Phân loại theo chức năng nghiên cứu : Phân loại theo tính chất của sản phẩm – Tài liệu text

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (853.99 KB, 49 trang )

Trường Đại Học Công Nghệ Thông Tin – Sinh Viên: Ng uyễn Lâm Tú 06520525

I. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – NHỮNG KHÁI NIỆM MỞ ĐẦU

Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội, hƣớng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chƣa biết hoặc là phát hiện bản chất sƣ vật, phát triển nhận thức khoa học về
thế giới ho ặc là sáng tạo phƣơng pháp mới và phƣơng tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới.
Có nhiều cách phân loại nghiên cứu khoa học. Ở đây ta đề cập đến phân loại theo chức năng nghiên cứu và theo tính chất của sản phẩm tri thức khoa học thu đƣợc nhờ kết
quả nghiên cứu.

1. Phân loại theo chức năng nghiên cứu :

Nghiên cứu mô tả, là những nghiên cứu nhằm đƣa ra một hệ thống tri thức về
nhân dạng sƣ vật, giúp con ngƣời phân biệt đƣợc sự khác nhau, về bản chất giữa sự vật này với sự vật khác. Nội dung mơ tả có thể bao gồm mơ tả hình thái, động thái,
tƣơng tác; mơ tả định tính tức là các đặc trƣng về chất của sự vật; mô tả định lƣợng nhằm chỉ rõ các đặc trƣng về lƣợng của sự vật.
Nghiên cứu giải thích, là những nghiên cứu nhằm làm rõ nguyên nhân dẫn đến
sự hình thành và quy luật chi phối quá trình vận động của sự vật. Nội dung c ủa giải thích có thể bao gồm giải thích nguồn gốc; động thái; cấu tr1uc; tƣơng tác; hậu quả;
quy luật chung chi phối quá trình vận động của sự vật.
Nghiên cứu dự báo, là những nhiên cứu nhằm nhận dạng trạng thái của sự vật
trong tƣơng lai. Mọi dự báo đều phải chấp nhận những sai lệch, kể cả trong nghiên cứu tự nhiên và xã hội. Sự sai lệch trong kết quả dự báo có thể do nhiều nguyên
nhân : sai lêch khách quan trong kết quả quan sát: sai lệch do những luận cứ bị biến dạng trong sự tác động của các sự khác; mội trƣờng cũng ln có thể biến động, …
Nghiên cứu sáng tạo, là nghiên cứu nhằm làm ra một sự vật mới chƣa từng tồn
tại. Khoa học không bao giờ dừng lại ở mô tả và dự báo mà luôn hƣớng vào sự sáng tạo các giải pháp c ải tạo thế giới.

