Quan hệ Nhật Bản – Việt Nam – Wikipedia tiếng Việt

Quan hệ Nhật Bản–Việt Nam hay Việt-Nhật quan hệ bắt đầu từ cuối thế kỷ 16 khi các nhà buôn Nhật đến Việt Nam buôn bán. Việt Nam chính thức lập quan hệ ngoại giao với Nhật Bản vào ngày 21 tháng 9 năm 1973. Năm 1992, Nhật Bản quyết định mở lại viện trợ cho Việt Nam. Quan hệ giữa Việt Nam-Nhật Bản phát triển nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực và đã bước sang giai đoạn mới về chất và đi vào chiều sâu. Các mối quan hệ kinh tế chính trị, giao lưu văn hóa không ngừng được mở rộng; đã hình thành khuôn khổ quan hệ ở tầm vĩ mô; sự hiểu biết giữa hai nước không ngừng được tăng lên.

Thế kỷ thứ 8, thời nhà Đường còn đô hộ Việt Nam, một viên quan nhà Đường gốc Nhật Bản là Abe no Nakamaro đã được cử sang làm Tiết độ sứ An Nam đô hộ phủ .Đến thế kỷ 16, những thương nhân Nhật Bản tiếp tục qua lại khu vực biển ở Khu vực Đông Nam Á để kinh doanh, trong đó có chủ quyền lãnh thổ Đại Việt nhà Lê. Các thuyền chu ấn của Nhật Bản lúc này đã sang chủ quyền lãnh thổ Việt Nam .
Chu Ấn Thuyền (朱印船 Shuinsen) đi từ Trường Kỳ (

Tranh vẽ một chiếc(朱印船 Shuinsen) đi từ Trường Kỳ ( Nagasaki ) tới An Nam.

Sang thế kỷ 17, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đẩy mạnh giao thương, chúa Nguyễn Hoàng cho phép thương gia Nhật Bản buôn bán và cư trú ở Hội An. Mạc phủ Tokugawa Ieyasu còn trao đổi công văn thương mại với chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên còn gả cả công nữ Ngọc Hoa (có nguồn ghi là Ngọc Khoa) cho thương nhân nổi tiếng Araki Shutaro (Hoang Mộc Tông Thái Lang). Tuy nhiên, từ năm 1635 với sự ra đời của Luật bế quan tỏa cảng (Tỏa Quốc), Nhật Bản chỉ cho phép buôn bán với Trung Quốc, Triều Tiên và Hà Lan nên sự giao thương với Việt Nam bị gián đoạn.

Đến giữa thế kỷ 20, năm 1940, đế quốc Nhật mới thiết lặp địa thế căn cứ chống lại phe Đồng Minh ở Khu vực Đông Nam Á và xâm lược Việt Nam đến tận năm 1945 .Tháng 9 năm 1973, Nhật Bản và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức. [ 1 ]

Về chính trị[sửa|sửa mã nguồn]

Hàng năm đều có những cuộc gặp cấp cao. Thủ tướng Nhật Bản thăm Việt Nam 5 lần ( Murayama Tomiichi – 1994, Hashimoto Ryūtarō – 1997, Obuchi Keizō – 1998, Koizumi Junichirō – 2002, Abe Shinzō – 2006, 2012 và Suga Yoshihide – 2020. ) Ngoại trưởng Nhật thăm chính thức 2 lần ( 1996 và 2004 ). Thủ tướng Việt Nam thăm Nhật Bản 6 lần ( 1993, 1999, 2001, 2003 – 2 lần, tháng 6 năm 2004 và tháng 11 năm 2021 ). quản trị nước Việt Nam cũng đã 4 lần thăm Nhật Bản ( 2007, 2011, năm trước, 2018 ). Từ 1993 đến nay, Tổng Bí thư ( 3 lần vào 1995, 2002 và năm ngoái ), quản trị Quốc hội và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng đã thăm Nhật Bản. Năm 2002, Lãnh đạo cấp cao hai nước thống nhất kiến thiết xây dựng quan hệ Việt Nam-Nhật Bản theo mục tiêu ” đối tác chiến lược đáng tin cậy, không thay đổi, lâu bền hơn “. Trong chuyến thăm Việt Nam 7 / 2004 của Ngoại trưởng Nhật Bản, hai bên đã ký Tuyên bố chung ” Vươn tới tầm cao mới của đối tác chiến lược bền vững và kiên cố ” .Hai bên đã tạo dựng được chính sách đối thoại ở nhiều cấp. Ngoài đối thoại chính trị định kỳ ở cấp Thứ trưởng Ngoại giao ( từ năm 1993 ), hai bên cũng đã kiến thiết xây dựng được chính sách đối thoại kinh tế tài chính, bảo mật an ninh và quốc phòng. Hai bên đã trao đổi tùy viên quân sự chiến lược, mở Tổng lãnh sự quán ở Thành phố Hồ Chí Minh ở Việt Nam và Osaka ở Nhật BảnNhật Bản ủng hộ đường lối thay đổi, Open của Việt Nam ; tương hỗ Việt Nam hội nhập vào khu vực và quốc tế ( vào APEC, WTO, ASEM, ARF, hoạt động OECD giúp Việt Nam về kỹ thuật … ) ; coi trọng quan hệ với Việt Nam, lấy quyền lợi và tiềm năng lâu dài hơn làm trọng. Việt Nam ủng hộ Nhật làm thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc lan rộng ra, và hoạt động Nhật ủng hộ Việt Nam ứng cử làm thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2008 – 2009 .

