Chính sách thương mại nông thôn việt nam – Tài liệu text
Chính sách thương mại nông thôn việt nam
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (297.31 KB, 32 trang )
Bạn đang đọc: Chính sách thương mại nông thôn việt nam – Tài liệu text
[N]
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính thiết yếu của việc lựa chọn đề tài
Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa. Nước ta có
những tiền đề quan trọng để phát triển nông nghiệp. Và thật vậy, nền nông nghiệp
Việt Nam đã có riêng cho mình những dấu ấn nhất định: xuất khẩu gạo hàng thứ
hai trên thế giới, xuất khẩu hồ tiêu luôn đứng ở vị trí đầu bảng,… thành công là
đáng ghi nhận nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế như việc thu
mua nông sản chủ yếu thông qua thương lái là chính, chưa có sự liên kết chặt chẽ
giữa nông dân và nơi chế biến… Mặt khác, một nền nông nghiệp hiện đại không
đơn thuần chỉ là giống mới, công nghệ tiên tiến mà còn phải có hệ thống thương
mại nông thôn phát triển. Với gần 80% dân số nước ta sống ở nông thôn, tiềm năng
của thị trường nông thôn Việt Nam là rất lớn. Nhưng gần như thị trường này hiện
nay các doanh nghiệp vẫn đang còn bỏ ngỏ. Thương mại nông thôn đã và đang trở
thành vấn đề có tính cấp thiết.
Nhận thức được điều này, nhà nước ta đã có những chính sách, những
chương trình hành động cụ thể để phát triển thương mại nông thôn- Những hoạch
định mang tính chiến lược, định hướng cho sự phát triển của nông thôn Việt Nam.
Là những sinh viên chuyên ngành QTKD thương mại, chúng em xin mạnh
dạn tìm hiểu và trình bày đề tài: “chính sách thương mại nông thôn” nhằm
nghiên cứu và đánh giá quá trình thực hiện chính sách trong những năm gần đây,
từ đó đưa ra giải pháp để thực hiên những chính sách này từ giác độ kinh tế
2. Mục đích và nhiệm vu nghiên cứu
Đề tài tập trung tìm hiểu những chính sách về thương mại nông thôn của
nước ta từ năm 2005 đến 2010, cả trên 2 giác độ lí luận và thực tiễn, qua đó đánh
giá những gì đạt được, những điểm còn hạn chế và đưa ra quan điểm tính phù hơp
của chiến lược trên thực tế.
Kinh tế thương mại I Page 2
[N]
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: chính sách thương mại nông thôn Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: những chính sách được nhà nước đưa ra và thực hiện
về thương mại nông thôn Việt Nam trong giai đoạn 2005 đến 2010.
4. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp các số liệu, thu thập thông
tin, kết hợp với thống kê mô tả.
5. Kết cấu bài viết
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục phân công công việc, bài viết gồm 5
phần
I. Mục tiêu của chính sách thương mại nông thôn
II. Chính sách
III. Đánh giá quá trình thực hiện
IV. Sự phù hợp của chính sách với thực tế
V. Giải pháp đưa ra
Mục lục
Kinh tế thương mại I Page 3
•
Mục tiêu của chính sách thương mại nông thôn
•
trang 5
•
Mục tiêu của chính sách thương mại nông thôn
•
trang 5
I
I
•
Chính sách
•
trang 7
•
Chính sách
•
trang 7
II
II
•
Đánh giá quá trình thực hiện
•
trang15
•
Đánh giá quá trình thực hiện
•
trang15
III
III
•
Sự phù hợp của chính sách với thực tế
•
trang 22
•
Sự phù hợp của chính sách với thực tế
•
trang 22
IV
IV
•
Giải pháp đưa ra
•
trang 24
•
Giải pháp đưa ra
•
trang 24
V
V
[N]
I. MỤC TIÊU CỦA CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI
NÔNG NGHIỆP
1. Bối cảnh thực hiện chính sách
Kinh tế thương mại I Page 4
[N]
Chúng ta cần nhìn nhận lại tầm quan trọng của thị trường trong nước nói
chung và thị trường nông thôn nói riêng. Số dân đang sống ở vùng nông thôn
chiếm trên 80% dân số. Hơn nữa nước ta là nước nông nghiệp, thị trường nông
thôn gắn với sản xuất nông nghiệp, làm sao phải tiêu thụ được hàng nông sản do
nông dân, thợ thủ công sản xuất ra. Bên cạnh đó là vấn đề tiêu thụ sản phẩm đồng
thời cung ứng được những vật tư cho sản xuất. Nhất là trong giai đoạn khủng
hoảng hiện nay, xuất khẩu các sản phẩm nông sản như gạo, cà phê, cá tra, cá ba sa,
trái cây… đang gặp nhiều khó khăn thì việc mở rộng thị trường nội địa được coi là
biện pháp quan trọng. Và hiện nay nhu cầu của nông dân để tiêu thụ hàng hóa rất
lớn nhưng do khả năng tài chính, khả năng thanh toán không đều, nhất là miền núi,
vùng sâu vùng xa còn khó khăn nên các mặt hàng công nghiệp tiêu dùng gắn với
sản xuất chưa thực sự đến được với người dân. Bên cạnh đó, chúng ta cũng nhận
thấy tiềm năng của thị trường nông thôn có nhu cầu hàng hóa cao, đa dạng phong
phú nhưng việc quan trọng đưa hàng hóa về nông thôn chưa thật sự phù hợp
2. Mục tiêu chính sách
a) Mục tiêu tổng quát
Chính sách thương mại nông thôn được đưa ra nhằm phát triển nông thôn
ngày càng vững mạnh, theo hướng văn minh, hiện đại với sự tham gia của các
thành phần kinh tế và sự đa dạng của các loại hình tổ chức phân phối, các hoạt
động dịch vụ và phương thức kinh doanh; góp phần định hướng và thúc đẩy sản
xuất nông nghiệp phát triển; đáp ứng đủ, kịp thời nhu cầu sản xuất, tiêu dùng ở địa
bàn nông thôn, trên cơ sở đó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, xóa
đói giảm nghèo, tạo tiền đề để chủ động hội nhập kinh tế – thương mại quốc tế
thành công ở địa bàn nông thôn.
b) Mục tiêu cụ thể
Với đề án “phát triển thương mại nông thôn” mục tiêu cụ thể đặt ra trong
giai đoạn hiện nay:
Kinh tế thương mại I Page 5
[N]
– Tốc độ tăng trung bình hàng năm (chưa loại trừ yếu tố giá) của tổng mức
bán lẻ hàng hóa và dịch vụ ở địa bàn nông thôn giai đoạn 2010 – 2015 khoảng
22%/năm; giai đoạn 2016 – 2020 khoảng 20%.
– Đến hết năm 2010, cơ bản hoàn thành việc rà soát, đánh giá và tổ chức lại
hợp tác xã thương mại ở địa bàn nông thôn.
– Đến năm 2011, hoàn thành quy hoạch phát triển hạ tầng thương mại ở địa
bàn nông thôn; trong đó có quy hoạch chợ biên giới.
– Đến năm 2012, hoàn thành xây dựng, đưa vào sử dụng các chợ đầu mối
bán buôn nông sản tại các vùng sản xuất hàng hóa tập trung theo quy hoạch được
duyệt.
– Đến năm 2015, 50% chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế
cửa khẩu được nâng cấp, cải tạo và xây mới; 100% chợ trung tâm của các huyện
được kiên cố hóa; 30% thị trấn có loại hình tổ chức phân phối quy mô nhỏ và vừa.
– Đến năm 2015, tỷ lệ hàng nông sản được tiêu thụ thông qua hợp đồng
chiếm từ 25 – 30%; đến năm 2020 là 45 – 50%.
– Đến năm 2020, tất cả các xã đều có chợ đạt chuẩn theo tiêu chí nông thôn
mới; hoàn thành việc cải tạo, nâng cấp và xây mới các chợ đầu mối nông sản, chợ
biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu; 80% số thị trấn có hình
thức tổ chức phân phối quy mô nhỏ và vừa. Hình thành 01 sở giao dịch gạo tại Cần
Thơ, 01 sở giao dịch cà phê tại Đắk Lắk và một số trung tâm đấu giá hàng nông
sản.
– Nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước nhất là công tác
quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với hàng hóa lưu thông trên thị
trường.
II. CHÍNH SÁCH
1. Định hướng chính sách
1.1. Phát triển thương mại nông thôn theo mô hình sau
a) Cấu trúc thương mại trên địa bàn xã, bao gồm:
Kinh tế thương mại I Page 6
[N]
– Mạng lưới chợ dân sinh (là loại hình tổ chức thương mại chủ yếu ở địa bàn
xã đến năm 2015 và 2020).
– Mạng lưới kinh doanh của cá nhân, hộ kinh doanh, kể cả hộ nông dân vừa
sản xuất vừa kinh doanh thương mại.
– Mạng lưới kinh doanh của các hợp tác xã thương mại với quy mô nhỏ và
vừa ở các xã, cụm xã với hoạt động chủ yếu là cung ứng các dịch vụ phục vụ sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm của xã viên hợp tác xã, kinh tế hộ, kinh tế trang trại và
sinh hoạt của cư dân nông thôn.
b) Cấu trúc thương mại trên địa bàn thị trấn, thị tứ, bao gồm:
– Mạng lưới kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất – chế biến, lưu thông
hàng hoá và các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thương mại có hệ thống chi nhánh,
cửa hàng, cơ sở sơ chế, phân loại, bao gói, bảo quản và dự trữ nhỏ; các xí nghiệp,
trạm trại sản xuất, hệ thống bến bãi, kho cơ sở và kho trung chuyển đặt tại các thị
trấn, thị tứ.
– Mạng lưới kinh doanh của các hộ kinh doanh có phương thức kinh doanh
cơ bản như hộ kinh doanh trên địa bàn xã nhưng có quy mô lớn hơn, có phương
thức kinh doanh hiện đại (nhượng quyền thương mại, kinh doanh theo chuỗi,
thương mại điện tử) sớm hơn.
– Mạng lưới chợ trung tâm huyện, chợ dân sinh và một số loại hình tổ chức
phân phối như siêu thị, trung tâm thương mại quy mô nhỏ và vừa (chủ yếu là hạng
III), cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng tiện lợi được hình thành từng bước theo
quy hoạch.
c) Phát triển các loại hình tổ chức thương mại đặc thù:
Tại các vùng sản xuất nông sản hàng hoá tập trung hoặc vùng ven đô, tiếp
tục cải tạo, nâng cấp, xây mới một số chợ đầu mối tổng hợp hoặc chuyên doanh
bán buôn nông sản và vật tư nông nghiệp, tạo tiền đề hình thành các trung tâm đấu
giá và sở giao dịch hàng nông sản; đồng thời phát triển chợ trên sông, chợ biên
giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu.
