Giám định thương tật, điều tra, báo cáo & bồi thường tai nạn | Le & Tran

Câu hỏi

Người lao động bị tai nạn thương tâm lao động tại nơi thao tác ( kho ) mà không có ai tận mắt chứng kiến lúc vấn đề diễn ra. Công ty cũng đã tạm ứng ngân sách lương và ngân sách y tế từ lúc xảy ra tai nạn đáng tiếc cho đến thời gian hiện tại. Bây giờ, sau khi người lao động đã điều trị và xuất viện về nhà thì cần giải quyết và xử lý những yếu tố sau đây như thế nào :

Vấn đề giám định thương tật

Người lao động sẽ đi giám định thương tật ở đâu ? Công ty có trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh, người lao động có địa chỉ cư trú tại Tỉnh Tỉnh Bình Dương .
Người lao động đã xuất viện và điều trị tại nhà hơn 1 tháng. Vậy thời hạn được xác lập là người lao động đã điều trị không thay đổi để đủ điều kiện kèm theo khám giám định thương tật là khi nào ? Và dựa trên cơ sở nào để xác lập ( Giấy tờ xác nhận của bác sĩ điều trị hay sách vở khác ) ?

Thủ tục khám giám định thương tật thực hiện như thế nào?

Vấn đề trợ cấp và bồi thường

Ngoài tiền lương hàng tháng và ngân sách y tế mà công ty đã giao dịch thanh toán cho người lao động, trợ cấp tai nạn thương tâm lao động do Cơ quan Bảo hiểm Xã hội chi trả sau này ( nếu có ), thì công ty có phải bồi thường thêm cho người lao động không ?

Vấn đề điều tra tai nạn lao động

Hồ sơ ý kiến đề nghị giám định thương tật nhu yếu phải có Biên bản tìm hiểu tai nạn thương tâm lao động. Nội dung Biên bản tìm hiểu tai nạn đáng tiếc lao động có đề cập Đoàn tìm hiểu tai nạn thương tâm lao động và phần nội dung xác nhận lỗi gây ra tai nạn thương tâm lao động. Vậy Biên bản này do công ty triển khai nội bộ hay phải có sự tham gia và xác nhận của cơ quan có thẩm quyền ( ví dụ như Sở Lao động – Thương binh và Xã hội ) ? Việc Tóm lại lỗi gây ra tai nạn đáng tiếc lao động dựa trên cơ sở nào ?

Vấn đề báo cáo

Công ty có cần phải báo cáo giải trình vấn đề tai nạn thương tâm lao động với cơ quan nào tương quan hay không ?

Trả lời

Vấn đề giám định thương tật

Người lao động đi giám định thương tật trong trường hợp này được xác lập là giám định lần đầu. Căn cứ theo Điều 9.1, Thông tư 52/2016 / TT-BYT, Hội đồng Giám định Y khoa cấp tỉnh sẽ có thẩm quyền khám giám định “ cho những đối tượng người tiêu dùng đang thao tác hoặc cư trú, sinh sống tại tỉnh, thành phố thuộc địa bàn ”. Như vậy, Hội đồng Giám định Y khoa ở Thành phố Hồ Chí Minh ( nơi người lao động thao tác ) và Tỉnh Tỉnh Bình Dương ( nơi người lao động cư trú ) đều có thẩm quyền khám giám định cho người lao động. Trên thực tiễn, qua trao đổi với nhân viên Hội đồng Giám định Y khoa Thành phố Hồ Chí Minh, thường thì, nơi giám định thương tật sẽ xác lập theo nơi công ty ĐK đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động ( chính do có tương quan đến việc Cơ quan Bảo hiểm Xã hội chi trả những chính sách tai nạn thương tâm lao động cho người lao động ). Ví dụ, công ty ĐK đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động tại Cơ quan Bảo hiểm Xã hội của Q. thuộc Thành phố Hồ Chí Minh thì người lao động sẽ được giám định thương tật tại Hội đồng Giám định Y khoa Thành phố Hồ Chí Minh .
Để xác lập thời gian người lao động đã được điều trị không thay đổi để triển khai khám giám định thương tật, Hội đồng Giám định Y khoa sẽ địa thế căn cứ vào Giấy ra viện hoặc tóm tắt hồ sơ bệnh án để xác lập điều kiện kèm theo khám giám định. Qua trao đổi với nhân viên Hội đồng Giám định Y khoa Thành phố Hồ Chí Minh, thường thì, người lao động bị tai nạn đáng tiếc lao động sẽ đủ điều kiện kèm theo được giám định thương tật khi đã hoàn tất việc chữa trị, xuất viện và không có lịch hẹn tái khám .
Lưu ý, nếu người lao động được xác lập là thuộc đối tượng người tiêu dùng bị tai nạn thương tâm không có năng lực điều trị không thay đổi thì trong bản tóm tắt hồ sơ bệnh án của người lao động phải ghi rõ tổn thương do tai nạn thương tâm lao động không có năng lực điều trị không thay đổi ( Điều 5.1. d, Thông tư 56/2017 / TT-BYT ). Khi đó, người lao động được làm thủ tục giám định trước hoặc ngay trong tiến trình điều trị ( Điều 47.1. c, Luật An toàn, Vệ sinh Lao động năm ngoái ) .
Hồ sơ và thủ tục khám giám định thương tật lần đầu được thực thi theo Thông tư 56/2017 / TT-BYT và Thông tư 52/2016 / TT-BYT .
Thẩm quyền xử lý : Hội đồng Giám định Y khoa cấp tỉnh .
Thành phần hồ sơ ( Điều 5.1, Thông tư 56/2017 / TT-BYT ) :