Quan hệ kinh tế tài chính[sửa|sửa mã nguồn]

Nhật Bản là đối tác chiến lược kinh tế tài chính quan trọng số 1 của Việt Nam .

Về mậu dịch[sửa|sửa mã nguồn]

Hai nước đã dành cho nhau thuế suất tối huệ quốc từ 1999. Nhật Bản là bạn hàng số một của Việt Nam. Kim ngạch 2 chiều năm 2003 đạt 5,9 tỷ USD, nhanh chóng tăng lên đến 8,5 tỷ USD vào năm 2005, 10 tỷ USD năm 2006, 12 tỷ USD năm 2007, và 17 tỷ USD năm 2008. Tuy nhiên trong năm 2009, vì khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tổng thương mại giảm xuống 12,2 tỷ trong năm 2009, nhưng nhanh chóng phục hồi lại đến 16 tỷ USD trong năm 2010.

Đầu tư trực tiếp[sửa|sửa mã nguồn]

Đến tháng 11/2003 có 354 dự án Bất Động Sản với số vốn ĐK 4,47 tỷ USD. Trong số 62 vương quốc và vùng chủ quyền lãnh thổ có dự án Bất Động Sản góp vốn đầu tư tại Việt Nam, Nhật đứng thứ 3 sau Nước Singapore và Đài Loan về số vốn ĐK nhưng đứng đầu về kim ngạch góp vốn đầu tư đã đi vào triển khai ( 3,7 tỷ USD ). 11 tháng đầu năm 2003, Nhật đứng thứ 5 trong số những nước và vùng chủ quyền lãnh thổ góp vốn đầu tư vào Việt Nam với số vốn 78 triệu USD, giảm 35 % so với cùng kỳ năm 2002. Hai nước đã ký kết Hiệp định khuyến khích và bảo lãnh góp vốn đầu tư tháng 11/2003. Tháng 12/2003 hai bên đã thoả thuận Sáng kiến chung nhằm mục đích cải tổ thiên nhiên và môi trường góp vốn đầu tư tại Việt Nam .
Chùa Cầu ở Hội An, một công trình do thương nhân Nhật Bản xây dựng.Nhật Bản là nước hỗ trợ vốn ODA lớn nhất cho Việt Nam, từ 1992 – 2003 đạt khoảng chừng 8,7 tỷ USD, chiếm khoảng chừng 30 % tổng khối lượng ODA của hội đồng quốc tế cam kết dành cho Việt Nam, trong đó viện trợ không hoàn trả khoảng chừng 1,2 tỷ USD. Từ năm 2001, Nhật Bản cắt giảm 10 % ngân sách ODA nhưng vẫn giữ và tăng kim ngạch ODA cho Việt Nam. Năm 2003, mặc dầu cắt giảm 5,8 % ODA cho những nước nói chung, nhưng ODA cho Việt Nam vẫn là 91,7 tỷ yên, giảm khoảng chừng 1.2 % so với năm 2002 .Hai bên đã thoả thuận chương trình viện trợ vĩnh viễn của Nhật Bản cho Việt Nam nhằm mục đích vào 5 nghành chính là : tăng trưởng nguồn nhân lực và kiến thiết xây dựng thể chế ; kiến thiết xây dựng và tái tạo những khu công trình giao thông vận tải và điện lực ; tăng trưởng nông nghiệp và thiết kế xây dựng hạ tầng nông thôn ; tăng trưởng giáo dục huấn luyện và đào tạo và y tế ; bảo vệ thiên nhiên và môi trường. Ngày 2/6/2004, Nhật Bản đã công bố chủ trương viện trợ ODA mới cho Việt Nam với 3 tiềm năng chính : Thúc đẩy tăng trưởng, cải tổ đời sống – xã hội, triển khai xong cơ cấu tổ chức. Tháng 12 năm 2013, Thủ tướng Shinzo Abe công bố khoản ODA trị giá khoảng chừng 100 tỷ yên ( tương tự 1 tỷ USD ) cho 5 dự án Bất Động Sản thuộc đợt 2 tài khóa 2013. [ 2 ]