Kinh tế thương mại I Page 7
[N]
1.2.Tổ chức mạng lưới kinh doanh theo ngành hàng
a) Đối với hàng nông sản
– Tại những vùng sản xuất nông sản hàng hoá tập trung, hình thành các kênh
tiêu thụ cấp độ lớn với sự tham gia của các doanh nghiệp nòng cốt (doanh nghiệp
100% vốn nhà nước, doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá); doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thương mại, hộ kinh doanh, hệ
thống đại lý, chợ đầu mối nông sản cấp vùng và cấp tỉnh. Gắn tổ chức kênh này với
việc xây dựng mô hình thí điểm tiêu thụ một số nông sản chủ yếu (thóc gạo, lạc,
rau, quả, thủy sản, muối) thông qua các hợp tác xã với phương thức ký hợp đồng
ngay từ đầu vụ sản xuất.
– Tại những vùng sản xuất nông sản hàng hoá chưa phát triển, phân tán, tạo
lập kênh lưu thông ở cấp độ vừa và nhỏ, phù hợp cung cầu thị trường; với sự tham
gia của doanh nghiệp, hợp tác xã thương mại, hộ kinh doanh Hàng nông sản
được tiêu thụ chủ yếu thông qua mạng lưới chợ, siêu thị, cửa hàng tiện lợi, cửa
hàng chuyên doanh tại các thị trấn, thị tứ; chợ dân sinh và cửa hàng tạp hóa ở địa
bàn xã. Gắn với kênh này là việc xây dựng mô hình thí điểm tiêu thụ một số nông
sản chủ yếu (thóc gạo, lạc, rau, quả xuất khẩu, thủy sản, muối) thông qua các hộ
kinh doanh với hợp đồng kinh tế được ký vào thời điểm thu hoạch.
– Tại các vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, xây dựng mối liên kết
kinh tế bền vững giữa hộ nông dân, hợp tác xã thương mại với cơ sở sản xuất – chế
biến, giữa cơ sở sản xuất – chế biến với doanh nghiệp thương mại; xây dựng cơ chế
để các hộ sản xuất và xã viên hợp tác xã được mua cổ phần trong các công ty cổ
phần hoặc doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá.
b) Đối với vật tư nông nghiệp
Phát triển mạng lưới kinh doanh theo hướng củng cố, hoàn thiện mạng lưới
chợ tư liệu sản xuất, hệ thống phân phối, hệ thống đại lý, cơ sở kinh doanh của các
chủ thể sản xuất kinh doanh. Triển khai xây dựng mô hình thí điểm cung ứng vật
tư phục vụ sản xuất nông nghiệp (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật) theo hướng gắn
với các mô hình thí điểm tiêu thụ nông sản.
c) Đối với hàng công nghiệp tiêu dùng
Kinh tế thương mại I Page 8
[N]
– Căn cứ nhu cầu, thị hiếu và mức thu nhập của cư dân nông thôn, thiết lập
mạng lưới kinh doanh tiêu dùng với quy mô và phương thức hoạt động phù hợp
từng địa bàn; phát triển các chợ kinh doanh tổng hợp, hệ thống đại lý, cửa hàng
thương nghiệp tại các trung tâm cụm xã, cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp, hợp
tác xã thương mại và hộ kinh doanh.
– Từng bước phát triển chuỗi cửa hàng tiện lợi, siêu thị, trung tâm thương
mại trong quá trình cải tạo mạng lưới chợ truyền thống ở nông thôn, trước hết là tại
các chợ ở thị trấn, thị tứ.
1.3.Phát triển chợ đến địa bàn nông thôn
a) Đối với nông thôn đồng bằng
– Di dời, cải tạo, nâng cấp và xây mới các chợ dân sinh có quy mô chợ hạng
III ở địa bàn xã.
– Nâng cấp, cải tạo, mở rộng hoặc xây mới các chợ tổng hợp bán buôn, bán
lẻ có quy mô chợ hạng II hoặc hạng I tại các trung tâm kinh tế huyện.
– Tập trung xây dựng chợ đầu mối bán buôn nông sản quy mô lớn tại các
vùng sản xuất hàng hoá tập trung của vùng và tỉnh.
b) Đối với nông thôn trung du, miền núi
Ngoài định hướng phát triển chợ đầu mối nông sản tại các vùng sản xuất tập
trung, chợ dân sinh địa bàn xã và trung tâm huyện, chú trọng nâng cấp, cải tạo và
xây mới chợ biên giới có quy mô hạng III, chợ cửa khẩu, chợ nằm trong khu kinh
tế cửa khẩu có quy mô hạng II và hạng I.
1.4.Quản lý chợ trên địa bàn nông thôn
Phát triển doanh nghiệp hoặc hợp tác xã kinh doanh, quản lý chợ theo các
mô hình sau:
Mô hình doanh nghiệp hoặc hợp tác xã chuyên kinh doanh,
quản lý chợ hoặc hoạt động đa lĩnh vực, trong đó có chợ, thông qua đấu thầu
hoặc được giao quyền sử dụng, khai thác và quản lý chợ (đối với các chợ do
Nhà nước đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư).
Kinh tế thương mại I Page 9
[N]
Mô hình doanh nghiệp, hợp tác xã chuyên kinh doanh, quản lý
chợ hoặc hoạt động đa lĩnh vực, trong đó có chợ, tự bỏ vốn đầu tư chợ và tổ
chức kinh doanh, khai thác, quản lý.
Tuỳ theo điều kiện cụ thể, một doanh nghiệp hoặc hợp tác xã kinh doanh,
quản lý chợ có thể quản lý một hoặc một số chợ.
2. Chính sách
Chính sách thương mại đối với nông thôn là một bộ phận của chính sách
nông nghiệp, nông thôn, nông dân của Đảng và nhà nước ta. Chính sách thương
mại nông thôn có thể kể đến một số chính sách cơ bản như sau:
a) Chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng mạng lưới chợ, trung tâm
thương mại :
Gần 80% dân số nước ta sống ở nông thôn, làm sao để có thể cung ứng đủ
hàng hóa thiết yêu cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất cho người dân đồng thời bao
tiêu được sản phẩm nông nghiệp và nông thôn sản xuất ra, đó là vấn đề không dễ.
Đầu tư phát triển mạng lưới chợ, trung tâm thương mại hứa hẹn đáp ứng điều đó,
khai thác tốt hơn thị trường nông thôn trước nay bị các doanh nghiệp trong nước
bỏ ngỏ. Có thể kể đến:
Quyết định 311/2003QD-TTg thủ tướng chính phủ kí ngày 20/3/2003 Điều
1 mục I, ý d.
“d. Củng cố, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất – kỹ thuật
phục vụ thương mại theo hướng: tổ chức, khai thác có hiệu quả các mạng lưới
chợ; đẩy mạnh và phát triển các chợ đầu mối, chợ chuyên, sàn giao dịch hàng
hoá, kho dự trữ bảo quản hàng hoá nông sản để các cơ sở này trở thành nơi giao
dịch, tiêu thụ sản phẩm, cung cấp vật tư, hàng hoá cho nhu cầu sản xuất và đời
sống đáng tin cậy nhất; phát triển các siêu thị, trung tâm thương mại, các hình
thức tổ chức thương mại điện tử, trước hết là ở thành phố, thị xã và các vùng kinh
tế tập trung; xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống thông tin
thị trường và xúc tiến thương mại trong nước.” (trích nguyên văn quyết định)
Quyết định 23/QĐ-TTg ngày 6/1/2010, Thủ tướng Chính phủ ký phê duyệt
Đề án Phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2010-2015 và định hướng đến
năm 2020. Đề án đề cập đến rất nhiều vấn đề tổng quát, nhằm xây dựng quy trình
Kinh tế thương mại I Page 10
[N]
phát triển đồng bộ, bền vững cho thương mại nông thôn. Trong đó, nhấn mạnh việc
hình thành mạng lưới chợ…
Quyết định 23/QĐ- TTg chỉ rõ phương hướng thực hiện cho các hoạt động
cụ thể như (Nguyên văn được trích trong nghị định):
Điều 1,mục III đã đưa ra nhưng chính sách chủ yếu như sau:
“III. Giải pháp và chính sách chủ yếu
1. Quy hoạch phát triển hạ tầng thương mại
Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng mới
hoặc điều chỉnh quy hoạch phát triển hạ tầng thương mại trên địa bàn nông thôn,
trong đó trọng tâm là quy hoạch phát triển mạng lưới chợ, phù hợp với quy hoạch
tổng thể phát triển thương mại.
2. Chính sách đầu tư
a) Các dự án đầu tư hạ tầng thương mại trên địa bàn nông thôn được hưởng
chính sách ưu đãi đầu tư quy định tại Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 29
tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật Đầu tư; được vay tín dụng đầu tư nhà nước theo quy định tại Nghị
định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về tín dụng
đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước và Nghị định số 106/2008/NĐ-CP
ngày 19 tháng 9 năm 2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị
định số 151/2006/NĐ-CP.
b) Sửa đổi, bổ sung chính sách hỗ trợ vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đối
với một số loại hình hạ tầng thương mại chủ yếu ở địa bàn nông thôn có điều kiện
kinh tế – xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.
3. Thực hiện thí điểm bảo hiểm sản xuất nông nghiệp ở một số khu vực cho
một số loại sản phẩm nông thủy sản.
4. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý thị trường.
Thường xuyên kiểm tra tình hình thực hiện quy định của pháp luật về bảo
đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh, niêm
yết giá và bán đúng giá niêm yết của các cơ sở kinh doanh, nhất là tại các chợ; xử
lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật hiện hành.”(trích
dẫn nguyên văn)
Kinh tế thương mại I Page 11
[N]
b) Chính sách phát triển phương thức giao thương theo hướng hiện đại:
Một trong những yếu tố giúp hệ thống thương mại nông thôn phát triển ổn
định, hiện đại là thay đổi phương thức giao thương. Nếu có những hợp đồng bao
tiêu sản phẩm nông dân sẽ bớt lo lắng trước những biến động của thị trường. Để
làm được điều này chính phủ đã có những chính sách khuyến khích các doanh
nghiệp:
Theo quyết đinh 80/25002/QĐ- TTg ngày 24/6/2002 Thủ tướng chính phủ
đã kí có quy định:
“Điều 1. Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hóa (bao gồm nông sản, lâm sản,
thủy sản) và muối với người sản xuất (hợp tác xã, hộ nông dân, trang trại, đại diện
hộ nông dân) nhằm gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản hàng hóa để
phát triển sản xuất ổn định và bền vững.
Hợp đồng sau khi đã ký kết là cơ sở pháp lý để gắn trách nhiệm và nghĩa vụ
của các bên, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp giữa người sản xuất nguyên liệu và
các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, chế biến và xuất khẩu theo các quy định
của hợp đồng.”
c) Chính sách khuyến khích hoạt động của các tổ chức thương mại:
Các doanh nghiệp thương mại là yếu tố không thể thiếu trong mọi nền kinh
tế. Phát triển các tổ chức, các doanh nghiệp thương mại là xây dựng yếu tố cấu
thành trên thị trường. Ý thức được điều này nhà nước luôn khuyến khích sự ra đời,
hoạt động của các loại hình doanh nghiệp thương mại (hợp với quy định đã đặt ra
trong luật doanh nghiệp trên thị trường ) đặc biệt là ở nông thôn, cũng như có
nhưng định hướng cụ thể góp phần tạo phương hướng hoạt động giúp các doanh
nghiệp này kinh doanh hiệu quả hơn.
