Thuvết minh về một làng nghề truyền thống, một đặc sản, một nét văn hóa ẩm thực.>

Lựa chọn câu để xem giải thuật nhanh hơn- Những năm gần đây có một số ít người khi in tranh đã từng dùng một số ít màu và hóa chất tân tiến, như vậy mẫu sản phẩm có tăng nhưng vật liệu màu của tranh không tươi màu, sắc nét như tranh làm truyền thống cuội nguồn. Đã thế, chỉ trong một thời hạn ngắn sắc tố sẽ bị phai nhạt, không bền màu sắc .- Để có được một bức tranh đẹp, những màu in tranh thường được lấy từ vật liệu vạn vật thiên nhiên : màu đen người ta phải đốt lá tre rồi lấy than của nó, màu xanh lấy từ vỏ lá tràm, màu vàng lấy từ hoa hòe, màu đỏ thắm lấy từ thân, rễ cây vang, màu sơn lấy từ sỏi núi, màu trắng là điệp .

– Còn theo lịch sử của làng thì gia đình đã gắn bó với nghề lâu nhất ở đây là gia đình ông Nguyễn Đăng Chế. Đến nay, gia đình ông đã có 20 đời làm nghề. Cả đại gia đình ông ba thế hệ đều tâm huyết với tranh Đông Hồ.

Bài mẫu

Làng tranh Đông Hồ
Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về làng Mái với anh thì về
Làng Mái có lịch có lề
Có ao tắm mát có nghề làm tranh
Đó là những câu ca quyến rũ về một làng nghề truyền thống cuội nguồn từ lâu đã được nhiều người biết đến – Làng tranh Đông Hồ .
Đông Hồ, một cái tên làng quen thuộc xinh xắn nằm bên bờ sông Đuống thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, Hà Bắc cũ ( nay là tỉnh Thành Phố Bắc Ninh, cách TP. Hà Nội chừng trên 35 km ). Từ lâu tên làng đi vào đời sống ý thức của mỗi người dân Việt Nam bằng những bức tranh dân gian nổi tiếng, đậm đà sắc thái dân tộc bản địa. Làng tranh Đông Hô xưa còn gọi là làng Mái ( nhiều lúc dân địa phương chỉ gọi là làng Hồ ), là làng nghề nổi tiếng về tranh dân gian. Làng Đông Hồ nằm trên bờ nam sông Đuống, cạnh bến đò Hồ, nay là cầu Hồ. Từ TP.HN muốn đi Đông Hồ gần nhất là xuôi theo đường Quốc lộ số 5 ( đường đi Hải Phòng Đất Cảng ) đến ga Phú Thụy, cách TP. Hà Nội chừng 15 km thì rẽ trái, đi chừng 18 km nữa, qua những địa điểm khá nôi tiêng của huyện Gia Lâm TP.HN ) như phố Sủi, chợ Keo, chợ Dâu ( Thuận Thành – TP Bắc Ninh ) là đến phố Hồ – huyện lỵ Thuận Thành. Rẽ trái thêm 2 km là đến làng Hồ. Cũng cỏ thẻ đi hết phố Hồ, lên đê rẽ trái, gặp điếm canh đê thứ hai sẽ có biên chi đường xuống làng Đông Hồ .

