bởi tính cách, khí chất của chủ thể. Tính cách là sự tích hợp độc lạ những đặc thù tâm ý không thay đổi của con người. Những đặc thù này pháp luật phương pháp, hành vi nổi bật của người đó trong nhữngđiều kiện, thực trạng nhất định, bộc lộ thái độ của họ so với quốc tế xung quanh vàbản thân. Trong mỗi chủ thể thường lẫn lộn những nét tính cách tốt và những nét tínhcách xấu. Mỗi nét tính cách thường được bộc lộ qua những hành vi tương ứng nhưng17Giáo trình Khoa học Giao tiếpgiữa tính cách với hành vi không phải luôn khớp với nhau như trường hợp “ Khẩu Phật – tâm xà ” vẫn thường gặp. Tùy theo đặc thù của khách thể trong giao tiếp, chủ thể cầnphát huy nét tính cách này hay nét tính cách khác. Khí chất ( tính khí con người ) là sự bộc lộ về mặt cường độ, vận tốc và nhịp độcủa những hoạt động giải trí tâm ý trong hành vi của con người. Khí chất ảnh hưởng tác động nhiều đếnkhách thể giao tiếp, đến hiệu suất cao của giao tiếp. Con người có bốn khí chất cơ bản : Nóngnảy – Trầm tĩnh ; Sôi nổi – Lãnh đạm. 3.4.2 Quan hệ qua lạiQuan hệ qua lại chính là sự tương hỗ của nhân cách này với nhân cách khác hoặcvới hội đồng. Quan hệ qua lại luôn luôn có mối liên hệ ngược giữa những chủ thể nhưngkhông phải khi nào cũng có cùng một mô thức ( cùng một sắc thái ). Quan hệ qua lại hoàn toàn có thể bộc lộ công khai minh bạch nhưng cũng hoàn toàn có thể ẩn giấu, ngấm ngầmkhông bộc lộ ra. Quan hệ qua lại là mối quan hệ giữa những chủ thể giao tiếp và rấtphức tạp bởi hình tượng về những chủ thể này trong nhau liên tục dịch chuyển, thậm chícó sự xô lệch. Các yếu tố chi phối mối quan hệ qua lại thường xuất phát từ cảm nhận, nhận thứcgiữa những chủ thể giao tiếp với nhau qua hình thức bên ngoài, khí chất, phẩm chất, phongcách giao tiếp … Như vậy, quan hệ qua lại là mối quan hệ rất phức tạp nhưng cũng rất lý thú. Nóđược hiện thực hóa trong giao tiếp và trải qua giao tiếp. Quan hệ qua lại cũng để lạidấu ấn lên giao tiếp, tạo nên nội dung độc lạ của giao tiếp. 3.4.3 Vai trò xã hội trong giao tiếpVai trò xã hội là sự ấn định một vị trí nhất định mà mỗi cá thể chiếm được tronghệ thống những quan hệ xã hội. Vai trò đảm nhiệm tạo nên vị thế mà người đó có trong quanhệ xã hội mà họ đang sống. Tùy thuộc vào thực trạng xã hội mà mỗi người có vai trò nhấtđịnh. Mỗi con người hoàn toàn có thể đóng nhiều vai trò khác nhau, trong đó vai trò then chốt màcá nhân thường đồng nhất mình gắn với nghề nghiệp. Khi con người đóng một vai trò nàođó sẽ có những hành vi ứng xử tương thích với vai trò này. Sự chuyển dời vai trò cá nhântrong xã hội nói lên sự năng động của cá thể, sự tăng trưởng của tập thể, năng lực củangười chỉ huy. CÂU HỎI1 Trình bày những quy mô giao tiếp thường gặp. Nêu mặt mạnh, mặt hạn chế của từngmô hình. 2 Những điều kiện kèm theo để trở thành một người phát tin tốt, một người nhận tin tốt, để có mộtthông điệp tốt. 3. Hành vi giao tiếp là gì ? Nguồn gốc chính của hành vi giao tiếp. Phân tích những yếutố ảnh hưởng tác động đến hành vi giao tiếp. 18G iáo trình Khoa học Giao tiếp4. Hãy nghiên cứu và phân tích đặc thù phức tạp của quan hệ qua lại trong quy trình giao tiếp. BÀI TẬP CUỐI CHƯƠNG1. Bài tập 01 : • Yêu cầu : Hãy nghiên cứu và phân tích yếu tố tâm ý của hành vi trong trường hợp sau. Trên cơ sởhiểu rõ thực chất của những hành vi đó, anh ( chị ) hãy viết tiếp câu truyện để có kếtquả tốt đẹp nhất • Tình huống : Trong một lần đang đánh bóng chuyền, bạn đã đánh bóng mạnh tayvà trúng vào mặt của một bạn khác ( mối quan hệ với bạn này trước đó không đượctốt lắm và thật tâm bạn không muốn đánh trúng vào mặt người ta ), làm bạn đó téngã. Bạn đó nổi nóng định xông vào đánh bạn. Trước trường hợp đó bạn sẽ xử lí thế nào ? 