Quyết định 23/QĐ-TTg ngày 6/1/2010, Thủ tướng Chính phủ ký phê duyệt
Đề án Phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2010-2015 và định hướng đến
năm 2020 có nêu:
Kinh tế thương mại I Page 12
[N]
“5. Định hướng tổ chức, hoạt động các loại hình thương nhân chủ yếu
a) Đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thương mại
– Rà soát, đánh giá, phân loại và tổ chức lại các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã
thương mại hiện có trên địa bàn nông thôn.
– Phát triển hợp tác xã thương mại theo một số mô hình sau:
+ ở khu vực nông thôn đồng bằng: phát triển hợp tác xã đa chức năng hoặc hợp
tác xã dịch vụ tổng hợp; chú trọng mô hình hợp tác xã nông nghiệp – thương mại –
dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp;
+ ở khu vực nông thôn trung du, miền núi: phát triển hợp tác xã đa chức năng,
hợp tác xã kinh doanh thương mại tổng hợp với các hình thức bán lẻ linh hoạt;
phát triển tổ hợp tác mua chung – bán chung, mua chung – bán riêng hoặc các tổ
dịch vụ để hỗ trợ nhau trong sản xuất, kinh doanh và phục vụ đời sống ở những
nơi chưa có điều kiện thành lập hợp tác xã;
+ Phát triển hợp tác xã chợ ở cả địa bàn nông thôn đồng bằng và nông thôn trung
du, miền núi; trong đó chú trọng phát triển hợp tác xã mà xã viên chủ yếu là các
hộ kinh doanh trong chợ.
– Phát triển các liên hiệp hợp tác xã thương mại theo hướng củng cố các đơn vị
hiện có; thành lập mới liên hiệp hợp tác xã thương mại với phương thức kinh
doanh kết hợp truyền thống với hiện đại tại các tỉnh có kinh tế hộ, kinh tế trang
trại phát triển.
b) Đối với thương mại tư nhân
– Khuyến khích phát triển các loại hình thương mại tư nhân theo quy định của
Luật Doanh nghiệp.
– Khuyến khích các hộ kinh doanh phát triển theo hướng:
+ Tham gia vào hệ thống kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế, liên hiệp hợp tác xã và hợp tác xã thương mại thông qua các hình thức đại
lý mua, bán, hợp đồng mua bán; tham gia vào các chuỗi phân phối bằng liên kết,
liên doanh, nhượng quyền thương mại;
+ Tự phát triển hoặc liên kết, hợp nhất thành công ty hoặc hợp tác xã bán lẻ; từng
bước ứng dụng mô hình chuỗi phân phối bán lẻ và phương thức nhượng quyền
thương mại, trước hết tại địa bàn thị trấn, thị tứ;
Kinh tế thương mại I Page 13
[N]
+ Các hộ kinh doanh trong chợ tham gia các hợp tác xã chợ, vừa là xã viên của
hợp tác xã chợ, vừa là đối tượng sử dụng các loại hình dịch vụ do hợp tác xã chợ
tổ chức.” (trích dẫn)
Kinh tế thương mại I Page 14
[N]
III. ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN
1. Mạng lưới chợ nơi thừa nơi thiếu
Ngày 6/1/2010, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 23/QĐ-TTg phê duyệt
Đề án Phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2010-2015 và định hướng đến
năm 2020. Đề án đề cập đến rất nhiều vấn đề tổng quát, nhằm xây dựng quy trình
phát triển đồng bộ, bền vững cho thương mại nông thôn. Trong đó, nhấn mạnh việc
hình thành mạng lưới chợ…
Thị trường nông thôn có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế – xã
hội. Đây là nơi sản xuất lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng trong nước, xuất
khẩu và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Tuy nhiên, thị trường
nông thôn và nền sản xuất nông nghiệp vẫn manh mún, chưa gắn chặt với sản xuất
khiến việc tiêu thụ nông sản gặp nhiều khó khăn. Hàng hóa yếu thế cạnh tranh,
nhiều mặt hàng có chất lượng thấp. Trong khi đó, vai trò của thương nhân ở địa
bàn nông thôn mới chủ yếu phát huy được ở khâu tiêu thụ nông sản và mở đầu
kênh phân phối; vai trò thương mại Nhà nước và hợp tác xã khá mờ nhạt; các cơ sở
kinh doanh vừa thiếu vừa nghèo nàn, lạc hậu. Nạn kinh doanh hàng giả, hàng kém
chất lượng và hành vi gian lận thương mại còn phổ biến; việc chấp hành pháp luật
về đăng ký kinh doanh, thuế, sổ sách kế toán thống kê, báo cáo tài chính, nhãn mác
hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường còn lỏng lẻo và tùy tiện.
Theo Bộ Công Thương, hiện có đến 45% hàng hoá được lưu chuyển qua chợ
dân sinh. Hiện nay, tại nhiều địa phương vẫn thiếu chợ. Điển hình như các tỉnh
phía Bắc, Tây Nguyên, bình quân 10km2 chỉ có 0,1-0, 2 chợ. Cả nước còn hơn
3.000 xã thiếu chợ hoặc chỉ có chợ quy mô nhỏ; 43% chợ tạm. Trong khi đó, nhiều
chợ đầu mối xây dựng hoành tráng, kinh phí hàng tỷ đồng lại không phát huy hiệu
quả.
Kinh tế thương mại I Page 15
[N]
2. Phát triển mạng lưới chợ vấp phải vấn đề thiếu vốn, xây dựng và phát
triển chợ còn thiếu đồng bộ
Đề án phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2010 – 2015, định hướng
đến năm 2020 đã nêu rõ tầm quan trọng của hệ thống các chợ đầu mối, siêu thị,
cửa hàng tiện ích… Tuy nhiên, để xây dựng hệ thống chợ, trung tâm thương mại
hợp quy hoạch, mang lại hiệu quả cao, rất cần những giải pháp đồng bộ, sự góp sức
của cả cộng đồng.
Có thể khẳng định, thiếu vốn là khó khăn đầu tiên mà bất kỳ địa phương nào
cũng gặp phải khi bắt tay vào xây dựng và thực hiện quy hoạch, phát triển hệ thống
chợ. Bởi với số tiền hỗ trợ 500 triệu đồng từ Trung ương, địa phương khó có thể
hoàn thiện hệ thống chợ, siêu thị, cửa hàng tiện ích… Vẫn biết công tác này cần sự
vào cuộc của cả cộng đồng thông qua chương trình xã hội hóa việc xây chợ, nhưng
chính bản thân người dân cũng chưa thực sự hiểu rõ thì làm sao có thể kêu gọi họ
đóng góp, tham gia?
Trong thời gian qua, lãnh đạo các địa phương cũng đã nhận ra tầm quan
trọng và sự cần thiết của việc xây chợ nên có sự đầu tư mạnh mẽ cho việc hình
thành mạng lưới chợ. Tuy nhiên, do nguồn kinh phí hạn chế, nhiều địa phương chỉ
có thể cải tạo, nâng cấp, sửa chữa chứ không thể đầu tư xây mới. Trong khi đó
phong trào xã hội hóa đầu tư phát triển chợ vẫn chưa đạt được kết quả cao. Lý do
lớn nhất là nguồn vốn để xây dựng chợ rất lớn, trong khi khả năng hoàn vốn thấp
và kéo dài. Từ đó dẫn đến thực tế các nhà đầu tư chỉ tập trung đầu tư xây dựng chợ
tại các nơi có khả năng sinh lời nhanh, ngoảnh mặt với việc xây dựng chợ nông
thôn hoặc ở vùng sâu, vùng xa.
Chưa kể việc xây dựng, phát triển chợ còn thiếu đồng bộ. Một số chợ đã xây
dựng xong nhưng chưa có đường giao thông. Không ít chợ được xây dựng ở địa
điểm không hợp lý, khó thu hút được tiểu thương tham gia, dẫn đến lãng phí tiền
của của Nhà nước.
Kinh tế thương mại I Page 16
[N]
3. Các chợ hoạt động kém hiệu quả do người dân có thu nhập thấp không
có nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm chất lượng cao. Các sản phẩm nông sản
là các mặt hàng chủ yếu
Một thực tế nữa là, một số chợ tại các xã vùng sâu hiện nay vẫn chưa thể
hoạt động hiệu quả vì có rất ít người mua và xuất hiện tình trạng người dân không
muốn vào chợ xây mới mà chỉ thích mua bán ở các chợ “xổm”.
Ở địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, các sản phẩm nông sản chủ yếu được
cung ứng theo hai loại hình. Người sản xuất (chủ yếu là nông hộ nhỏ lẻ) bán cho
các đầu mối thu gom, các đầu mối mang đi tiêu thụ tại chợ trung tâm huyện, tỉnh
hoặc bán cho các nhà máy chế biến. Trường hợp thứ hai là người sản xuất bán cho
các đầu mối thu gom, đại lý. Các đại lý bán (chủ yếu là gạo và các loại đặc sản của
địa phương) trực tiếp cho người tiêu dùng. Cũng có người tự mang nông sản đến
bán tại chợ (các loại rau quả)… Chính vì vậy, nhiều người chưa thấy hết được vai
trò, lợi ích của chợ trong hoạt động giao thương.
Bên cạnh đó, do thu nhập của người dân nông thôn còn thấp nên nhu cầu
tiêu dùng các sản phẩm hàng hóa chất lượng cao khá hạn chế. Thành phần tham gia
tại các chợ nông thôn là các hộ nông nghiệp với các mặt hàng kinh doanh chủ yếu
là nông sản, thực phẩm tươi sống tự sản xuất và nuôi trồng. Các hộ tự trao đổi hàng
hoá với nhau hoặc cung ứng cho thương lái. Các hộ tiểu thương kinh doanh hàng
hoá và dịch vụ tại chợ chiếm số lượng ít, chủ yếu là vải sợi, quần áo may sẵn, bách
hoá tổng hợp, dịch vụ ăn uống giải khát. Chính vì vậy, hoạt động thương mại ở
nông thôn chưa phát triển, chưa kích thích sản xuất và hình thành nền nông nghiệp
hàng hóa.
4. Mục tiêu đưa ra nhưng chỉ để ngắm
Một trong những yếu tố giúp hệ thống thương mại nông thôn phát triển ổn
định, hiện đại là thay đổi phương thức giao thương. Theo Quyết định 80/2002 của
Thủ tướng Chính phủ, phấn đấu đến năm 2015, tỷ lệ hàng nông sản được tiêu thụ
thông qua hợp đồng sẽ chiếm từ 25-30% và đến năm 2020 là 45-50%. Tuy nhiên,
Kinh tế thương mại I Page 17
[N]
trước thực tế mua bán nông sản hiện nay, mục tiêu trên dù khiêm tốn nhưng cũng
không dễ thực hiện.
Ai cũng hiểu, tiêu thụ hết nông sản qua hợp đồng sẽ tạo điều kiện để sản
xuất nông nghiệp gắn với chế biến, tiêu thụ, thu hút nhiều doanh nghiệp (DN) và
nông dân tham gia, qua đó góp phần hình thành các vùng sản xuất nông sản hàng
hoá tập trung, vùng sản xuất hàng nông sản chất lượng cao theo hướng bền vững.