2. Phân loại theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu :

Theo tính chất của sản phẩm, nghiên cúu đƣợc phân loại thành nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và ghiên cứu triển khai.
Nghiên cứu cơ bản Fundamental research là những nghiên cứu nhằmphát hiện
thuộc tính, cấu trúc, động thái các sự vật, tƣơng tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ
Trường Đại Học Công Nghệ Thông Tin – Sinh Viên: Ng uyễn Lâm Tú 06520525
giữa sƣ vật với các sƣ vật khác. Sản phẩm nghiên cứu cơ bản có thể là các khám phá, phát hiện, phát minh, dẫn đến viêc hình thành một hệ thống lý thuyết có giá trị tổng
quát, ảnh hƣởng đến một hoặc nhiều lĩng vực khoa học, chẳng hạn Newton phát minh định luật hấp dẫn vũ trụ; Marx phát hiện quy luật giá trị thặng dƣ. Nghiên cứu cơ bản
đƣợc phân thành hai loại : nghiên cứu cơ bản thuần túy và nghiên cứu cơ bản định hƣớng.
 Nghiên cứu cơ bản thuần túy, cò đƣợc gọi là nghiên cứu cơ bản tự do hoặc nghiên c ứu cơ bản không định hƣớng, là những nghiên cứu về bản chất sự vật để
nâng cao nhận thức, chƣa có hoặc chƣa bàn đến ý nghĩa ứng dụng.  Nghiên cứu cơ bản định hƣớng, là những nghiên cứu cơ bản đã dự kiến
trƣớc mục đích ứng dụng. các hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên, kinh tế, xã hội, … đều có thể xem là nghiên cứu cơ bản định hƣớng. Nghiên cứu cơ bản định
hƣớng đƣợc phân chia thành nghiên cứu nền tảng background research và nghiên cứu chuyên đề thematic research.
 Nghiên cứu nền tảng, là những nghiên cứu về quy luật tổng thể của một hệ thống sự vật. Hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên và các điều kiện thiên nhiên
nhƣ địa chất, nghiên cứu đại dƣơng, khí quyển, khí tƣợng; điều tra cơ bản về kinh tế, xã hội đều thuộc loại nghiên cứu nền tảng.
 Nghiên cứu chuyên đề, là nghiên cứu về một hiên tƣợng đặc biệt của sự vật, ví dụ trạng thái plasma c ủa sự vật, bức xạ vũ trụ, gien di truyền. Nghiên cứu
chuyên đề vừa dẫn đến hình thành những cơ sở lý thuyết, mà còn dẫn đến những ứng dụng có ý nghĩa thực tiễn.
Nghiên cứu ứng dụng Applied research : là sự vận dụng quy luật đƣợc phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật, tạo ra những nguyên lý mới về các giải
pháp và áp dụng chúng vào sản xúât và đời sống. Giải pháp đƣợc hiểu theo nghĩa rộng có thể là một giải pháp về công nghệ, về vật liệu, về tổ chức và quản lý. Một số giải
pháp cơng nghệ có thể trở thành sáng chế. Kết quả nghiên cứu ứng dụng thì chƣa ứng dụng đƣợc, để có thể đƣa kết quả nghiên cứu ứng dụng vào sử dụng thì còn phải tiến
hành một loại hình nghiên cứu khác có tên gọi lả triển khai.
Nghiên cứu triển khai Development research : còn gọi là nghiên cứu triển khai thực nghiệm hay triển khai thực nghiệm kỹ thuật, là sự vận dụng các quy luật thu
đƣợc từ nghiên cứu cơ bản và các nguyên lý thu đƣợc từ nghiên cứu ứng dụng để đƣa ra các hình mẫu với những tham số khả thi về kỹ thuật. Kết quả nghiên cứu triển
khai thì chƣa triển khai đƣợc: sản phẩm của triển khai chỉ mới là những hình mẫu khả thi về kỹ thuật, nghĩa là khơng còn rủi ro về mặt kỹ thuật, để áp dụng đƣợc còn
phảitiến hành nghiên cứu những tính khả thi khác nhƣ khả thi tài chính, khả thi kinh tế, khả thi môi trƣờng, khả thi xã hội. Hoạt động triển khai bao triển khai trong phòng
thí nghiệm và triển khai bán đ ại trà.
Trường Đại Học Công Nghệ Thông Tin – Sinh Viên: Ng uyễn Lâm Tú 06520525
 Triển khai trong phòng thí nghiệm : là loại hình triển khai nhằm khẳng định kết quả sao cho ra đƣợc sản phẩm, chƣa quan tâm đến quy mô áp dụng. trong
những nghiên cứu về công nghệ, loại hình này đƣợc thực hiện trong các phòng thí nghiệm, labơ cơng nghệ, nhà kính. Trên một quy mơ lớn hơn, ho ạt động triển
khai cũng đƣợc tiến hành trong các xƣởng thực nghiệm thuộc viện hoặc xí nghiệp sản xuất.
 Triển khai bán đại trà : trong các nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật và khoa học công nghệ là một dạng triển khai nhằm kiểm chứng giả thuyết
về hình mẫu trên một quy mô nhất định, thƣờng là quy mô áp dụng bán đ ại trà, hay quy mô bán công nghiệp.
Khái niệm triển khai đƣợc áp dụng cả trong nghiên cứu khoa học kỹ thuật và xã hội; trong các nghiên cứu về khoa học kỹ thuật, hoạt động triển khai đƣợc áp dụng khi
chế tạo một mẫu công nghệ mới hoặc sản phẩm mới; trong các nghiên cứu khoa học xã hội có thể lấy ví dụ về thử nghiệm một phƣơng pháp giảng dạy ở các lớp thí điểm; chỉ
đạo thí điểm một mơ hình quản lý mới tại một cơ sở đƣợc lựa chọn.
Tồn bộ các loại hình nghiên cứu và mối liên hệ giữa các loại hình nghiên cứu đƣợc trình bày trong sơ đồ bên dƣới. Sự phân chia loại hình nghiên cứu nhƣ trên đây đƣợc áp
dụng phổ biến trên thế giới. Phân chia là để nhận thức rõ bản chất của nghiên cứu khoa học, để có cơ sở lập kế hoạch nghiên cứu, cụ thể hóa các cam kết trong hợp đồng nghiên
cứu giữa các đối tác. Tuy nhiên trên thực tế, trong một đề tài có thể tồn tại cả ba loại hình nghiên cứu, hoặc tồn tại hai trong ba lo ại hình nghiên cứu.