  • Giấy giới thiệu của công ty.
  • Bản chính hoặc bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận thương tích do cơ sở y tế (nơi đã cấp cứu, điều trị cho người lao động) cấp.
  • Bản chính hoặc bản sao hợp lệ Biên bản Điều tra tai nạn lao động.
  • Giấy ra viện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc tóm tắt hồ sơ bệnh án. Trường hợp người lao động không điều trị nội trú hoặc ngoại trú thì phải có giấy tờ về khám, điều trị thương tật phù hợp với thời điểm xảy ra tai nạn lao động và tổn thương đề nghị giám định. Trường hợp người lao động bị thương tật không có khả năng điều trị ổn định thì trong bản tóm tắt hồ sơ bệnh án phải ghi rõ tổn thương do tai nạn lao động không có khả năng điều trị ổn định.
  • Một trong các giấy tờ có ảnh sau đây: Chứng minh nhân dân; Căn cước công dân; Hộ chiếu còn hiệu lực. Trường hợp không có các giấy tờ nêu trên thì phải có Giấy xác nhận của Công an cấp xã có dán ảnh, đóng giáp lai trên ảnh và được cấp trong thời gian không quá 03 tháng tính đến thời điểm đề nghị khám giám định.

Trình tự xử lý ( Điều 16 – 21, Thông tư 52/2016 / TT-BYT ) :

Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị giám định, Hội đồng Giám định Y khoa sẽ thực hiện các bước cơ bản sau:

  • Bác sĩ thụ lý hồ sơ kiểm tra đối chiếu thông tin người lao động.
  • Bác sĩ thụ lý hồ sơ tiến hành khám tổng quát và trình Lãnh đạo duyệt chỉ định khám chuyên khoa phù hợp với hồ sơ đề nghị giám định.
  • Giám định viên chuyên khoa thực hiện khám và kết luận.
  • Họp Hội đồng Giám định Y khoa.
  • Ban hành Biên bản giám định y khoa (trong thời gian 10 ngày làm việc kể từ khi Hội đồng Giám định Y khoa có kết luận).

Thời hạn xử lý : Tùy thuộc vào thương tật của người lao động bị tai nạn thương tâm lao động. Công ty nên liên hệ Hội đồng Giám định Y khoa để được tư vấn chi tiết cụ thể .

Vấn đề trợ cấp và bồi thường

Các khoản mà công ty phải giao dịch thanh toán cho người lao động khi xảy ra tai nạn thương tâm lao động được pháp luật tại Điều 145, Bộ luật Lao động 2012 và Điều 38, Luật An toàn Vệ sinh Lao động năm ngoái. Theo đó, ngoài những khoản tiền lương, ngân sách y tế, … công ty sẽ phải bồi thường hoặc trả trợ cấp cho người lao động tùy theo việc xác lập lỗi của người lao động khi xảy ra tai nạn thương tâm lao động, đơn cử :
Nếu tai nạn thương tâm xảy ra không do lỗi của người lao động, hoặc có một phần lỗi của người lao động, người lao động được công ty bồi thường. Mức bồi thường địa thế căn cứ vào mức suy giảm năng lực lao động :

Mức suy giảm khả năng lao động Mức bồi thường thấp nhất
1 Dưới 5% Không phải bồi thường
2 Từ 5% đến 10% 1,5 tháng tiền lương
3 Từ 11% đến 80% 1,5 tháng tiền lương cho 10% đầu tiên + 0,4 tháng tiền lương cho mỗi 1% tăng thêm tính từ tỷ lệ thứ 11%
4 Từ 81% trở lên hoặc người lao động bị chết 30 tháng tiền lương

Nếu tai nạn đáng tiếc xảy ra trọn vẹn do lỗi của người lao động, người lao động được công ty trợ cấp một khoản tiền tối thiểu bằng 40 % mức bồi thường nêu trên ( tương ứng với tỷ suất suy giảm năng lực lao động ) .