Tuy nhiên, trong thực tế, tỷ lệ hàng hóa được tiêu thụ qua hợp đồng còn thấp.
Quyết định 80 đề ra mục tiêu: mở rộng phương thức ký hợp đồng tiêu thụ
nông sản hàng hoá để đến năm 2005 ít nhất 30%, đến năm 2010 có trên 50% sản
lượng nông sản hàng hoá của một số ngành sản xuất hàng hoá lớn được tiêu thụ
thông qua hợp đồng. Thế nhưng, năm 2005, mục tiêu đạt 30% số lượng nông sản
hàng hoá được tiêu thụ thông qua hợp đồng chỉ thành công đối với một số nông
sản như mía, bông, sữa. Các mặt hàng chủ lực khác là cà phê, lúa, thủy sản không
đạt được mục tiêu đề ra. Năm 2010 đã đến, mục tiêu 50% sản lượng nông sản được
tiêu thụ thông qua hợp đồng là nhiệm vụ khó khả thi. Đơn cử như mặt hàng lúa,
thống kê của Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và
PTNT), lúa hàng hoá tiêu thụ thông qua hợp đồng chỉ chiếm khoảng 6 – 9% sản
lượng. Trong khi đó Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế
giới. Một số mặt hàng chủ lực khác như thuỷ sản tiêu thụ qua hợp đồng chỉ đạt
dưới 10% sản lượng, cà phê ở mức 2 – 5 % diện tích.
5. Liên kết 4 nhà chưa đạt được hiệu quả và mong muốn đã đề ra, không
“nhà” nào có trách nhiệm với vai trò của mình. Đặc biệt vẫn còn thiếu
tiếng còi trọng tài của nhà nước
Ngay từ năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
80/2002/QĐ-TTg về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông
qua hợp đồng – xây dựng mối liên kết “4 nhà”: Nhà nước, nhà khoa học, doanh
nghiệp và nhà nông. Trong đó, Nhà nước khuyến khích các DN ký kết hợp đồng
tiêu thụ nông sản hàng hoá với nông dân nhằm gắn sản xuất với chế biến và tiêu
thụ nông sản, ổn định sản xuất và phát triển bền vững. Thế nhưng, hơn 8 năm qua,
vẫn chưa thể thiết lập mối liên kết giữa “4 nhà”.
Kinh tế thương mại I Page 18
[N]
Trong mối liên kết “4 nhà” thì DN và nhà nông đóng vai trò quan trọng nhất.
DN sẽ là trung tâm của chuỗi tiêu thụ này bởi họ là người chủ động ký kết hợp
đồng, hướng dẫn, giúp đỡ nông dân áp dụng tiến bộ kỹ thuật, hỗ trợ vay vốn và vật
tư nông nghiệp, thực hiện bao tiêu sản phẩm với giá thoả thuận, bảo đảm lợi ích
của cả hai bên. Tuy nhiên, hầu hết các DN đều thụ động trong công tác này. Theo
Phó cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông nghiệp Lê Quý Đăng, các
DN có một số hạn chế về năng lực sản xuất, mạng lưới thu gom nông sản còn
thiếu, chưa thực sự làm tốt vai trò trung tâm trong mối liên kết. Bên cạnh đó, còn
có hiện tượng một số DN lạm dụng độc quyền ép giá, ít quan tâm đầu tư cho vùng
nguyên liệu.
Nhà nông trực tiếp làm ra sản phẩm, tuy nhiên họ tham gia mối liên kết một
cách thụ động. Nội dung hợp đồng thường do DN đưa ra, thiếu sự bàn bạc, thương
thảo với nông dân, nên lợi ích của người sản xuất chưa thoả đáng. Khó khăn khi
tham gia liên kết “4 nhà” của nhà nông còn do trình độ sản xuất, tập quán sản xuất
lạc hậu, chưa theo kịp yêu cầu sản xuất hàng hóa; tiềm lực sản xuất, kinh tế của
nông dân còn thấp, thiếu thông tin thị trường, các kiến thức về pháp luật. Và trên
thực tế cũng đã xuất hiện hiện tượng nông dân chưa tôn trọng đúng các cam kết
trong hợp đồng đã ký với DN. Nhiều DN dù thiếu nguyên liệu nhưng vẫn không
thể mua sản phẩm của nông dân do không đạt tiêu chuẩn yêu cầu, hoặc nông dân
bán sản phẩm cho đối tượng khác do giá cao hơn hợp đồng đã ký kết.
Nhà nước tham gia mối liên kết với vai trò hỗ trợ, điều phối thông qua các
chính sách khuyến khích và đầu tư xây dựng hạ tầng, quy hoạch vùng nguyên liệu,
chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, xúc tiến thương mại, đồng thời là người kiểm tra,
giám sát và bảo đảm tính pháp lý cho việc thực hiện hợp đồng giữa các bên. Do đó
có thể nói rằng, Nhà nước đóng vai trò trọng tài trong quá trình liên kết “4 nhà”.
6. Chất lượng hàng hóa tại nông thôn
Có thể khẳng định, Đề án phát triển hệ thống thương mại nông thôn giai
đoạn 2010-2015 và tầm nhìn đến năm 2020 có cái nhìn khá toàn diện khi đề cập
đến hầu hết các khía cạnh, từ hệ thống hạ tầng đến cách mua bán thông qua hợp
đồng…
Kinh tế thương mại I Page 19
[N]
Tuy nhiên, điều quan trọng nhất để thu hút người dân đến chợ, đồng thời
cũng là yếu tố giúp chợ hoạt động bền vững lại chưa được chú trọng trong Đề án
này, đó là chất lượng hàng hóa.
Nông thôn, thị trường của hàng kém chất lượng!
Bị “truy nã” gắt gao ở các thành phố lớn, hàng giả, hàng kém chất lượng tìm
cách “dạt” về nông thôn
Lợi dụng sự thiếu thông tin về sản phẩm của bà con, nhiều tư thương đã bất
chấp thủ đoạn, tìm mọi cách để đưa hàng giả, hàng kém chất lượng về nông thôn.
Từ những mặt hàng có giá trị thấp như bánh kẹo, nước giải khát, may mặc đến
hàng có giá trị cao như đồ gia dụng, phụ tùng xe máy giả, nhái bày bán ở các chợ
huyện, chợ xã. Đặc biệt, những sản phẩmphục vụ sản xuất như thức ăn chăn nuôi,
phân bón, thuốc trừ sâu… có thể tìm thấy hàng giả, hàng kém chất lượng khá
nhiều, gây thiệt hại lớn cho người tiêu dùng.
Hiện tượng gian lận thương mại hàng hóa, không ghi tem nhãn, hàng giả,
hàng nhái, hàng không bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm… xảy ra phổ biến ở
hầu hết địa bàn các huyện với những gian hàng quy mô nhỏ lẻ. Nguy hại hơn là
trường hợp người bán còn đảo nhãn mác, biến hàng giá rẻ thành hàng cao cấp rồi
ngang nhiên bày bán trên sạp hàng, khiến người mua không phân biệt được đâu là
hàng chính hiệu, đâu là hàng kém chất lượng. Những mặt hàng này chủ yếu có
xuất xứ từ Trung Quốc (giá rẻ hoặc hàng đã hết hạn sử dụng).
Thị trường nông thôn tiêu thụ một lượng lớn hàng hóa nhưng đang tồn tại
nghịch lý: Hàng tốt nhất, của ngon vật lạ đều dành cho xuất khẩu hoặc thị trường
thành thị; còn hàng lỗi, hàng xấu thì đưa về nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng
xa. Tâm lý của người tiêu dùng thành thị và nông thôn có sự khác biệt lớn. Người
dân nông thôn chỉ quan tâm đến sản phẩm đó có phù hợp với túi tiền của mình hay
không!? Bởi vậy, giá rẻ là tiêu chí hàng đầu, sau mới là chất lượng. Chính điều này
đã dẫn đến tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng mặc sức tung hoành.
Người tiêu dùng nông thôn luôn là người thiệt thòi nhất. Họ không được
quyền định đoạt giá cả, không được quyền bàn thảo hợp đồng và là người gánh
chịu tất cả mọi rủi ro nếu gặp hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không đảm bảo
Kinh tế thương mại I Page 20
[N]
an toàn vệ sinh thực phẩm. Thực tế người dân nông thôn hiện đang phải mua hàng
giá cao chứ không phải mua hàng giá rẻ. Nông dân đang tiêu thụ phần lớn là hàng
giả, hàng kém chất lượng. Nhưng vì không có thông tin nên đã bị lừa khi mua
hàng, do đó họ là người phải “gánh đòn” bởi sự thiếu kiểm soát chất lượng trên thị
trường
7. Nông thôn với cuộc vận động Người việt dùng hàng Việt
Trên thực tế, không phải doanh nghiệp nào cũng coi thị trường nông thôn là
nơi thải hàng kém chất lượng, bằng chứng là thông qua cuộc vận động “ Người
Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” không ít doanh nghiệp đã tìm thấy thị
trường tiềm năng của mình, đó chính là những vùng nông thôn, nơi vốn bị coi là
không thể kích thích được tiêu dùng.
Nhưng điều quan trọng qua các đợt bán hàng này không nằm ở doanh số mà
ở việc định hướng, giúp người tiêu dùng nông thôn nhận diện hàng Việt. Lâu nay
thị trường nông thôn vẫn bị doanh nghiệp bỏ ngỏ, nông dân chịu thiệt đơn thiệt kép
khi phải dùng hàng hóa giá cao, chất lượng không ổn định, thông tin sản phẩm
không rõ ràng. Qua những phiên chợ đưa hàng Việt về nông thôn thấy sức mua và
nhu cầu của người dân nông thôn là rất lớn, nhiều tiềm năng; người tiêu dùng nông
thôn rất “khát” hàng sản xuất trong nước có chất lượng, giá cả phù hợp, nhưng
chưa có nhiều sự lựa chọn vì ít hàng hóa cung ứng. Do đó, hoạt động đưa hàng
Việt về nông thôn phải được tổ chức thường xuyên hơn mới mang lại hiệu quả đối
với cả người tiêu dùng và doanh nghiệp.
Kinh tế thương mại I Page 21
[N]
IV. SỰ PHÙ HỢP CỦA CHÍNH SÁCH VỚI THỰC TẾ
Với 80% dân số ở nông thôn, tình hình thương mại ở nông thôn phát triển
manh mún, tự phát, không theo quy hoạch đã kiềm chế sự phát triển của nông thôn
nói chung và thương mại nông thôn nói riêng. Để khắc phục tình trạng đó Đảng và
nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm phát triển thương mại nông thôn theo đúng
hướng và ổn định. Những chính sách mà chính phủ đề ra rất phù hợp với tình hình
nông thôn hiện nay. Biểu hiện:
Để thúc đẩy phát triển thương mại nhà nước đề ra chính sách khuyến khích
phát triển loại hình hợp tác xã thương mại, kết hợp giữa phương thức kinh
doanh truyền thống và hiện đại, phát triển kinh tế trang trại.