2. Cho câu truyện ngụ ngôn sau : Chim mẹ hỏi chim con trong nỗi mệt nhoài sau khi cõng con bay vượt qua giôngbão : “ sau này mẹ già yếu không bay được nữa, con có cứu mẹ như mẹ vừa cứu conkhông ? ”. Sau 1 lúc tâm lý, chim con vấn đáp : “ con sẽ cứu con của con ! ” Ẩn sau hình ảnh 2 con chim là hình ảnh của con người. Hãy nghiên cứu và phân tích cơ sở tâm lýhình thành nên tâm trạng và thái độ của hai nhân vật. Nếu phải hóa thân vào một tronghai đối tượng người dùng trên, bạn sẽ làm gì ? 3. Hãy nghiên cứu và phân tích cơ sở của thủ pháp trong trường hợp giao tiếp sau. Em rút ra đượcbài học gì từ câu truyện nàyMột ông chủ shop đã dùng thủ pháp để bán lô quần áo ế hàng tồn kho của mình : ông bốtrí những người thân trong gia đình đến xếp hàng trước shop để chờ mua. Người nào sau khi muahàng xong đều bước ra đường với vẻ mặt hớn hở. Người đi đường thấy vậy liền cùng xếphàng để mua và chỉ trong vòng nửa ngày, ông đã bán hết lô hàng trên. Bài tập 2 : Hãy góp ý cho những nhân vật sau đây : 1. Em làm quen với một anh sinh viên học ngành khoa học tự nhiên, em rất vui vìhọc ngành tự nhiên chắc là giỏi Toán, mà em thì yếu môn này. Bữa nọ em mời anhấy đến nhà chơi, nhưng anh ấy chẳng chào hỏi ai cả, chỉ cắm cúi ẩm thực ăn uống xong rồivề khiến em tuyệt vọng quá và quê với cả nhà … Em nên làm gì đây ? 2. Em có một cô bồ quá ham vui, Đi chơi với em chưa đủ, cô nàng còn luôn yêu cầuem dẫn bè bạn nam của em đi chung, rồi cô nàng còn cởi mở, đùa vui với chàngtrai đó khiến em cũng bực mình. Nay săp sinh nhật cô nàng, em không biết nêntặng món quà gì cho cô nàng vui, mà hợp với tính cách ấy của cô nàng ? 3. Năm ngoái, một bạn trai bày tỏ tình cảm với em, em đồng ý. Xong rồi bạn ấylên thành phố học. Vì xa cách, em muốn kiểm tra tình cảm của bạn ấy xem có cònvới em không, nhưng không biết phải làm thế nào. Nói chuyện điện thoại thông minh thì ai biếtngười ta nói thất hay nói dối ? ? ? 19G iáo trình Khoa học Giao tiếp4. Trong lớp em thích và chú ý một cô bạn. Hôm nào vào lớp em cũng nhìn lén bạn ấyvài lần. Thế rồi, lần nọ bạn ấy cũng nhìn lại em, hai ánh mắt gặp nhau, em gật đầuchào và bạn cũng gật đầu chào, lại còn cười rất tươi nữa chứ. Như vậy là bạn ấycũng thích em rồi phải không ? 20G iáo trình Khoa học Giao tiếpCHƯƠNG 2 : NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC GIAO TIẾPMỤC TIÊU – Sinh viên phát biểu được khái niệm nội dung giao tiếp, nghĩa và đặc điểmcủa những loại nghĩa, những loại ngôn từ thường sử dụng trong giao tiếp – Sinh viên có ý thức trong việc sử dụng những loại nghĩa cũng như những hìnhthức truyền nghĩa một cách tương thích nhất để nâng cao hiệu suất cao giao tiếpNỘI DUNG CHÍNHChương II gồm 3 bài : Bài 4 : Nôi dung giao tiếpBài 5 : Ngôn ngữ trong giao tiếpBài 6 : Khoảng cách trong giao tiếpVới 3 bài này, chương 