1 KHÁI QUÁT MÔN HỌC CÔNG NGHỆ LỚP 11 PHỔ THÔNG – Tài liệu text

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản vừa đủ của tài liệu tại đây ( 780.47 KB, 78 trang )

người hình thành và rèn luyện kỹ năng lao động nhất định trong mỗi lĩnh vực sản

xuất khác nhau của xã hội.

Môn Công nghệ trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về cấu tạo và

nguyên lý làm việc của động cơ đốt trong, ô tto, xe máy, kĩ thuật điện… Đây là

những kiến thức rất thiết thực và gắn liền với thực tế cuộc sống. Vì vậy môn

Công nghệ góp phần quan trọng trong đáp ứng các yêu cầu trên, hiện nay môn

Công nghệ phổ thông được giảng dạy ở hầu hết các trường phổ thông trên cả

nước.

2.1.2 Nội dung, đặc điểm của môn Công nghệ phổ thông

2.1.2.1 Nội dung

Nội dung môn Công nghệ được trình bày trong 39 bài, cấu trúc thành 3

phần.

Phần I – Vẽ kỹ thuật: nội dung phần vẽ kỹ thuật được trình bày trong 16

bài, cấu trúc thành 2 chương.

Chương I: “Vẽ kỹ thuật cơ sở” được trình bày trong 7 bài nhằm giới thiệu

các tieu chuẩn cơ bản của bản vẽ kỹ thuật (tiêu đề về trình bày bản vẽ và hình

biểu diễn); giới thiệu các hình chiếu (hình chiếu vuông góc, hình chiếu trục đo,

hình chiếu phối cảnh), giới thiệu hình cắt và mặt cắt.

Chương II: “Vẽ kỹ thuật ứng dụng” được trình bày trong 7 bài nhằm giới

thiệu khái quát ứng dụng của vẽ kỹ thuật cơ sở vào các bản vẽ kỹ thuật. Vận

dụng các tiêu chuẩn, các hình biểu diễn hai chiều, ba chều, để đọc, lập bản vẽ cơ

khí (bản vẽ chi tiết và bản vẽ lắp) và bản vẽ xây dựng (bản vẽ tổng mặt bằng và

bản vẽ công trình).

Phần II – Chế tạo cơ khí : Nội dung phần chế tạo cơ khí được trình bày

trong 5 bài, cấu trúc thành 2 chương:

Chương III: “Vật liệu cơ khí và công nghệ chế tạo phôi” được trình bày

trong 2 bài nhằm giới thiệu tính chất, công dụng của một số loại vật liệu dùng

29

trong ngành cơ khí, giới thiệu bản chất của công nghệ chế tạo phôi bằng phương

pháp đúc, hàn, gia công bằng áp lực.

Chương IV: “Công nghệ cắt gọt kim loại và tự động hóa trrong chế tạo cơ

khí” trình bày trong 3 bài nhằm giới thiệu về bản chất của gia công kim loại bằng

cắt gọt, gia công trên máy tiện, giới thiệu cách lập quy trình công nghệ chế tạo

một chi tiết đơn giản trên máy tiện, giới thiệu về máy tự động, máy điều khiển

số, dây chuyền tự động và các biện pháp đảm bảo sự phát triển bền vững trong

sản xuất cơ khí.

Phần 3 – Động cơ đốt trong: Nội dung phần động cơ đốt trong được trình

bày trong 19 bài, cấu chúc thành 3 chương:

Chương V: “Đại cương về ĐCĐT” được trình bày trong 2 bài nhằm giới

thiệu khái quát về ĐCĐT như: một số khái niệm cơ bản, khái niệm và phân loại,

cấu tạo chung và nguyên lí làm việc của ĐCĐT.

Chương VI: “Cấu tạo của ĐCĐT” được trình bày trong 10 bài nhằm giới

thiệu khái quát về cấu tạo và nguyên lí làm việc chung của các cơ cấu, hệ thống

với đa số các hình vẽ được thể hiện dưới dạng sơ đồ khối, sơ đồ nguyên lý nhằm

giúp học sinh lĩnh hội kiến thức dễ dàng.

Chương VII: “Ứng dụng ĐCĐT” được trình bày trong 7 bài nhằm giới thiệu

vai trò, vị trí của ĐCĐT trong sản xuất và đời sống; đặc điểm của động cơ và hệ

thống truyền lực trên một số thiết bị động lực.

Cuối chương VI và chương VII là các bài thực hành với nội dung đơn giản,

chủ yếu giúp học sinh nhận biết, làm quen với các thao tác cơ bản về vận hành

và bảo dưỡng động cơ.