II. LÀM THẾ NÀO ĐỂ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐẠT HIỆU QUẢ

Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội, hƣớng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chƣa biết hoặc là phát hiện bản chất sƣ vật, phát triển nhận thức khoa học vềthế giới ho ặc là sáng tạo phƣơng pháp mới và phƣơng tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới.Có nhiều cách phân loại nghiên cứu khoa học. Ở đây ta đề cập đến phân loại theo chức năng nghiên cứu và theo tính chất của sản phẩm tri thức khoa học thu đƣợc nhờ kếtquả nghiên cứu.Nghiên cứu mô tả, là những nghiên cứu nhằm đƣa ra một hệ thống tri thức vềnhân dạng sƣ vật, giúp con ngƣời phân biệt đƣợc sự khác nhau, về bản chất giữa sự vật này với sự vật khác. Nội dung mơ tả có thể bao gồm mơ tả hình thái, động thái,tƣơng tác; mơ tả định tính tức là các đặc trƣng về chất của sự vật; mô tả định lƣợng nhằm chỉ rõ các đặc trƣng về lƣợng của sự vật.Nghiên cứu giải thích, là những nghiên cứu nhằm làm rõ nguyên nhân dẫn đếnsự hình thành và quy luật chi phối quá trình vận động của sự vật. Nội dung c ủa giải thích có thể bao gồm giải thích nguồn gốc; động thái; cấu tr1uc; tƣơng tác; hậu quả;quy luật chung chi phối quá trình vận động của sự vật.Nghiên cứu dự báo, là những nhiên cứu nhằm nhận dạng trạng thái của sự vậttrong tƣơng lai. Mọi dự báo đều phải chấp nhận những sai lệch, kể cả trong nghiên cứu tự nhiên và xã hội. Sự sai lệch trong kết quả dự báo có thể do nhiều nguyênnhân : sai lêch khách quan trong kết quả quan sát: sai lệch do những luận cứ bị biến dạng trong sự tác động của các sự khác; mội trƣờng cũng ln có thể biến động, …Nghiên cứu sáng tạo, là nghiên cứu nhằm làm ra một sự vật mới chƣa từng tồntại. Khoa học không bao giờ dừng lại ở mô tả và dự báo mà luôn hƣớng vào sự sáng tạo các giải pháp c ải tạo thế giới.Theo tính chất của sản phẩm, nghiên cúu đƣợc phân loại thành nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và ghiên cứu triển khai.Nghiên cứu cơ bản Fundamental research là những nghiên cứu nhằmphát hiệnthuộc tính, cấu trúc, động thái các sự vật, tƣơng tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệTrường Đại Học Công Nghệ Thông Tin – Sinh Viên: Ng uyễn Lâm Tú 06520525giữa sƣ vật với các sƣ vật khác. Sản phẩm nghiên cứu cơ bản có thể là các khám phá, phát hiện, phát minh, dẫn đến viêc hình thành một hệ thống lý thuyết có giá trị tổngquát, ảnh hƣởng đến một hoặc nhiều lĩng vực khoa học, chẳng hạn Newton phát minh định luật hấp dẫn vũ trụ; Marx phát hiện quy luật giá trị thặng dƣ. Nghiên cứu cơ bảnđƣợc phân thành hai loại : nghiên cứu cơ bản thuần túy và nghiên cứu cơ bản định hƣớng. Nghiên cứu cơ bản thuần túy, cò đƣợc gọi là nghiên cứu cơ bản tự do hoặc nghiên c ứu cơ bản không định hƣớng, là những nghiên cứu về bản chất sự vật đểnâng cao nhận thức, chƣa có hoặc chƣa bàn đến ý nghĩa ứng dụng.  