2 truyền tải những nội dung chính sau : – Nội dung giao tiếp có 3 dạng cơ bản : hiển ngôn, hàm ngôn, ngụy biện. Mỗi dạngđều có ý nghĩa riêng … Nội dung giao tiếp còn những những đặc tính quan trọng … gópphần tạo nên nghệ thuật và thẩm mỹ giao tiếp – Các hình thức giao tiếp giao tiếp bằng phương tiện đi lại ngôn từ có lời, ngôn ngữkhông lời ; bằng hình thức giao tiếp trực tiếp hoặc giao tiếp gián tiếp. Mỗi hìnhthức giao tiếp đều chứa đựng ưu điểm, điểm yếu kém nên những chủ thể giao tiếp phảihết sức tỉnh táo, linh động để có sự lựa chọn, sử dụng tương thích nhấtBài 4 : NỘI DUNG GIAO TIẾP4. 1 NGHĨA VÀ SỰ TRUYỀN ĐẠT NGHĨA TRONG GIAO TIẾP : 4.1.1 Nghĩa trong ngôn từ giao tiếp : Ngôn ngữ giao tiếp gồm : Ngôn ngữ có lời – Giao tiếp bằng ngôn từ ; Ngôn ngữkhông lời – Giao tiếp phi ngôn từ * Nghĩa của từ trong ngôn từ : Từ là một hình tượng ám chỉ một sự vật, tư tưởng, cảm nghĩ, khái niệmÝ nghĩa của ngôn từ được tạo bởi sự liên kết từ, những cụm từ với nhau theo một hệthống, một quy luật nào đó. Nghĩa của từ hay một tập hợp từ có hai hình thức sống sót : + Nghĩa khách quan : Là nghĩa tự thân của từ, không nhờ vào vào ý muốn, sởthích của một cá thể nào ( nghĩa hiển ngôn ) + Nghĩa chủ quan : Là nghĩa do người sử dụng gán cho từ ( nghĩa hàm ngôn ). * Nghĩa của những hành vi : 21G iáo trình Khoa học Giao tiếpBao gồm những hành vi, hình tượng, vật phẩm, sắc thái … mang ý nghĩa biểu lộ tâmlí, thái độ, tình cảm, được phân biệt bằng năm giác quan và tâm thế của đối tác chiến lược giaotiếp4. 1.2 Một số hình thức dùng « nghĩa » đặc biệt quan trọng trong ngôn từ giao tiếp4. 1.2.1 Hàm ngôn trong giao tiếp : * Hiển ngôn và hàm ngônHiển ngôn là lời nói có ý nghĩa biểu lộ trực tiếp ra ngoàiHàm ngôn là lời nói có ý nghĩa ẩn bên trong, yên cầu người nghe phải giải mãđể hiểu nghĩa người nói muốn ám chỉ. Ẩn nghĩa của câu nói phụ thuộc vào rất nhiều vàobối cảnh hay trường hợp, vào kinh nghiệm tay nghề, xúc cảm của người nói, yên cầu sự giải mãđặc biệt, vì ngoài ngôn từ còn có mã tâm ý xã hộiTheo Ducrot, hiển ngôn là « cái người ta nói ra », còn hàm ngôn là « cáingười ta muốn nói mà không tiện nói ra » Trong đời sống mái ấm gia đình, với bè bạn thân thương, hầu hết tất cả chúng ta dùng lối hiểnngôn ( vừa tiết kiệm ngân sách và chi phí thời hạn, vừa bảo vệ tính đúng mực của thông tin … ) * Tác dụng của hàm ngôn – Người nói hoàn toàn có thể không phải chịu nghĩa vụ và trách nhiệm về thông điệp. – Bộc lộ ý một cách nhã nhặn. – Tạo ra hiệu quả can đảm và mạnh mẽ, thâm thúy hơn cách nói tường minh. 4.1.2. 2 Ngụy biện trong giao tiếp * Thế nào là ngụy biện ? Ngụy biện là dùng kỹ xảo lôgic để link những luận cứ vào một luận điểmkhông tương thích nhằm mục đích chứng tỏ, thuyết phục người khác tin theo một quan điểm saitrái. * Cơ cấu của ngụy biệnDùng luận cứ đúng chen lẫn luận cứ saiDùng luận cứ đúng nhưng không đủDùng luận cứ không tương thích với vấn đề * Các hình thức biểu lộ của ngụy biện – Đè nén ( represion ) : Đó là sự chối bỏ thực tiễn, ngoảnh đi trước những hiện tượngđau buồn, tránh đề cập đến những yếu tố khó xử lý, chỉ đồng ý thấynhững cái muốn thấy. – Đền bù ( compensation ) : Cố gắng che đậy những khuyết điểm của cá thể bằngcách tăng trưởng những nét tích cực trong nhân