Bài 39 là bài cuối cùng với nội dung hướng dẫn HS ôn tập toàn bộ kiến

thức phần Chế tạo cơ khí và phần ĐCĐT.

2.1.2.2 Đặc điểm của môn Công nghệ

Môn Công nghệ có những đặc điểm sau:

30

a. Tính cụ thể và tính trừu tượng của môn học.

– Tính cụ thể: tính cụ thể của môn học thể hiện ở nội dung môn học đề cập

đến những máy móc, thiết bị,… Đây là những vật phẩm kĩ thuật rất cụ thể đồng

thời môn Công nghệ còn đề cập đến những thao tác kĩ thuật cơ bản và cụ thể

như: thực hành lắp ráp sản phẩm, chuẩn đoán hỏng hóc,… Những kiến thức trực

quan này học sinh có thể quan sát thông qua phương tiện trực quan hoặc thao tác

mẫu của giáo viên.

– Tính trừu tượng: tính trừu tượng được phản ánh trong hệ thống các khái

niệm kĩ thuật, các nguyên lý hoạt động của động cơ 4 kì, động cơ 2 kì, các cơ

cấu hệ thống,… mà học sinh không trực tiếp tri giác được.

VD: Sự tạo thành hỗn hợp xăng với không khí trong bộ chế hòa khí, chu

trình làm việc thực tế của động cơ đốt trong…

Những nội dung này học sinh muốn hiểu được phải tự mình tư duy trừu

tượng thông qua lời giảng của giáo viên, sự phân tích của người hướng dẫn. Để

có tư liệu cho tư duy tưởng tượng thì phải có những nhận thức cảm tính hay trực

quan, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và ngược lại. Vì thế trong

quá trình giảng dạy các nguyên lý kĩ thuật đòi hỏi phải trực quan hóa các nội

dung bằng phương tiện trực quan như: hình vẽ, đồ thị, sơ đồ, mô hình và thao tác

mẫu của giáo viên.

b. Tính thực tiễn của môn học

Đối tượng nghiên cứu và nội dung của môn học Công nghệ phản ánh các

phương tiện trực quan trong hoạt động thực tiễn cuộc sống như: ô tô, xe máy,

các loại động cơ được sử dụng trong các máy công – nông nghiệp,… Các loại

phương tiện máy móc này luôn gắn bó với quá trình sản xuất và sử dụng trong

thực tế cuộc sống hằng ngày. Dựa trên cơ sở khoa học nhưng phân môn Công

nghệ xuất phát từ thực tiễn cuộc sống và giải quyết các nhiệm vụ, nhu cầu cụ thể

trong sản xuất và đời sống. Đặc điểm này làm nổi bật nội dung bài giảng, làm

31

nội dung bài giảng bao giơg cũng gần gũi với học sinh hơn nhưng không làm

giảm ý nghĩa khoa học của môn học. Khi giảng dạy người giáo viên cần phải vận

dụng kiến thức thực tế cuộc sống đồng thời gợi mở những hiểu biết trong thực tế

của học sinh, những kiến thức cơ bản về cấu tạo và nguyên lý làm việc của động

cơ đốt trong, của các hệ thống chính trên ô tô, xe máy,… Đây là những kiến thức

rất thiết thực và gắn liền với cuộc sống vì vậy môn Công nghệ phổ thông đáp

ứng những nhu cầu trên của xã hội.

Hiện nay, môn Công nghệ phổ thông, được giảng dạy ở hầu hết các trường

phổ thông trong cả nước. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần phải khái quát

những kiến thức đó thành những nguyên lý chung ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ. Từ

nguyên lý chung của các thiết bị máy móc để tìm ra ứng dụng của nó trong quá

trình sản xuất và trong cuộc sống hằng ngày, làm cho quá trình dạy học gắn liền

với thực tiễn. Từ đó giúp học sinh có khả năng nhận biết các sự vật hiện tượng

đơn giản ở xung quanh và giải thích được chúng.

VD: muốn nâng cao công suất và giảm lượng tiêu hao nhiên liệu của động

cơ xăng, cần nâng cao tỉ số nén (ɛ). Để nâng cao ɛ cần phải giải quyết các vấn đề

sau:

– Hạn chế khả năng cháy kích nổ của xăng bằng cách pha thêm tetraetyl chì

Pb(C2H5)4 và đibromua etyl C2H4Br2. Nhưng xăng pha chì sẽ độc hại với người

sử dụng nên phải dùng màu để phân biệt. Vì vậy xăng thường có màu sắc khác

nhau.