Nghiên cứu cơ bản định hƣớng, là những nghiên cứu cơ bản đã dự kiếntrƣớc mục đích ứng dụng. các hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên, kinh tế, xã hội, … đều có thể xem là nghiên cứu cơ bản định hƣớng. Nghiên cứu cơ bản địnhhƣớng đƣợc phân chia thành nghiên cứu nền tảng background research và nghiên cứu chuyên đề thematic research. Nghiên cứu nền tảng, là những nghiên cứu về quy luật tổng thể của một hệ thống sự vật. Hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên và các điều kiện thiên nhiênnhƣ địa chất, nghiên cứu đại dƣơng, khí quyển, khí tƣợng; điều tra cơ bản về kinh tế, xã hội đều thuộc loại nghiên cứu nền tảng. Nghiên cứu chuyên đề, là nghiên cứu về một hiên tƣợng đặc biệt của sự vật, ví dụ trạng thái plasma c ủa sự vật, bức xạ vũ trụ, gien di truyền. Nghiên cứuchuyên đề vừa dẫn đến hình thành những cơ sở lý thuyết, mà còn dẫn đến những ứng dụng có ý nghĩa thực tiễn.Nghiên cứu ứng dụng Applied research : là sự vận dụng quy luật đƣợc phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật, tạo ra những nguyên lý mới về các giảipháp và áp dụng chúng vào sản xúât và đời sống. Giải pháp đƣợc hiểu theo nghĩa rộng có thể là một giải pháp về công nghệ, về vật liệu, về tổ chức và quản lý. Một số giảipháp cơng nghệ có thể trở thành sáng chế. Kết quả nghiên cứu ứng dụng thì chƣa ứng dụng đƣợc, để có thể đƣa kết quả nghiên cứu ứng dụng vào sử dụng thì còn phải tiếnhành một loại hình nghiên cứu khác có tên gọi lả triển khai.Nghiên cứu triển khai Development research : còn gọi là nghiên cứu triển khai thực nghiệm hay triển khai thực nghiệm kỹ thuật, là sự vận dụng các quy luật thuđƣợc từ nghiên cứu cơ bản và các nguyên lý thu đƣợc từ nghiên cứu ứng dụng để đƣa ra các hình mẫu với những tham số khả thi về kỹ thuật. Kết quả nghiên cứu triểnkhai thì chƣa triển khai đƣợc: sản phẩm của triển khai chỉ mới là những hình mẫu khả thi về kỹ thuật, nghĩa là khơng còn rủi ro về mặt kỹ thuật, để áp dụng đƣợc cònphảitiến hành nghiên cứu những tính khả thi khác nhƣ khả thi tài chính, khả thi kinh tế, khả thi môi trƣờng, khả thi xã hội. Hoạt động triển khai bao triển khai trong phòngthí nghiệm và triển khai bán đ ại trà.Trường Đại Học Công Nghệ Thông Tin – Sinh Viên: Ng uyễn Lâm Tú 06520525 Triển khai trong phòng thí nghiệm : là loại hình triển khai nhằm khẳng định kết quả sao cho ra đƣợc sản phẩm, chƣa quan tâm đến quy mô áp dụng. trongnhững nghiên cứu về công nghệ, loại hình này đƣợc thực hiện trong các phòng thí nghiệm, labơ cơng nghệ, nhà kính. Trên một quy mơ lớn hơn, ho ạt động triểnkhai cũng đƣợc tiến hành trong các xƣởng thực nghiệm thuộc viện hoặc xí nghiệp sản xuất. Triển khai bán đại trà : trong các nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật và khoa học công nghệ là một dạng triển khai nhằm kiểm chứng giả thuyếtvề hình mẫu trên một quy mô nhất định, thƣờng là quy mô áp dụng bán đ ại trà, hay quy mô bán công nghiệp.Khái niệm triển khai đƣợc áp dụng cả trong nghiên cứu khoa học kỹ thuật và xã hội; trong các nghiên cứu về khoa học kỹ thuật, hoạt động triển khai đƣợc áp dụng khichế tạo một mẫu công nghệ mới hoặc sản phẩm mới; trong các nghiên cứu khoa học xã hội có thể lấy ví dụ về thử nghiệm một phƣơng pháp giảng dạy ở các lớp thí điểm; chỉđạo thí điểm một mơ hình quản lý mới tại một cơ sở đƣợc lựa chọn.Tồn bộ các loại hình nghiên cứu và mối liên hệ giữa các loại hình nghiên cứu đƣợc trình bày trong sơ đồ bên dƣới. Sự phân chia loại hình nghiên cứu nhƣ trên đây đƣợc ápdụng phổ biến trên thế giới. Phân chia là để nhận thức rõ bản chất của nghiên cứu khoa học, để có cơ sở lập kế hoạch nghiên cứu, cụ thể hóa các cam kết trong hợp đồng nghiêncứu giữa các đối tác. Tuy nhiên trên thực tế, trong một đề tài có thể tồn tại cả ba loại hình nghiên cứu, hoặc tồn tại hai trong ba lo ại hình nghiên cứu.