cách. – Viện lý ( rationalization ) : Đưa ra những lý lẽ không đúng thực sự để giải thichthanh minh cho hành vi, cảm hứng không tốt. 22G iáo trình Khoa học Giao tiếp – Quy chụp ( phóng chiếu – projection ) : Gán cho người khác những ý nghĩ, lỗi lầmhay mong ước của tất cả chúng ta. Thường tất cả chúng ta hay đổ lỗi cho số phận, cho sự hênxui. – Thoái bộ ( regression ) : Dùng tình cảm, hành vi trẻ con để trốn tránh nghĩa vụ và trách nhiệm, tránh né thử thách. * Ảnh hưởng của ngụy biện trong giao tiếp : Ngụy biện hoàn toàn có thể giúp tất cả chúng ta hoàn toàn có thể lý giải được những hành vi, lập luậnsai trái của mình cũng như của đối tượng người dùng giao tiếp. Nhận biết chúng đồng thời cũnggiúp tất cả chúng ta nhận rõ mình, đồng ý mình, gật đầu thực tiễn chung quanh. Nhưng nếu lạm dụng ngụy biện, con người sẽ bị đánh mất niềm tin từ người khác, bảnthân không tăng trưởng được hoặc dễ lâm vào trạng thái stress. Điều này hoàn toàn có thể sẽ giảithoát tất cả chúng ta, giúp tất cả chúng ta có những bước tiến bộ vững chãi trong đời sống. 4.1.3 Sự truyền đạt nghĩa trong giao tiếp4. 1.3.1 Người phátNgười phát tin, muốn truyền đạt một ý nghĩ trừu tượng cho người khác, phảibắt đầu từ việc mã hóa ý nghĩ đó. Mã hóa là quy trình chuyển từ ý nghĩ sang lời nói, chữ viết hay những tín hiệu, ký hiệu, những phương tiện đi lại phi ngôn từ … để biến ý nghĩathành thông điệp. Thông điệp sẽ được phát đi bằng những kênh tiếp thị quảng cáo tương ứngvới quy trình mã hóa. 4.1.3. 2 Người nhậnNgười nhận tin sẽ nhận thông điệp bằng những giác quan của mình và giải thuật. Giải mã là một quy trình không đơn thuần. Thông tin đúng chuẩn chỉ xảy ra khi cả haingười phát và nhận gán cho những ký hiệu lập thành thông điệp cùng một ý nghĩa hoặc ítra là những ý nghĩa tương tự như. Sau khi giải thuật, khâu ở đầu cuối kết thúc mạch truyềnthông là trải qua phản hồi. Người nhận tín hiệu cho người phát biết rằng thông điệpđã nhận được và tín chất của sự vấn đáp thường cho thấy một phần chất lượng của sựthông hiểu. Quá trình truyền đạt nghĩa trong giao tiếp là một quy trình tương hỗ và tuầnhoàn. Sự phản hồi tạo thời cơ để sửa hoặc định hình lại thông điệp khởi đầu. Người gửicó thể thêm hoặc đổi khác thông điệp khởi đầu để làm sáng tỏ hơn và người nhận có thểthử lại việc giải thuật để bảo vệ rằng thông điệp đã được ghi nhận đúng là thông điệpmà người phát có dự tính muốn truyền. 23G iáo trình Khoa học Giao tiếpHình 4.1 Sơ đồ về quy trình truyền đạt nghĩa trong giao tiếp4. 2. CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC NỘI DUNG GIAO TIẾP4. 2.1. * Nội dung giao tiếp : Nội dung giao tiếp là những yếu tố, chủ đề được đề cậpđến trong cuộc giao tiếp hoặc trong hành vi giao tiếp. Nội dung giao tiếp được thể hiệnqua những chủ đề giao tiếp và mức độ đa dạng chủng loại, thâm thúy của từng chủ đề. Nội dung giao tiếp tốt có những đặc thù : – Nội dung đa dạng chủng loại, không với nghèo nàn, đơn điệu. – Chủ đề mới và mê hoặc, tích cực, không cũ và tẻ nhạt. – Nội dung giao tiếp thâm thúy, đơn cử, chi tiết cụ thể không chung chung, hời hợt … – Nội dung logic và dễ hiểu, súc tích, vui, vui nhộn … 4.2.2. Soạn thảo nội dung : * Xác định mục tiêu, tiềm năng giao tiếpĐể có được nội dung giao tiếp mang tính thuyết