– Đảm bảo độ kín khít cao giữa pittong với xilanh, nhưng giảm ma sát giữa

hai bộ phận này bằng cách dùng xecmang (xecmang khí, xecmang dầu với

những tiết diện khác nhau). Do đó khi “hơi yếu” (biểu hiện của ɛ giảm) nhiều khi

chỉ cần thay xecmang là có thể khắc phục được.

– Truyền nhiệt nhanh giữa các bộ phận trên động cơ ra ngoài bằng quạt gió,

cánh tỏa nhiệt, bằng môi chất dẫn nhiệt (nước, dầu bôi trơn…).

32

Thực tế giảng dạy cho thấy, có thể làm cho bài dạy kĩ thuật mang tính thực

tiễn bằng hai cách:

– Từ những kinh nghiệm đã có của học sinh mà khái quát hóa thành hiểu

biết chung.

– Từ những nguyên lý, lý thuyết chung, chỉ ra những ứng dụng của nó trong

thực tế.

c. Tính tổng hợp – tích hợp.

Tính tổng hợp thể hiện ở chỗ nội dung kiến thức của môn Công nghệ được

xây dựng trên nguyên tắc kĩ thuật tổng hợp. Do đó kiến thức mang tính phổ

thông, chìa khóa, làm cơ sở cho những nội dung chuyên ngành sau này. Nhờ có

đặc điểm này mà môn học mang trong nó tiềm năng giáo dục kĩ thuật tổng hợp

to lớn, tạo điều kiện cho giáo viên có khả năng phân tích, khai thác trong từng

nội dung cụ thể.

Môn Công nghệ mang tính chất tích hợp vì nó là môn khoa học ứng dụng,

hàm chứa những phần tử kiến thức thuộc nhiều môn khoa hock khác nhau: toán

học, vật lý, hóa học,… nhưng lại liên quan, thống nhất với nhau để phản ánh

những đối tượng kĩ thuật cụ thể.

VD: toán học là công cụ để mô tả, thực hiện việc tính toán, thiết kế các

thông số và kết cấu của động cơ đốt trong. Những định luật vật lý về chất khí,

chất lỏng và nhiệt học là cơ sở để xây dựng nguyên lý làm việc của động cơ đốt

trong. Những hiểu biết về hóa học là cơ sở để nghiên cứu nhiên liệu, dầu mỏ và

quá trình cháy của động cơ.

Đặc điểm này của môn học đòi hỏi trong khi giảng dạy người giáo viên cần

phải chỉ rõ cơ sở khoa học của những hiện tượng kĩ thuật, giải pháp kĩ thuật,…

trong bài đồng thời phân tích kả năng áp dụng chúng trong những trường hợp

tương tự. Vì vậy, khi dạy mỗi nội dung khác nhau giáo viên cần tham khảo các

33

sách có liên quan để nội dung môn học được phong phú, không trùng lặp, khắc

sâu kiến thức cho học sinh.

d. Ngôn ngữ và thuật ngữ kĩ thuật.

Dựa trên việc sử dụng ngôn ngữ chung là: lời nói và chữ viết, ngoài ra môn

kĩ thuật cơ khí còn nhiều án có nhiều quy ước, tranh vẽ, sơ đồ,… Trong quá trình

giảng dạy, giáo viên phải sử dụng chính xác các thuật ngữ kĩ thuật, các khái

niệm,… của các chi tiết bộ phận trong động cơ, ô tô, xe máy,… đồng thời hướng

dẫn học sinh sử dụng sổ tay kĩ thuật.

2.2 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC CÔNG

NGHỆ 11 PHỔ THÔNG

2.2.1 Mức độ sử dụng phương tiện trực quan

Trong quá trình dạy học, giáo viên và học sinh đã thực hiện một phần của

nhiệm vụ giáo dục. Giáo viên là người truyền đạt kiến thức khoa học, kinh tế, xã

hội đã tích lũy qua các thế hệ trước. Để lĩnh hội được những kiến thức đó học

sinh phải tái hiện và sáng tạo trong quá trình học tập. Hoạt động sáng tạo và tái

hiện trong thực tế thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau và có mối liên hệ chặt chẽ

với nhau. Một quá trình sáng tạo bất kì đều bắt đầu từ sự tái hiện những cái đã

biết.