Về hợp tác lao động[sửa|sửa mã nguồn]

Từ năm 1992 đến nay, Việt Nam đã cử 16 ngàn tu nghiệp sinh Việt Nam sang Nhật. Nhật là một thị trường tiềm năng cho lao động Việt Nam trong 5-10 năm tới. Tuy nhiên mấy năm gần đây nổi lên yếu tố lao động Việt Nam bỏ trốn tại Nhật ( tỷ suất bỏ trốn năm 2002 là 24,7 %, cao nhất trong những nước cử lao động sang Nhật ) gây khó khăn vất vả cho việc hợp tác lao động .

Về văn hóa truyền thống giáo dục[sửa|sửa mã nguồn]

Hai nước đang tiến hành những chương trình đào tạo và giảng dạy con người, chương trình thanh niên ASEAN ( 100 người / năm ) và trao đổi những đoàn văn hóa truyền thống, những người người tình nguyện, chuyên viên. Hàng năm nhà nước Nhật viện trợ cho Việt Nam từ 1 đến 2 dự án Bất Động Sản viện trợ văn hoá không hoàn trả như thiết bị học ngoại ngữ, thiết bị dữ gìn và bảo vệ tư liệu Viện Hán-Nôm, Bảo tàng Lịch sử, xưởng phim hoạt hình. Về giáo dục, nhà nước Nhật Bản nhận khoảng chừng trên 100 học viên sinh viên Việt Nam sang Nhật Bản giảng dạy hàng năm. Ngoài ra còn có nhiều học viên du học tự cung tự túc. Tổng số lưu học sinh Việt Nam ở Nhật lúc bấy giờ khoảng chừng hơn 1000 người. Trong 5 năm ( 1994 – 1999 ), nhà nước Nhật đã viện trợ 9,5 tỉ yên để kiến thiết xây dựng 195 trường tiểu học ở những tỉnh miền núi và vùng ven biển hay bị thiên tai .

Về du lịch[sửa|sửa mã nguồn]

Nhật Bản cũng là một thị trường được chú trọng để tăng trưởng du lịch Việt Nam. Năm 2002 đã có 280 ngàn khách Nhật Bản thăm Việt Nam. Do ảnh hưởng tác động của SARS, du lịch Nhật Bản vào Việt Nam trong năm 2003 giảm sút. Từ tháng 1/2004, Việt Nam đã chính thức đơn phương miễn thị thực cho người Nhật Bản đi du lịch và kinh doanh thương mại vào Việt Nam trong vòng 15 ngày và gần đây nhất từ 1/7/2004, Việt Nam đã quyết định hành động miễn thị thực nhập cư thời gian ngắn cho công dân Nhật. Đây là thuận tiện lớn để thôi thúc du lịch Nhật Bản vào Việt Nam. Từ ngày 1/5/2005, Việt Nam và Nhật Bản song phương miễn thị thực hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ. Trong năm 2011, hành khách Nhật Bản đến thăm Việt Nam đã tăng lên đến 428.000 lượt, tăng 8,9 % so với năm 2010 .

Nhiệm vụ ngoại giao[sửa|sửa mã nguồn]

Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản[sửa|sửa mã nguồn]

Đại sứ quán, lãnh sự quán[sửa|sửa mã nguồn]

– Tại VIệt Nam:

– Tại Nhật Bản :

  • Tokyo (Đại sứ quán)
  • Osaka (Lãnh sự quán)
  • Fukouka (Lãnh sự quán)

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

 Bài viết này kết hợp các tài liệu thuộc phạm vi công cộng từ website hay thư mục thuộc Library of Congress Country Studies.