Vấn đề điều tra tai nạn lao động

Khi xảy ra tai nạn đáng tiếc lao động thì phải triển khai xây dựng Đoàn tìm hiểu tai nạn thương tâm lao động để thực thi tìm hiểu vụ tai nạn thương tâm. Tùy theo đặc thù nghiêm trọng của vụ tai nạn thương tâm mà thành phần Đoàn tìm hiểu và thẩm quyền lập Đoàn tìm hiểu sẽ khác nhau. Với trường hợp tai nạn thương tâm lao động làm bị thương nhẹ, tai nạn đáng tiếc lao động làm bị thương nặng một người lao động thì công ty sẽ lập Đoàn tìm hiểu gồm :

  • người đại diện của công ty (Trưởng đoàn),
  • người đại diện Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể người lao động khi chưa thành lập tổ chức công đoàn cơ sở,
  • người làm công tác an toàn lao động,
  • người làm công tác y tế, và
  • một số thành viên khác (nếu cần thiết).

Sau khi tìm hiểu, Đoàn tìm hiểu sẽ lập Biên bản tìm hiểu và công bố công khai minh bạch Biên bản này tại cuộc họp dưới sự chủ trì của Trưởng Đoàn tìm hiểu và những thành viên tham gia là thành viên của Đoàn tìm hiểu, đại diện thay mặt của công ty, đại diện thay mặt tổ chức triển khai công đoàn, người bị nạn hoặc đại diện thay mặt thân nhân người bị nạn, người biết vấn đề, người có tương quan đến vụ tai nạn thương tâm ( nếu xảy ra tai nạn đáng tiếc lao động chết người còn có đại diện thay mặt cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp ). Biên bản tìm hiểu sau khi công bố phải được gửi đến Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nơi công ty đặt trụ sở và Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nơi xảy ra tai nạn thương tâm .
Việc xác lập lỗi sẽ được Kết luận địa thế căn cứ vào những chứng cứ, diễn biến tích lũy được trong quy trình tìm hiểu. Đoàn tìm hiểu và Trưởng Đoàn Điều tra sẽ chịu nghĩa vụ và trách nhiệm về quyết định hành động của mình .
Quy trình tìm hiểu được lao lý chi tiết cụ thể tại Điều 35, Luật An toàn Vệ sinh Lao động năm ngoái và những Điều 11, 12, 13, 16, 18 của Nghị định 39/2016 / NĐ-CP .

Vấn đề báo cáo

Tai nạn lao động sẽ phải được báo cáo giải trình định kỳ cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nơi công ty đặt trụ sở chính. Việc báo cáo giải trình chia làm 2 đợt, gồm ( i ) báo cáo giải trình 06 tháng – nộp trước ngày 05/7 hằng năm và ( ii ) báo cáo giải trình năm – nộp trước ngày 10/01 năm sau. Báo cáo được nộp bằng một trong những hình thức : nộp trực tiếp, qua fax, qua bưu điện, qua thư điện tử. Mẫu báo cáo giải trình được pháp luật tại Phụ lục XII, Nghị định 39/2016 / NĐ-CP .
Tuy nhiên, trong những trường hợp dưới đây thì công ty cần phải khai báo tai nạn đáng tiếc ngay khi phát hiện ra và phải khai báo bằng cách nhanh nhất ( trực tiếp hoặc điện thoại cảm ứng, fax, công điện, thư điện tử ) :

  • Tai nạn làm bị thương nặng từ hai người lao động trở lên -> khai báo cho Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nơi xảy ra tai nạn.
  • Tai nạn làm chết người -> khai báo cho Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội và cơ quan công an cấp huyện nơi xảy ra tai nạn.

Nội dung khai báo theo mẫu quy định tại Phụ lục III, Nghị định 39/2016/NĐ-CP..

Các định nghĩa về “ tai nạn đáng tiếc lao động làm chết người ”, “ tai nạn thương tâm lao động làm người lao động bị thương nặng ” và lao lý chi tiết cụ thể về việc khai báo tai nạn thương tâm lao động, báo cáo giải trình định kỳ được pháp luật tại Điều 34, Luật An toàn Vệ sinh Lao động năm ngoái và Điều 9, 10, 24 của Nghị định 39/2016 / NĐ-CP .
Bài viết được trích dẫn từ Tạp chí Pháp luật Lao động ( Tháng 10, 2018 ), bạn hoàn toàn có thể tải về và đọc bản rất đầy đủ của Tạp chí Pháp luật Lao động ( Tháng 10, 2018 ) tại đây