Phương tiện trực quan là thiết bị hỗ trợ đắc lực cho giáo viên trong quá

trình dạy học. Bởi vì, phương tiện trực quan được hiểu là những công cụ

(phương tiện) mà giáo viên và học sinh sử dụng trong quá trình dạy học nhằm

cung cấp tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh thông qua sư tri giác

trực tiếp bằng giác quan.

Trong quá trình dạy học, phương tiện trực quan giúp bài giảng của giáo

viên trở nên sống động, cuốn hút được học sinh bởi các hiện tượng tự nhiên được

giáo viên môt tả như các vật thật, vật tạo hình. Các phương tiện dạy học giúp

giáo viên không trở thành người độc diễn trong suốt bài giảng.

34

Nhờ có phương tiện trực quan giáo viên kích thích được tính tò mò, sáng

tạo, ham hiểu biết và lòng yêu khoa học của học sinh. Phương tiện trực quan có

tầm quan trọng trong quá trình nhận thức của học sinh. Vì vậy, thông qua sự

tương tác giữa phương pháp dạy học và phương tiện trực quan thường gặp 2 mức

độ nội dung sau:

– Sử dụng phương tiện trực quan để minh họa.

– Sử dụng phương tiện trực quan tìm tòi bộ phận.

2.2.1.1 Mức độ sử dụng phương tiện trực quan để minh họa

a. Mức độ minh họa:

Sử dụng phương tiện trực quan để minh họa tức là: dùng phương tiện trực

quan để diễn tả, thể hiện, khẳng định, chứng minh cho: những sự vật, hiện tượng

mà bằng lời nói không thể mô tả một cách đầy đủ; các yếu tố nghịch lý, mâu

thuẫn, các sự kiện tương phản, các yếu tố thông tin không thể hiểu được nếu chỉ

giải thích bằng lời nói.

b. Các bước thực hiện:

Quá trình dạy học sử dụng phương tiện trực quan để minh họa được thực

hiện theo các bước sau:

Bước 1: Chuẩn bị bài dạy

+ Xác định mục tiêu, nội dung bài học phạm vi kiến thức cần tìm kiếm, cần

làm sáng tỏ.

+Xây dựng logic tiến trình bài dạy và cách thức tiến hành giờ học.

+ Lựa chọn phương tiện trực quan sử dụng trong bài dạy.

+ Chuẩn bị các phương tiện trực quan và các điều kiện vật chất cần thiết

cho giờ học.

+ Soạn giáo án.

Bước 2: Tổ chức dạy học trên lớp

35

Giáo viên thông báo nội dung, vấn đề nghiên cứu, xác định phạm vi kiến

thức cần lĩnh hội.

Tùy vào nội dung từng bài mà giáo viên có thể sử dụng phương tiện trực

quan để minh họa theo các hướng khác nhau: hình thành khái niệm, giải quyết

mâu thuẫn,… để giúp học sinh lĩnh hội kiến thức của bài học.

Bước 3: Học sinh nghe, ghi các nội dung tương ứng.

– Học sinh nghe, ghi theo lời giới thiệu, giải thích của giáo viên và có thể

kết hợp trả lời các câu hỏi ngắn do giáo viên đưa ra.

VD: Trong bài “Đại cương về động cơ đốt trong” ở phần III (Những thuật

ngữ chính).

Mục đích của phần này là : Giúp học sinh hiểu một cách sâu sắc về các

thuật ngữ thường sử dụng đối với động cơ đốt trong. Khi học về các thuật ngữ

này học sinh thường rất khó hiểu và khó hình dung. Vì vậy, khi sử dụng phương

tiện trực quan để dạy học sinh dễ hiểu bài hơn. Cụ thể khi dạy về hành trình của

pittong, nếu giáo viên chỉ nêu lên khái niệm cho học sinh thôi thì học sinh sẽ

không hiểu. Nhưng nếu sử dụng tranh trực quan hình hay mô hình động cơ để

minh họa khi dạy học thì học sinh sẽ hiểu hơn.

Trước tiên giáo viên giảng cho học sinh để học sinh nghe và ghi:

GV: – Hành trình của pittong là khoảng cách giữa hai điểm chết.

– Hành trình của pittong được kí hiệu : S

36

(Hình ảnh chương 5)

Lúc này học sinh thắc mắc.

HS: Tại sao khoảng cách giữa hai điểm chết là hành trình của pittong?

Trước sự thắc mắc đó của học sinh, GV đưa ra tranh trực quan cho học sinh

quan sát.

GV: Khoảng cách S được giới hạn bởi những vị trí nào?

HS: Khoảng cách S được giới hạn bởi ĐCT và ĐCD.