phục cao, cần phải biết rõ mình « muốn gì ? » và « với ai ? » để thuyết phục có hiệu suất cao. Không nên ôm đồm quánhiều tiềm năng, cần đặt những tiềm năng đơn cử để hoàn toàn có thể kiểm tra sau buổi giao tiếp. Một bài trò chuyện thường được chia làm 3 phần : * Phần mở đầuThiết lập mối quan hệ với người nghe và phác qua những nội dung lớn sẽ trìnhbày để mọi người dễ theo dõi. Cần nắm được quy luật của sự quan tâm : sự tập trung chuyên sâu cao nhất của người ngheđược diễn ra chỉ trong vòng 30 giây tiên phong và 30 giây ở đầu cuối của bài nói. Giữahai cao điểm đó, sự quan tâm của người nghe tương đối kém, đôi lúc có những đợtsóng nhô cao tùy vào năng lực gây chú ý quan tâm của người nói. Cần phải tận dụng quy luật24Giáo trình Khoa học Giao tiếpnày để hấp dẫn người nghe. Những lời nói tiên phong không chỉ đơn thuần là nhập đề màcòn phải gây được sự chăm sóc và chiếm được tình cảm của mọi người. * Phần nội dungChứa đựng những tư tưởng hay quan điểm then chốt. Để khắc sâu vào trí óc ngườinghe và hấp dẫn được họ, bài phát biểu phải được tăng trưởng dưới dạng một chuỗi cácluận điểm và luận cứ theo một logic ngặt nghèo. Sự chuyển tiếp cần thực thi một cáchcẩn thận để khỏi mất sự mạch lạc của câu truyện. Ngoài ra, cần linh động sử dụng tích hợp một số ít thủ pháp để gây sự chú ý quan tâm củangười nghe như sử dụng câu hỏi gợi mở, ví dụ, số liệu trong thực tiễn, trích dẫn câu nói củanhững nhân vật nổi tiếng, những giai thoại, những câu truyện khôi hài, những câu nóiđùa dí dỏm … Tuy nhiên, phải đúng liều, đúng lượng và phải tập trung chuyên sâu làm điển hình nổi bật chủđề cần truyền tải. * Phần kếtNhắc lại những điểm then chốt. Tùy theo đặc thù của bài phát biểu hoàn toàn có thể cólời chúc mừng, lời lôi kéo, những yếu tố nêu ra để người nghe xử lý. Cần dànhthời gian để giải đáp vướng mắc từ người nghe. 4.2.3. Chuẩn bị triển khai nội dung giao tiếp : Để giao tiếp có hiệu suất cao, cần sẵn sàng chuẩn bị khá đầy đủ những yếu tố ảnh hưởng tác động đến quátrình giao tiếp, đặc biệt quan trọng là nội dung giao tiếp. Sau đây là những yếu tố cơ bản để cónội dung giao tiếp tốt : Hiểu rõ nội dung giao tiếp : Để làm gì ? Như thế nào ? ( lựa chọn kênh giao tiếp ), Có bản ghi nhớ ( hoặc được viết ra, hoặc đã thuộc ), sổ ghi chép … Tìm hiểu đối tượng người tiêu dùng giao tiếp : Với ai ? Trình độ, tính cách như thế nào ? để chuẩnbị những yếu tố khác cho phù hợpChuẩn bị cho bản thân : Chú ý phục trang và những phụ kiện đi kèm, tâm lí tự tin, thể trạng tốtChuẩn bị cho môi trường tự nhiên giao tiếp : Sắp xếp, lựa chọn, tìm hiểu và khám phá về thời hạn, khoảng trống – khu vực, thời tiết, ánh sáng … Ngoài ra còn cần quan tâm những yếu tố nhiễu để hoàn toàn có thể khắc phục hoặc hạn chếnhững ảnh hưởng tác động không tốt, những cản trở đến cuộc giao tiếp. CÂU HỎI1. Hãy trình làng về những loại « nghĩa » đặc biệt quan trọng trong ngôn từ giao tiếp trong giao tiếp ( định nghĩa, dẫn chứng minh họa, công dụng ) 2. Xác lập những bước để thực thi một buổi giao tiếp trước công chúng. 3. Trình bày những thủ pháp để lôi cuốn công chúng trong giao tiếp. 4. Hãy phác họa nội dung về một yếu tố và trình diễn yếu tố đó trước lớp học25
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Khoa Học