Khuyến khích thương mại tư nhân ….
Để phát triển thương mại nông thôn bền vững nhà nước cũng đề ra những
chính sách phù hợp như: thay đổi phương thức giao thương. Đưa hợp đồng
vào trong quá trình sản xuất bao tiêu, xây dựng hệ thống chợ, trung tâm
thương mại………….
Chính sách của nhà nước là hoàn toàn phù hợp tuy nhiên còn chung chung.
Thị trường là luôn biến động, không ai có thể lường hết được những thay đổi
đó. Những tác động từ bên trong và bên ngoài đã tác động trực tiếp và gián
tiếp khiến chính sách còn nhiều điểm thiếu sự phù hợp và luôn đứng trước
bờ vực của sự lỗi thời.
Do mỗi địa phương lại có những đặc điểm riêng biệt mà chỉ riêng địa
phương đó mới có đã làm cho chính sách không thể đáp ứng phù hợp với tất
cả các địa phương. Làm hình thành nhiều lỗ hổng pháp luật mà nhiều gian
thương đã lợi dụng để trục lợi cá nhân.
Chính sách là phù hợp nhưng khi đưa vào thực hiện đã bị nhiều người biến
tướng nhằm thu lợi cá nhân.
Nông thôn rộng lớn làm cho quá trình quản lý giám sát sự thực hiện chính
sách gặp nhiều khó khăn, cán bộ ở nông thôn nói chung trình độ thấp, thói
quen làm việc quan liêu thiếu nhanh nhậy, tiến bộ…đã làm cho chính sách
chưa tới được với bà con. Khiến tình hình hàng giả,hàng nhái còn diễn ra
tràn lan,thiếu kiểm soát….
Tuy còn tồn tại những hạn chế trên nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận
Kinh tế thương mại I Page 22
[N]
những thành công mà chính sách đem lại. biểu hiện rõ ràng ở phần thực hiện chính
sách.
Sự khởi sắc trong thương mại nông thôn đã cho thấy sự đúng đắn của chính
sách thương mại nông thôn, tuy còn bộc lộ một vài khuyết điểm. Điều này cho thấy
nhà nước cần quan tâm hơn nữa về vấn đề này, cần có những sửa đổi bổ sung kịp
thời để ngăn chặn những sai lệch trong thương mại nông thôn. Giúp thương mại
nông thôn phát triển nhanh và bền vững hơn.
Kinh tế thương mại I Page 23
[N]
V. GIẢI PHÁP ĐƯA RA
Với mong muốn chính sách thương mại nông thôn phát huy được hết tác
dụng mà Đảng và Nhà nước mong muốn, chúng tôi xin đề cập một số giải pháp
nhằm đưa chính sách vào sát thực tế hơn.
Các giải pháp chúng tôi đưa ra dựa trên những thiếu sót của bản thân chính
sách, những trở ngại đến từ môi trường thực tế và những rủi ro từ nhiều phía từ đó
đưa ra những ý kiến khắc phục.
Một nền nông nghiệp hiện đại không đơn thuần chỉ là giống mới, công nghệ
tiên tiến mà còn phải có hệ thống thương mại nông thôn phát triển. Nhưng trên
thực tế, ngay cả ở những địa phương có nền nông nghiệp hàng hóa phát triển
nhưng mạng lưới chợ cũng rất thiếu hoặc quy hoạch không hợp lý.
Giải pháp đầu tiên của chúng tôi kỳ vọng sẽ giải tỏa được những hạn chế,
khúc mắc này.
Giải pháp đầu tiên: Ưu tiên phát triển mạng lưới chợ
Với định hướng của nhà nước và tình hình thương mại nông thôn đã được
nêu ở trên, thì giải pháp này sẽ giải quyết vấn đề như thế nào? Sau đây là chi tiết
giải pháp.
Theo Bộ Công Thương, hiện có đến 45% hàng hoá được lưu chuyển qua
chợ dân sinh. Ông Nguyễn Xuân Chiến, Phó vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước
(Bộ Công Thương) cho biết, mục tiêu phát triển thương mại nông thôn nhằm kích
thích tiêu dùng và tăng nhanh sức tiêu thụ hàng hoá trong nước. Do vậy, việc đầu
tiên là rà soát, đánh giá và tổ chức lại hợp tác xã thương mại ở địa bàn nông
thôn.
Quy hoạch phát triển hạ tầng thương mại ở địa bàn nông thôn, trong đó
có quy hoạch chợ biên giới, phải được hoàn thành. Đến năm 2015, 50% chợ
biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu được nâng cấp, cải tạo và
xây mới. Từ nay đến năm 2020, sẽ cải tạo, nâng cấp 142 chợ và xây mới 276 chợ
biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu với tổng vốn đầu tư 1.534
tỷ đồng.
Năm 2012, các chợ đầu mối nông sản sẽ được xây dựng xong tại các vùng
sản xuất hàng hoá tập trung như chợ lúa gạo ở Cần Thơ, chợ nông sản Nghệ An,
Kinh tế thương mại I Page 24
[N]
Hải Dương, chợ rau quả chất lượng cao ở Lâm Đồng… Đây là cơ sở để hình thành
các trung tâm đấu giá và sở giao dịch hàng nông sản. Đến năm 2020, với tổng số
vốn đầu tư dự kiến là 6.040 tỷ đồng, các địa phương sẽ tiến hành cải tạo, nâng cấp
31 chợ và xây mới 82 chợ đầu mối nông sản ở địa bàn nông thôn. Ngoài ra, sẽ xây
dựng 3.000 chợ tại 3.000 xã chưa có chợ từ nay đến năm 2020 với tổng vốn đầu tư
1.500 tỷ đồng (Số liệu của Bộ Công Thương).
Nếu mọi việc tốt đẹp, đến năm 2015, chúng ta sẽ có toàn bộ chợ trung tâm
huyện được kiên cố hóa, 30% thị trấn có loại hình tổ chức phân phối quy mô nhỏ
và vừa; tỷ lệ hàng nông sản được tiêu thụ thông qua hợp đồng chiếm 25 – 30%,
đến năm 2020 là 45 – 50% (Số liệu của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn).
Với mục đích này, lần đầu tiên, doanh nghiệp (DN) khi mở rộng mạng
lưới kinh doanh ở nông thôn có thể được hưởng hàng loạt chính sách ưu đãi
lớn về thuế, tín dụng.
Giải pháp thứ 2:Vốn
Về vấn đề thiếu vốn, chúng tôi sẽ lấy tỉnh Bình Dương là một ví dụ.
Hiện tại, phần lớn chợ tại các địa phương của tỉnh Bình Dương là chợ tạm,
chợ tự phát, có quy mô nhỏ, hệ thống hạ tầng kém. Hiện chỉ có 12/71 chợ xã đạt
chuẩn của Bộ Xây dựng, chiếm 16,9%. Trong tiến trình xây dựng nông thôn mới,
Bình Dương đề ra mục tiêu đến năm 2010, 100% số xã trên địa bàn tỉnh phải có
chợ. Mục tiêu này xem ra khó hoàn thành khi cho đến nay ở các huyện Phú Giáo,
Bến Cát chưa xã nào có chợ đạt chuẩn, việc xây dựng chợ nông thôn chưa được
đầu tư đúng mức. Nguyên nhân được lãnh đạo địa phương đưa ra là chưa tìm được
chủ đầu tư thích hợp.
Câu hỏi ở đây được đặt ra là: Làm sao có vốn? Làm sao để phong trào xã hội
hóa đầu tư phát triển chợ đạt kết quả cao?
Đầu tiên nên chú trọng việc đầu tư phát triển các chợ dân sinh, phục vụ sản
xuất và đời sống tại chỗ của nông dân. Trong quá trình này, cần quan tâm xây dựng
cơ sở vật chất cho chợ. Đầu tư xây dựng chợ gắn với quy hoạch nông thôn và quy
hoạch phát triển thương mại trên từng địa bàn cụ thể. Khuyến khích tăng số hộ
kinh doanh trên chợ và tăng thời gian bán hàng hàng ngày của các hộ”.