GV: Đúng! Để hiểu rõ hơn các em hãy quan sát trên hình.

GV chiếu hình động cho học sinh quan sát và đưa ra câu hỏi.

GV: Khi trục khuỷu quay pittong chuyển động như thế nào?

HS: Pittong đi từ ĐCT xuống ĐCD và ngược lại.

GV: Đúng! Khi trục khuỷu quay, pittong sẽ đi từ ĐCT xuống ĐCD và

ngược lại, khi pittong đi từ ĐCT đến ĐCD nó đã thực hiện được một hành trình.

Trong quá trình dạy học có nhiều trường hợp nếu chỉ giải thích bằng lời nói,

học sinh sẽ không hiểu ý đồ giảng dạy của GV. Như vậy trong quá trình dạy học

gặp phải những vấn đề khó hiểu, khó suy luận nếu người giáo viên biết cách sử

dụng phương tiện trực quan minh họa kết hợp với các phương pháp dạy học sẽ

mang lại hiệu quả cao hơn cho bài dạy. Học sinh sẽ hứng thú học tập hơn và tiếp

thu bài nhanh hơn.

37

2.2.1.2 Sử dụng phương tiện trực quan ở mức tìm tòi bộ phận

a. Mức độ tìm tòi bộ phận.

Sử dụng phương tiện trực quan để tìm tòi bộ phận tức là sau khi được giới

thiệu về nội dung bài học, phương tiện trực quan, các yêu cầu cần giải quyết giữa

chúng, nguyên lý hoạt động, … trên phương tiện trực quan. Học sinh hiểu rõ hơn

về cấu tạo và mối liên hệ giữa các chi tiết, bộ phận,… trao đổi, rút ra kết luận và

tự lĩnh hội tri thức.

b. Các bước thực hiện.

Bước 1: Chuẩn bị bài dạy

+ Xác định mục đích, nội dung của bài dạy.

+ Xây dựng tiến trình bài dạy và cách thức tiến hành giảng dạy

+ Lựa chọn phương tiện trực quan và chuẩn bị phương tiện trực quan cho

bài học.

+ Soạn giáo án.

Bước 2: Tổ chức dạy học trên lớp.

+ Thông báo những nội dung kiến thức nghiên cứu và lĩnh hội.

+ Giáo viên trình bày trực quan theo logic vấn đề nghiên cứu: định hướng,

hướng dẫn học sinh quan sát, khai thác phương tiện trực quan để lĩnh hội tri thức

mới.

Bước 3: Học sinh phát biểu kết quả.

+ Học sinh trình bày kết quả quan sát dựa trên các phương tiện trực quan.

trả lời các câu hỏi của giáo viên, tự rút ra kết luận.

+ Giáo viên nhận xét, bổ sung, giải quyết thắc mắc của học sinh, giúp học

sinh lĩnh hội tri thức.

+ Học sinh vận dụng kiến thức.

VD: Trong khi dạy về cấu tạo và nguyên lý hoạt động của hệ thống làm

mát.

38

Mục đích của phần này là sau khi học xong học sinh phải hiểu được rõ cấu

tạo và nguyên lý hoạt động của hệ thống làm mát.

Khó khăn: nếu giáo viên chỉ giảng cấu tạo và nguyên lý hoạt động trên cơ

sở lý thuyết thì học sinh sẽ khó nhận biết được hình dáng, sự liên hệ giữa các bộ

phận của hệ thống cũng như hoạt động của nó. Vì vậy khi giáo viên sử dụng

tranh trực quan hình, sơ đồ khối cho học sinh quan sát, học sinh sẽ hiểu bài một

cách sâu hơn.

Trước tiên giáo viên giảng cho học sinh biết qua về cấu tạo của hệ thống,

đặc điểm của từng bộ phận và đưa ra tranh trực quan cho học sinh quan sát

(Tranh không có thuyết minh)

Hình 26.1: Hệ thống làm mát bằng nước loại tuần hoàn cưỡng bức.

GV: Các em hãy quan sát và sau đó một em lên điền tên các bộ phận tương

ứng.

Sau khi học sinh quan sát xong giáo viên gọi học sinh lên điền tên các bộ

phận. Khi học sinh đã điền đầy đủ tên các bộ phận của hệ thống, giáo viên vẽ sơ

đồ khối cho học sinh quan sát.

GV: Các em hãy quan sát sơ đồ, đối chiếu với tranh mà các em quan sát và

tìm hiểu xem nước đi như thế nào?

39

Liên kết:KQXSMB