   Tranh của làng Đông Hồ có từ thời Lê. Ở cái làng nghèo mà hào hoa như làng tranh Đông Hồ trước đây thường truyền nhau câu ca “Lảng Mải có lịch có lề – Có sông tắm mát, có nghề làm tranh”. Qua nhiều thế kỳ, 17 dòng họ đã quy tụ về làng, vốn xưa tất cả đều làm tranh. Không khí sầm uất vào cừ tháng mười một, tháng chạp, các thuyền từ xứ Đông xứ Đoài ghé bến “ăn tranh”. Người làng tranh trước ở ngoài đê vào mùa vụ làm tranh cũng phải một sương hai năng tất bật khuya sớm. Thôi thì chỗ này rậm rịch tiếng chày giã điệp, chỗ nọ dỡ ván in tranh cọ rửa lau chùi sạch sẽ. Khói đốt than lá tre ẩn hiện la đà trên các ngọn cây. Làng Đông Hồ ruộng đất ít, sống chủ yếu bằng nghề làm tranh. Nghề làm tranh trong làng rất được trọng vọng. Ai có hoa tay, có thú chơi cầm, kì, thi, họa đều được mọi người vị nể (cũng là theo cái thú tao nhã của nhà nho xưa). Tranh Đông Hồ, hay tên đầy đủ là tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ, là một dòng tranh dân gian Việt Nam. Trước kia tranh được bán ra chủ yếu phục vụ cho dịp Tết Nguyên Đán, người dân nông thôn mua tranh về dán trên tường, hết năm lại lột bỏ, dùng tranh mới. Tranh làng Đông Hồ không phải vẽ theo cảm hứng nghệ thuật mà người ta dùng ván để in. Tranh được in hoàn toàn bằng tay với các bản màu; môi màu dùng một bản, và bản nét (màu đen) in sau cùng. Nhờ cách in này, tranh được “sản xuất” với số lượng lớn và không đòi hỏi kĩ năng cầu kì nhiều. Tuy nhiên vì in trên ván gỗ một cách thủ công, nên tranh bị hạn chế về mặt kích thước, thông thường các tờ tranh không lớn quá 50 cm mồi chiều. Để có những bản khắc đạt đến trình độ tinh xảo phải có người vẽ mẫu. Những người vẽ mâu và bản khắc ván đòi hỏi họ phải có lòng yêu nghệ thuật và tâm hồn nghệ sĩ, đặc biệt phải có trình độ kĩ thuật cao. Công đoạn in tranh có lẽ không khó lắm bởi lẽ ai cũng có thể phết màu lên ván rồi in. Giấy dùng in tranh là loại giấy gió mịn mặt. Trước khi in, giấy được bồi điệp làm nền, chắt điệp óng ánh lấy từ vỏ con sò, con hến đã tạo nên chất liệu riêng biệt của tranh dân gian Đông Hồ. Sau khi in thành tranh, kể cả cả lúc tranh khô, người xem vẫn cảm nhận được màu sắc của tranh thật tươi tắn như lúc tranh ướt. Các hình khối, mảng nọ đặt cạnh mảng kia có sự ăn ý hài hoà một cách tự nhiên. Các màu đã hoà quyện in tranh thường lấy từ chất liệu thiên nhiên: màu đen người ta phải đốt lá tre rồi lấy than của nó; màu xanh lây từ vỏ và lá tràm, màu vàng lấy từ hoa hòe, màu đỏ thắm lấy từ thân, rễ cây vang, màu son lấy từ sỏi núi, màu trắng là điệp… Xem tranh dân gian ta thường bắt gặp cái thú vị ở những nét ngây ngô đơn giản nhưng hợp lí hợp tình. Tranh Đông Hồ còn hấp dẫn bởi vẻ rực rỡ, sắc màu tươi rói của những bộ tứ bình, Thạch Sanh, những gà, lợn, mèo, chuột, ngựa… Một nhà thơ xứ Kinh Bấc đã viết:

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Hồn dân tộc bản địa sáng bừng trên giấy điệp
Có thể nói, cái đặc biệt quan trọng của tranh Đông Hồ là ở chỗ đó. Tranh dân gian Hàng Trống, Kim Hoàng, Huế … không hề có sắc màu muôn hồng ngàn tía của tranh Đông Hồ, cũng không hề có nền giấy điệp điệu đàng đó. Người sành tranh Đông Hồ chính bởi chất dân gian tiềm ẩn trong tờ tranh nền giấy điệp trắng ngà, lướt nhẹ lượt hoà vàng hay vàng đỏ .
Tranh Đông Hồ gồm những loại : Tranh thờ – bộ ngũ sự ; tranh lịch sử vẻ vang : Hai Bà Trưng, Bà Triệu … ; truyện tranh : Thánh Gióng, Truyện Kiêu, Thạch Sanh ; phó biến nhất là chúc tụng ; ví như tranh Vinh hoa – Phú quý, Nghi xuân, Gà đàn ( xem thêm bảy bức tranh gà ) ; tranh hoạt động và sinh hoạt : Đánh ghen, Chăn trâu thổi sáo, Nhà nông, Đám cưới Chuột, Hái dừa … Tranh Đông Hồ có đặc thù thường là những hình ảnh sung túc như đám cưới chuột, cảnh trai gái cùng nhau hái dừa, cảnh con cá chép nhiều màu vẫy đuôi … biểu lộ mong ước về sự sung túc .
Có một điều đặc biệt quan trọng là người dân làng Hồ chuyên sản xuất tranh nhưng chẳng khi nào treo trong nhà mà đem bán hoặc cho hết. Hàng năm làng Hồ có hội làng vào rằm tháng ba âm lịch. Trong hội làng có những nghi thức tiếp thị quảng cáo như tê thân, thi mã, thi tranh rất vui tươi. Làng còn có những làn điệu dân ca như :
Hởi anh đi đường cái quan
Dừng chân ngắm cảnh mà tan nỗi sầu
Mua tờ tranh điệp tươi màu

Mua đàn gà lợn thi nhau đẻ nhiêu.

Theo thời hạn, làng tranh cùng trải qua biết bao nhiêu thăng trầm. Các cụ nghệ nhân trong làng kể lại : Hồi Pháp thuộc, người ờ nhà Bác cố đôi lúc lại đánh xe xe hơi về mua tranh, thậm chí còn mua cả bân khắc tranh nữa ! Nhà cụ Lử có bản khắc tranh gà rất quý đưa đi đóng cửa chuồng gà, người Pháp phát hiện ra hỏi mua cụ bán liền. Nghĩ lại mà tiếc ! Còn nhớ cái thuở Tây càn, dân làng Hồ chạy loạn, binh lửa cuộc chiến tranh liên miên và cái khí hậu khí ẩm khắc nghiệt của vạn vật thiên nhiên miền Bắc, ván khắc tranh bị hỏng và thất lạc khá nhiều. Bản gốc tranh Đánh ghen, Gà đại cát, lợn ăn lá dày … cũng không còn nữa. Sau ngày Hòa Bình lập lại thấy trên báo Pháp có in tranh dân gian làng Hồ, nhà nước ta phải liên hệ với Đảng Cộng sản Pháp xin cho khắc lại ván tranh để bảo tồn. Đã có một thời hạn tranh dân gian Đông Hồ bị quên béng nên nghề làm tranh mai một ít nhiều. Không ít hộ bỏ làm tranh chuyển sang làm đồ vàng mã. Nhưng vài năm trở lại đây người Đông Hồ lại hoan hỉ trở lại với nghề tranh nhiều hơn bởi người dân của ta đã lại nhận ra vẻ đẹp trong sự mộc mạc đơn giản và giản dị của tranh Đông Hồ là không hề thiếu được trong đời sống thường nhật, nhất là ngày Tết .
Tranh Đông Hồ có một dạo lên đến điểm ” cực thịnh “, đã từng sáng giá trong những triển lãm thẩm mỹ và nghệ thuật lớn ở những nước trên quốc tế với nét vẽ nhuần nhụy, tươi tắn như hồn người đất Việt. Không chỉ có người TP. Hà Nội và dân một số ít tỉnh thành trong nước yêu thích tranh dân gian Têt Đông Hồ về du lịch thăm quan tìm hiểu và khám phá và chọn mua, mà không ít hành khách, những người trong nghành hội hoạ, mĩ thuật của quốc tế cũng đến để điều tra và nghiên cứu vê thẩm mỹ và nghệ thuật tranh dân gian nổi tiếng của làng Hồ. Bà con Việt kiều khi về nước cùng phải tìm mua bằng được những bức tranh làng Hô và cô Tô Nữ dáng quê nhà, đê khi ở xa ( quê trong sương mù Luân Đôn hay cái giá lạnh của Pa-ri hoa lệ. cảm thấy ấm lòng ở chốn tha hương .

Loigiaihay.com