Chúng tôi đề xuất cụ thể như sau:
Kinh tế thương mại I Page 25
Đối tượng : chính sách thương mại nông thôn Nước Ta. Phạm vi điều tra và nghiên cứu : những chính sách được nhà nước đưa ra và thực hiệnvề thương mại nông thôn Nước Ta trong quá trình 2005 đến 2010.4. Phương pháp nghiên cứuBài viết sử dụng chiêu thức nghiên cứu và phân tích, tổng hợp những số liệu, tích lũy thôngtin, phối hợp với thống kê miêu tả. 5. Kết cấu bài viếtNgoài phần khởi đầu, Tóm lại, phụ lục phân công việc làm, bài viết gồm 5 phầnI. Mục tiêu của chính sách thương mại nông thônII. Chính sáchIII. Đánh giá quy trình thực hiệnIV. Sự tương thích của chính sách với thực tếV. Giải pháp đưa raMục lụcKinh tế thương mại I Page 3M ục tiêu của chính sách thương mại nông thôntrang 5M ục tiêu của chính sách thương mại nông thôntrang 5C hính sáchtrang 7C hính sáchtrang 7IIII Đánh giá quy trình thực hiệntrang15Đánh giá quy trình thực hiệntrang15IIIIIISự tương thích của chính sách với thực tếtrang 22S ự tương thích của chính sách với thực tếtrang 22IVIVG iải pháp đưa ratrang 24G iải pháp đưa ratrang 24 [ N ] I. MỤC TIÊU CỦA CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠINÔNG NGHIỆP1. Bối cảnh triển khai chính sáchKinh tế thương mại I Page 4 [ N ] Chúng ta cần nhìn nhận lại tầm quan trọng của thị trường trong nước nóichung và thị trường nông thôn nói riêng. Số dân đang sống ở vùng nông thônchiếm trên 80 % dân số. Hơn nữa nước ta là nước nông nghiệp, thị trường nôngthôn gắn với sản xuất nông nghiệp, làm thế nào phải tiêu thụ được hàng nông sản donông dân, thợ thủ công sản xuất ra. Bên cạnh đó là yếu tố tiêu thụ mẫu sản phẩm đồngthời đáp ứng được những vật tư cho sản xuất. Nhất là trong tiến trình khủnghoảng lúc bấy giờ, xuất khẩu những mẫu sản phẩm nông sản như gạo, cafe, cá tra, cá ba sa, trái cây … đang gặp nhiều khó khăn vất vả thì việc lan rộng ra thị trường trong nước được coi làbiện pháp quan trọng. Và lúc bấy giờ nhu yếu của nông dân để tiêu thụ sản phẩm & hàng hóa rấtlớn nhưng do năng lực kinh tế tài chính, năng lực giao dịch thanh toán không đều, nhất là miền núi, vùng sâu vùng xa còn khó khăn vất vả nên những loại sản phẩm công nghiệp tiêu dùng gắn vớisản xuất chưa thực sự đến được với người dân. Bên cạnh đó, tất cả chúng ta cũng nhậnthấy tiềm năng của thị trường nông thôn có nhu yếu sản phẩm & hàng hóa cao, phong phú phongphú nhưng việc quan trọng đưa sản phẩm & hàng hóa về nông thôn chưa thật sự phù hợp2. Mục tiêu chính sácha ) Mục tiêu tổng quátChính sách thương mại nông thôn được đưa ra nhằm mục đích tăng trưởng nông thônngày càng vững mạnh, theo hướng văn minh, tân tiến với sự tham gia của cácthành phần kinh tế tài chính và sự phong phú của những mô hình tổ chức triển khai phân phối, những hoạtđộng dịch vụ và phương pháp kinh doanh thương mại ; góp thêm phần xu thế và thôi thúc sảnxuất nông nghiệp tăng trưởng ; phân phối đủ, kịp thời nhu yếu sản xuất, tiêu dùng ở địabàn nông thôn, trên cơ sở đó góp thêm phần chuyển dời cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính nông thôn, xóađói giảm nghèo, tạo tiền đề để dữ thế chủ động hội nhập kinh tế tài chính – thương mại quốc tếthành công ở địa phận nông thôn. b ) Mục tiêu cụ thểVới đề án “ tăng trưởng thương mại nông thôn ” tiềm năng đơn cử đặt ra tronggiai đoạn lúc bấy giờ : Kinh tế thương mại I Page 5 [ N ] – Tốc độ tăng trung bình hàng năm ( chưa loại trừ yếu tố giá ) của tổng mứcbán lẻ sản phẩm & hàng hóa và dịch vụ ở địa phận nông thôn quá trình 2010 – 2015 khoảng22 % / năm ; quy trình tiến độ năm nay – 2020 khoảng chừng 20 %. – Đến hết năm 2010, cơ bản triển khai xong việc thanh tra rà soát, nhìn nhận và tổ chức triển khai lạihợp tác xã thương mại ở địa phận nông thôn. – Đến năm 2011, triển khai xong quy hoạch tăng trưởng hạ tầng thương mại ở địabàn nông thôn ; trong đó có quy hoạch chợ biên giới. – Đến năm 2012, triển khai xong thiết kế xây dựng, đưa vào sử dụng những chợ đầu mốibán buôn nông sản tại những vùng sản xuất sản phẩm & hàng hóa tập trung chuyên sâu theo quy hoạch đượcduyệt. – Đến năm năm ngoái, 50 % chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tếcửa khẩu được tăng cấp, tái tạo và xây mới ; 100 % chợ TT của những huyệnđược vững chắc hóa ; 30 % thị xã có mô hình tổ chức triển khai phân phối quy mô nhỏ và vừa. – Đến năm năm ngoái, tỷ suất hàng nông sản được tiêu thụ trải qua hợp đồngchiếm từ 25 – 30 % ; đến năm 2020 là 45 – 50 %. – Đến năm 2020, toàn bộ những xã đều có chợ đạt chuẩn theo tiêu chuẩn nông thônmới ; hoàn thành xong việc tái tạo, tăng cấp và xây mới những chợ đầu mối nông sản, chợbiên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế tài chính cửa khẩu ; 80 % số thị xã có hìnhthức tổ chức triển khai phân phối quy mô nhỏ và vừa. Hình thành 01 sở giao dịch gạo tại CầnThơ, 01 sở giao dịch cafe tại Đắk Lắk và 1 số ít TT đấu giá hàng nôngsản. – Nâng cao hiệu lực thực thi hiện hành và hiệu suất cao hoạt động giải trí quản trị nhà nước nhất là công tácquản lý chất lượng, vệ sinh bảo đảm an toàn thực phẩm đối với sản phẩm & hàng hóa lưu thông trên thịtrường. II. CHÍNH SÁCH1. Định hướng chính sách1. 1. Phát triển thương mại nông thôn theo quy mô saua ) Cấu trúc thương mại trên địa phận xã, gồm có : Kinh tế thương mại I Page 6 [ N ] – Mạng lưới chợ dân số ( là mô hình tổ chức triển khai thương mại hầu hết ở địa bànxã đến năm năm ngoái và 2020 ). – Mạng lưới kinh doanh thương mại của cá thể, hộ kinh doanh thương mại, kể cả hộ nông dân vừasản xuất vừa kinh doanh thương mại. – Mạng lưới kinh doanh thương mại của những hợp tác xã thương mại với quy mô nhỏ vàvừa ở những xã, cụm xã với hoạt động giải trí đa phần là đáp ứng những dịch vụ ship hàng sảnxuất và tiêu thụ loại sản phẩm của xã viên hợp tác xã, kinh tế tài chính hộ, kinh tế tài chính trang trại vàsinh hoạt của dân cư nông thôn. b ) Cấu trúc thương mại trên địa phận thị xã, thị tứ, gồm có : – Mạng lưới kinh doanh thương mại của doanh nghiệp sản xuất – chế biến, lưu thônghàng hoá và những hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thương mại có mạng lưới hệ thống Trụ sở, shop, cơ sở sơ chế, phân loại, bao gói, dữ gìn và bảo vệ và dự trữ nhỏ ; những xí nghiệp sản xuất, trạm trại sản xuất, mạng lưới hệ thống bến bãi rộng lớn, kho cơ sở và kho trung chuyển đặt tại những thịtrấn, thị tứ. – Mạng lưới kinh doanh thương mại của những hộ kinh doanh thương mại có phương pháp kinh doanhcơ bản như hộ kinh doanh thương mại trên địa phận xã nhưng có quy mô lớn hơn, có phươngthức kinh doanh thương mại tân tiến ( nhượng quyền thương mại, kinh doanh thương mại theo chuỗi, thương mại điện tử ) sớm hơn. – Mạng lưới chợ TT huyện, chợ dân số và 1 số ít mô hình tổ chứcphân phối như nhà hàng siêu thị, TT thương mại quy mô nhỏ và vừa ( đa phần là hạngIII ), shop chuyên doanh, shop tiện nghi được hình thành từng bước theoquy hoạch. c ) Phát triển những mô hình tổ chức triển khai thương mại đặc trưng : Tại những vùng sản xuất nông sản hàng hoá tập trung chuyên sâu hoặc vùng ven đô, tiếptục tái tạo, tăng cấp, xây mới một số ít chợ đầu mối tổng hợp hoặc chuyên doanhbán buôn nông sản và vật tư nông nghiệp, tạo tiền đề hình thành những TT đấugiá và sở giao dịch hàng nông sản ; đồng thời tăng trưởng chợ trên sông, chợ biêngiới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế tài chính cửa khẩu. Kinh tế thương mại I Page 7 [ N ] 1.2. Tổ chức mạng lưới kinh doanh thương mại theo ngành hànga ) Đối với hàng nông sản – Tại những vùng sản xuất nông sản hàng hoá tập trung chuyên sâu, hình thành những kênhtiêu thụ Lever lớn với sự tham gia của những doanh nghiệp nòng cốt ( doanh nghiệp100 % vốn nhà nước, doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá ) ; doanh nghiệp thuộc cácthành phần kinh tế tài chính, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thương mại, hộ kinh doanh thương mại, hệthống đại lý, chợ đầu mối nông sản cấp vùng và cấp tỉnh. Gắn tổ chức triển khai kênh này vớiviệc thiết kế xây dựng quy mô thử nghiệm tiêu thụ một số ít nông sản đa phần ( thóc gạo, lạc, rau, quả, thủy hải sản, muối ) trải qua những hợp tác xã với phương pháp ký hợp đồngngay từ đầu vụ sản xuất. – Tại những vùng sản xuất nông sản hàng hoá chưa tăng trưởng, phân tán, tạolập kênh lưu thông ở Lever vừa và nhỏ, tương thích cung và cầu thị trường ; với sự thamgia của doanh nghiệp, hợp tác xã thương mại, hộ kinh doanh thương mại Hàng nông sảnđược tiêu thụ đa phần trải qua mạng lưới chợ, ẩm thực ăn uống, shop tiện nghi, cửahàng chuyên doanh tại những thị xã, thị tứ ; chợ dân số và shop tạp hóa ở địabàn xã. Gắn với kênh này là việc thiết kế xây dựng quy mô thử nghiệm tiêu thụ một số ít nôngsản hầu hết ( thóc gạo, lạc, rau, quả xuất khẩu, thủy hải sản, muối ) trải qua những hộkinh doanh với hợp đồng kinh tế tài chính được ký vào thời gian thu hoạch. – Tại những vùng nguyên vật liệu cho công nghiệp chế biến, thiết kế xây dựng mối liên kếtkinh tế vững chắc giữa hộ nông dân, hợp tác xã thương mại với cơ sở sản xuất – chếbiến, giữa cơ sở sản xuất – chế biến với doanh nghiệp thương mại ; kiến thiết xây dựng cơ chếđể những hộ sản xuất và xã viên hợp tác xã được mua CP trong những công ty cổphần hoặc doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá. b ) Đối với vật tư nông nghiệpPhát triển mạng lưới kinh doanh thương mại theo hướng củng cố, hoàn thành xong mạng lướichợ tư liệu sản xuất, mạng lưới hệ thống phân phối, mạng lưới hệ thống đại lý, cơ sở kinh doanh thương mại của cácchủ thể sản xuất kinh doanh thương mại. Triển khai thiết kế xây dựng quy mô thử nghiệm đáp ứng vậttư Giao hàng sản xuất nông nghiệp ( phân bón, thuốc bảo vệ thực vật ) theo hướng gắnvới những quy mô thử nghiệm tiêu thụ nông sản. c ) Đối với hàng công nghiệp tiêu dùngKinh tế thương mại I Page 8 [ N ] – Căn cứ nhu yếu, thị hiếu và mức thu nhập của dân cư nông thôn, thiết lậpmạng lưới kinh doanh thương mại tiêu dùng với quy mô và phương pháp hoạt động giải trí phù hợptừng địa phận ; tăng trưởng những chợ kinh doanh thương mại tổng hợp, mạng lưới hệ thống đại lý, cửa hàngthương nghiệp tại những TT cụm xã, cơ sở kinh doanh thương mại của doanh nghiệp, hợptác xã thương mại và hộ kinh doanh thương mại. – Từng bước tăng trưởng chuỗi shop thuận tiện, siêu thị nhà hàng, TT thươngmại trong quy trình tái tạo mạng lưới chợ truyền thống lịch sử ở nông thôn, trước hết là tạicác chợ ở thị xã, thị tứ. 1.3. Phát triển chợ đến địa phận nông thôna ) Đối với nông thôn đồng bằng – Di dời, tái tạo, tăng cấp và xây mới những chợ dân số có quy mô chợ hạngIII ở địa phận xã. – Nâng cấp, tái tạo, lan rộng ra hoặc xây mới những chợ tổng hợp bán sỉ, bánlẻ có quy mô chợ hạng II hoặc hạng I tại những TT kinh tế tài chính huyện. – Tập trung kiến thiết xây dựng chợ đầu mối bán sỉ nông sản quy mô lớn tại cácvùng sản xuất hàng hoá tập trung chuyên sâu của vùng và tỉnh. b ) Đối với nông thôn trung du, miền núiNgoài khuynh hướng tăng trưởng chợ đầu mối nông sản tại những vùng sản xuất tậptrung, chợ dân sinh địa bàn xã và TT huyện, chú trọng tăng cấp, tái tạo vàxây mới chợ biên giới có quy mô hạng III, chợ cửa khẩu, chợ nằm trong khu kinhtế cửa khẩu có quy mô hạng II và hạng I. 1.4. Quản lý chợ trên địa phận nông thônPhát triển doanh nghiệp hoặc hợp tác xã kinh doanh thương mại, quản trị chợ theo cácmô hình sau : Mô hình doanh nghiệp hoặc hợp tác xã chuyên kinh doanh thương mại, quản trị chợ hoặc hoạt động giải trí đa nghành, trong đó có chợ, trải qua đấu thầuhoặc được giao quyền sử dụng, khai thác và quản trị chợ ( đối với những chợ doNhà nước góp vốn đầu tư hoặc tương hỗ góp vốn đầu tư ). Kinh tế thương mại I Page 9 [ N ] Mô hình doanh nghiệp, hợp tác xã chuyên kinh doanh thương mại, quản lýchợ hoặc hoạt động giải trí đa nghành nghề dịch vụ, trong đó có chợ, tự bỏ vốn góp vốn đầu tư chợ và tổchức kinh doanh thương mại, khai thác, quản trị. Tuỳ theo điều kiện kèm theo đơn cử, một doanh nghiệp hoặc hợp tác xã kinh doanh thương mại, quản trị chợ hoàn toàn có thể quản trị một hoặc 1 số ít chợ. 2. Chính sáchChính sách thương mại đối với nông thôn là một bộ phận của chính sáchnông nghiệp, nông thôn, nông dân của Đảng và nhà nước ta. Chính sách thươngmại nông thôn hoàn toàn có thể kể đến 1 số ít chính sách cơ bản như sau : a ) Chính sách góp vốn đầu tư thiết kế xây dựng hạ tầng mạng lưới chợ, trung tâmthương mại : Gần 80 % dân số nước ta sống ở nông thôn, làm thế nào để hoàn toàn có thể đáp ứng đủhàng hóa thiết yêu cho nhu yếu hoạt động và sinh hoạt và sản xuất cho người dân đồng thời baotiêu được mẫu sản phẩm nông nghiệp và nông thôn sản xuất ra, đó là yếu tố không dễ. Đầu tư tăng trưởng mạng lưới chợ, TT thương mại hứa hẹn phân phối điều đó, khai thác tốt hơn thị trường nông thôn trước nay bị những doanh nghiệp trong nướcbỏ ngỏ. Có thể kể đến : Quyết định 311 / 2003QD – TTg thủ tướng chính phủ nước nhà kí ngày 20/3/2003 Điều1 mục I, ý d. “ d. Củng cố, tăng trưởng mạng lưới hệ thống kiến trúc và cơ sở vật chất – kỹ thuậtphục vụ thương mại theo hướng : tổ chức triển khai, khai thác có hiệu suất cao những mạng lướichợ ; tăng nhanh và tăng trưởng những chợ đầu mối, chợ chuyên, sàn thanh toán giao dịch hànghoá, kho dự trữ dữ gìn và bảo vệ hàng hoá nông sản để những cơ sở này trở thành nơi giaodịch, tiêu thụ loại sản phẩm, phân phối vật tư, hàng hoá cho nhu yếu sản xuất và đờisống đáng an toàn và đáng tin cậy nhất ; tăng trưởng những ẩm thực ăn uống, TT thương mại, những hìnhthức tổ chức triển khai thương mại điện tử, trước hết là ở thành phố, thị xã và những vùng kinhtế tập trung chuyên sâu ; kiến thiết xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động giải trí của mạng lưới hệ thống thông tinthị trường và thực thi thương mại trong nước. ” ( trích nguyên văn quyết định hành động ) Quyết định 23 / QĐ-TTg ngày 6/1/2010, Thủ tướng nhà nước ký phê duyệtĐề án Phát triển thương mại nông thôn tiến trình 2010 – năm ngoái và khuynh hướng đếnnăm 2020. Đề án đề cập đến rất nhiều yếu tố tổng quát, nhằm mục đích kiến thiết xây dựng quy trìnhKinh tế thương mại I Page 10 [ N ] tăng trưởng đồng điệu, bền vững và kiên cố cho thương mại nông thôn. Trong đó, nhấn mạnh vấn đề việchình thành mạng lưới chợ … Quyết định 23 / QĐ – TTg chỉ rõ phương hướng thực thi cho những hoạt độngcụ thể như ( Nguyên văn được trích trong nghị định ) : Điều 1, mục III đã đưa ra nhưng chính sách đa phần như sau : “ III. Giải pháp và chính sách chủ yếu1. Quy hoạch tăng trưởng hạ tầng thương mạiUỷ ban nhân dân những tỉnh, thành phố thường trực Trung ương kiến thiết xây dựng mớihoặc kiểm soát và điều chỉnh quy hoạch tăng trưởng hạ tầng thương mại trên địa phận nông thôn, trong đó trọng tâm là quy hoạch tăng trưởng mạng lưới chợ, tương thích với quy hoạchtổng thể tăng trưởng thương mại. 2. Chính sách đầu tưa ) Các dự án Bất Động Sản góp vốn đầu tư hạ tầng thương mại trên địa phận nông thôn được hưởngchính sách khuyễn mãi thêm góp vốn đầu tư lao lý tại Nghị định số 108 / 2006 / NĐ-CP ngày 29 tháng 9 năm 2006 của nhà nước pháp luật cụ thể và hướng dẫn thi hành một sốđiều của Luật Đầu tư ; được vay tín dụng thanh toán góp vốn đầu tư nhà nước theo pháp luật tại Nghịđịnh số 151 / 2006 / NĐ-CP ngày 20 tháng 12 năm 2006 của nhà nước về tín dụngđầu tư và tín dụng thanh toán xuất khẩu của Nhà nước và Nghị định số 106 / 2008 / NĐ-CP ngày 19 tháng 9 năm 2008 của nhà nước sửa đổi, bổ trợ một số ít Điều của Nghịđịnh số 151 / 2006 / NĐ-CP. b ) Sửa đổi, bổ trợ chính sách tương hỗ vốn góp vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đốivới 1 số ít mô hình hạ tầng thương mại đa phần ở địa phận nông thôn có điều kiệnkinh tế – xã hội khó khăn vất vả và đặc biệt quan trọng khó khăn vất vả. 3. Thực hiện thử nghiệm bảo hiểm sản xuất nông nghiệp ở một số ít khu vực chomột số loại loại sản phẩm nông thủy hải sản. 4. Nâng cao hiệu lực hiện hành, hiệu suất cao công tác làm việc quản trị thị trường. Thường xuyên kiểm tra tình hình triển khai lao lý của pháp lý về bảođảm vệ sinh bảo đảm an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường tự nhiên, phòng chống dịch bệnh, niêmyết giá và bán đúng giá niêm yết của những cơ sở kinh doanh thương mại, nhất là tại những chợ ; xửlý nghiêm những trường hợp vi phạm theo pháp luật của pháp lý hiện hành. ” ( tríchdẫn nguyên văn ) Kinh tế thương mại I Page 11 [ N ] b ) Chính sách tăng trưởng phương pháp giao thương mua bán theo hướng tân tiến : Một trong những yếu tố giúp mạng lưới hệ thống thương mại nông thôn tăng trưởng ổnđịnh, văn minh là biến hóa phương pháp giao thương mua bán. Nếu có những hợp đồng baotiêu loại sản phẩm nông dân sẽ bớt lo ngại trước những dịch chuyển của thị trường. Đểlàm được điều này cơ quan chính phủ đã có những chính sách khuyến khích những doanhnghiệp : Theo quyết đinh 80/2500 2 / QĐ – TTg ngày 24/6/2002 Thủ tướng chính phủđã kí có pháp luật : “ Điều 1. Nhà nước khuyến khích những doanh nghiệp thuộc những thành phầnkinh tế ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản sản phẩm & hàng hóa ( gồm có nông sản, lâm sản, thủy hải sản ) và muối với người sản xuất ( hợp tác xã, hộ nông dân, trang trại, đại diệnhộ nông dân ) nhằm mục đích gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản sản phẩm & hàng hóa đểphát triển sản xuất không thay đổi và bền vững và kiên cố. Hợp đồng sau khi đã ký kết là cơ sở pháp lý để gắn nghĩa vụ và trách nhiệm và nghĩa vụcủa những bên, bảo vệ quyền và quyền lợi hợp pháp giữa người sản xuất nguyên vật liệu vàcác doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thương mại, chế biến và xuất khẩu theo những quy địnhcủa hợp đồng. ” c ) Chính sách khuyến khích hoạt động giải trí của những tổ chức triển khai thương mại : Các doanh nghiệp thương mại là yếu tố không hề thiếu trong mọi nền kinhtế. Phát triển những tổ chức triển khai, những doanh nghiệp thương mại là thiết kế xây dựng yếu tố cấuthành trên thị trường. Ý thức được điều này nhà nước luôn khuyến khích sự sinh ra, hoạt động giải trí của những mô hình doanh nghiệp thương mại ( hợp với lao lý đã đặt ratrong luật doanh nghiệp trên thị trường ) đặc biệt quan trọng là ở nông thôn, cũng như cónhưng khuynh hướng đơn cử góp thêm phần tạo phương hướng hoạt động giải trí giúp những doanhnghiệp này kinh doanh thương mại hiệu suất cao hơn. Quyết định 23 / QĐ-TTg ngày 6/1/2010, Thủ tướng nhà nước ký phê duyệtĐề án Phát triển thương mại nông thôn quy trình tiến độ 2010 – năm ngoái và xu thế đếnnăm 2020 có nêu : Kinh tế thương mại I Page 12 [ N ] “ 5. Định hướng tổ chức triển khai, hoạt động giải trí những mô hình thương nhân chủ yếua ) Đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thương mại – Rà soát, nhìn nhận, phân loại và tổ chức triển khai lại những hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xãthương mại hiện có trên địa phận nông thôn. – Phát triển hợp tác xã thương mại theo 1 số ít quy mô sau : + ở khu vực nông thôn đồng bằng : tăng trưởng hợp tác xã đa tính năng hoặc hợptác xã dịch vụ tổng hợp ; chú trọng quy mô hợp tác xã nông nghiệp – thương mại – dịch vụ Giao hàng sản xuất nông nghiệp ; + ở khu vực nông thôn trung du, miền núi : tăng trưởng hợp tác xã đa công dụng, hợp tác xã kinh doanh thương mại tổng hợp với những hình thức kinh doanh nhỏ linh động ; tăng trưởng tổ hợp tác mua chung – bán chung, mua chung – bán riêng hoặc những tổdịch vụ để tương hỗ nhau trong sản xuất, kinh doanh thương mại và ship hàng đời sống ở nhữngnơi chưa có điều kiện kèm theo xây dựng hợp tác xã ; + Phát triển hợp tác xã chợ ở cả địa phận nông thôn đồng bằng và nông thôn trungdu, miền núi ; trong đó chú trọng tăng trưởng hợp tác xã mà xã viên hầu hết là cáchộ kinh doanh thương mại trong chợ. – Phát triển những liên hiệp hợp tác xã thương mại theo hướng củng cố những đơn vịhiện có ; xây dựng mới liên hiệp hợp tác xã thương mại với phương pháp kinhdoanh tích hợp truyền thống cuội nguồn với tân tiến tại những tỉnh có kinh tế tài chính hộ, kinh tế tài chính trangtrại tăng trưởng. b ) Đối với thương mại tư nhân – Khuyến khích tăng trưởng những mô hình thương mại tư nhân theo pháp luật củaLuật Doanh nghiệp. – Khuyến khích những hộ kinh doanh thương mại tăng trưởng theo hướng : + Tham gia vào mạng lưới hệ thống kinh doanh thương mại của những doanh nghiệp thuộc những thành phầnkinh tế, liên hiệp hợp tác xã và hợp tác xã thương mại trải qua những hình thức đạilý mua, bán, hợp đồng mua và bán ; tham gia vào những chuỗi phân phối bằng link, liên kết kinh doanh, nhượng quyền thương mại ; + Tự phát triển hoặc link, hợp nhất thành công ty hoặc hợp tác xã kinh doanh nhỏ ; từngbước ứng dụng quy mô chuỗi phân phối kinh doanh nhỏ và phương pháp nhượng quyềnthương mại, trước hết tại địa phận thị xã, thị tứ ; Kinh tế thương mại I Page 13 [ N ] + Các hộ kinh doanh thương mại trong chợ tham gia những hợp tác xã chợ, vừa là xã viên củahợp tác xã chợ, vừa là đối tượng người dùng sử dụng những mô hình dịch vụ do hợp tác xã chợtổ chức. ” ( trích dẫn ) Kinh tế thương mại I Page 14 [ N ] III. ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN1. Mạng lưới chợ nơi thừa nơi thiếuNgày 6/1/2010, Thủ tướng nhà nước ký Quyết định 23 / QĐ-TTg phê duyệtĐề án Phát triển thương mại nông thôn quá trình 2010 – năm ngoái và xu thế đếnnăm 2020. Đề án đề cập đến rất nhiều yếu tố tổng quát, nhằm mục đích thiết kế xây dựng quy trìnhphát triển đồng điệu, vững chắc cho thương mại nông thôn. Trong đó, nhấn mạnh vấn đề việchình thành mạng lưới chợ … Thị trường nông thôn có vai trò rất quan trọng trong tăng trưởng kinh tế tài chính – xãhội. Đây là nơi sản xuất lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng trong nước, xuấtkhẩu và cung ứng nguyên vật liệu cho công nghiệp chế biến. Tuy nhiên, thị trườngnông thôn và nền sản xuất nông nghiệp vẫn manh mún, chưa gắn chặt với sản xuấtkhiến việc tiêu thụ nông sản gặp nhiều khó khăn vất vả. Hàng hóa yếu thế cạnh tranh đối đầu, nhiều loại sản phẩm có chất lượng thấp. Trong khi đó, vai trò của thương nhân ở địabàn nông thôn mới đa phần phát huy được ở khâu tiêu thụ nông sản và mở đầukênh phân phối ; vai trò thương mại Nhà nước và hợp tác xã khá mờ nhạt ; những cơ sởkinh doanh vừa thiếu vừa nghèo nàn, lỗi thời. Nạn kinh doanh thương mại hàng giả, hàng kémchất lượng và hành vi gian lận thương mại còn thông dụng ; việc chấp hành pháp luậtvề ĐK kinh doanh thương mại, thuế, sổ sách kế toán thống kê, báo cáo giải trình kinh tế tài chính, nhãn máchàng hóa, vệ sinh bảo đảm an toàn thực phẩm, vệ sinh thiên nhiên và môi trường còn lỏng lẻo và tùy tiện. Theo Bộ Công Thương, hiện có đến 45 % hàng hoá được lưu chuyển qua chợdân sinh. Hiện nay, tại nhiều địa phương vẫn thiếu chợ. Điển hình như những tỉnhphía Bắc, Tây Nguyên, trung bình 10 km2 chỉ có 0,1 – 0, 2 chợ. Cả nước còn hơn3. 000 xã thiếu chợ hoặc chỉ có chợ quy mô nhỏ ; 43 % chợ tạm. Trong khi đó, nhiềuchợ đầu mối kiến thiết xây dựng hoành tráng, kinh phí đầu tư hàng tỷ đồng lại không phát huy hiệuquả. Kinh tế thương mại I Page 15 [ N ] 2. Phát triển mạng lưới chợ vấp phải yếu tố thiếu vốn, kiến thiết xây dựng và pháttriển chợ còn thiếu đồng bộĐề án tăng trưởng thương mại nông thôn quá trình 2010 – năm ngoái, định hướngđến năm 2020 đã nêu rõ tầm quan trọng của mạng lưới hệ thống những chợ đầu mối, ẩm thực ăn uống, shop tiện ích … Tuy nhiên, để thiết kế xây dựng mạng lưới hệ thống chợ, TT thương mạihợp quy hoạch, mang lại hiệu suất cao cao, rất cần những giải pháp đồng điệu, sự góp sứccủa cả hội đồng. Có thể khẳng định chắc chắn, thiếu vốn là khó khăn vất vả tiên phong mà bất kể địa phương nàocũng gặp phải khi bắt tay vào thiết kế xây dựng và triển khai quy hoạch, tăng trưởng hệ thốngchợ. Bởi với số tiền tương hỗ 500 triệu đồng từ Trung ương, địa phương khó có thểhoàn thiện mạng lưới hệ thống chợ, nhà hàng siêu thị, shop tiện ích … Vẫn biết công tác làm việc này cần sựvào cuộc của cả hội đồng trải qua chương trình xã hội hóa việc xây chợ, nhưngchính bản thân người dân cũng chưa thực sự hiểu rõ thì làm thế nào hoàn toàn có thể lôi kéo họđóng góp, tham gia ? Trong thời hạn qua, chỉ huy những địa phương cũng đã nhận ra tầm quantrọng và sự thiết yếu của việc xây chợ nên có sự góp vốn đầu tư can đảm và mạnh mẽ cho việc hìnhthành mạng lưới chợ. Tuy nhiên, do nguồn kinh phí đầu tư hạn chế, nhiều địa phương chỉcó thể tái tạo, tăng cấp, thay thế sửa chữa chứ không hề góp vốn đầu tư xây mới. Trong khi đóphong trào xã hội hóa góp vốn đầu tư tăng trưởng chợ vẫn chưa đạt được hiệu quả cao. Lý dolớn nhất là nguồn vốn để thiết kế xây dựng chợ rất lớn, trong khi năng lực hoàn vốn thấpvà lê dài. Từ đó dẫn đến thực tiễn những nhà đầu tư chỉ tập trung chuyên sâu góp vốn đầu tư kiến thiết xây dựng chợtại những nơi có năng lực sinh lời nhanh, ngoảnh mặt với việc kiến thiết xây dựng chợ nôngthôn hoặc ở vùng sâu, vùng xa. Chưa kể việc kiến thiết xây dựng, tăng trưởng chợ còn thiếu đồng nhất. Một số chợ đã xâydựng xong nhưng chưa có đường giao thông vận tải. Không ít chợ được kiến thiết xây dựng ở địađiểm không hài hòa và hợp lý, khó lôi cuốn được tiểu thương nhỏ lẻ tham gia, dẫn đến tiêu tốn lãng phí tiềncủa của Nhà nước. Kinh tế thương mại I Page 16 [ N ] 3. Các chợ hoạt động giải trí kém hiệu suất cao do dân cư có thu nhập thấp khôngcó nhu yếu tiêu dùng những mẫu sản phẩm chất lượng cao. Các loại sản phẩm nông sảnlà những mẫu sản phẩm chủ yếuMột thực tiễn nữa là, 1 số ít chợ tại những xã vùng sâu lúc bấy giờ vẫn chưa thểhoạt động hiệu suất cao vì có rất ít người mua và Open thực trạng người dân khôngmuốn vào chợ xây mới mà chỉ thích mua và bán ở những chợ “ xổm ”. Ở địa phận miền núi, vùng sâu, vùng xa, những loại sản phẩm nông sản hầu hết đượccung ứng theo hai mô hình. Người sản xuất ( đa phần là nông hộ nhỏ lẻ ) bán chocác đầu mối thu gom, những đầu mối mang đi tiêu thụ tại chợ TT huyện, tỉnhhoặc bán cho những nhà máy sản xuất chế biến. Trường hợp thứ hai là người sản xuất bán chocác đầu mối thu gom, đại lý. Các đại lý bán ( đa phần là gạo và những loại đặc sản nổi tiếng củađịa phương ) trực tiếp cho người tiêu dùng. Cũng có người tự mang nông sản đếnbán tại chợ ( những loại rau quả ) … Chính vì thế, nhiều người chưa thấy hết được vaitrò, quyền lợi của chợ trong hoạt động giải trí giao thương mua bán. Bên cạnh đó, do thu nhập của người dân nông thôn còn thấp nên nhu cầutiêu dùng những mẫu sản phẩm sản phẩm & hàng hóa chất lượng cao khá hạn chế. Thành phần tham giatại những chợ nông thôn là những hộ nông nghiệp với những loại sản phẩm kinh doanh thương mại chủ yếulà nông sản, thực phẩm tươi sống tự sản xuất và nuôi trồng. Các hộ tự trao đổi hànghoá với nhau hoặc đáp ứng cho thương lái. Các hộ tiểu thương nhỏ lẻ kinh doanh thương mại hànghoá và dịch vụ tại chợ chiếm số lượng ít, đa phần là vải sợi, quần áo may sẵn, báchhoá tổng hợp, dịch vụ nhà hàng giải khát. Chính thế cho nên, hoạt động giải trí thương mại ởnông thôn chưa tăng trưởng, chưa kích thích sản xuất và hình thành nền nông nghiệphàng hóa. 4. Mục tiêu đưa ra nhưng chỉ để ngắmMột trong những yếu tố giúp mạng lưới hệ thống thương mại nông thôn tăng trưởng ổnđịnh, văn minh là biến hóa phương pháp giao thương mua bán. Theo Quyết định 80/2002 củaThủ tướng nhà nước, phấn đấu đến năm năm ngoái, tỷ suất hàng nông sản được tiêu thụthông qua hợp đồng sẽ chiếm từ 25-30 % và đến năm 2020 là 45-50 %. Tuy nhiên, Kinh tế thương mại I Page 17 [ N ] trước thực tiễn mua và bán nông sản lúc bấy giờ, tiềm năng trên dù nhã nhặn nhưng cũngkhông dễ triển khai. Ai cũng hiểu, tiêu thụ hết nông sản qua hợp đồng sẽ tạo điều kiện kèm theo để sảnxuất nông nghiệp gắn với chế biến, tiêu thụ, lôi cuốn nhiều doanh nghiệp ( Doanh Nghiệp ) vànông dân tham gia, qua đó góp thêm phần hình thành những vùng sản xuất nông sản hànghoá tập trung chuyên sâu, vùng sản xuất hàng nông sản chất lượng cao theo hướng bền vững và kiên cố. Tuy nhiên, trong thực tiễn, tỷ suất sản phẩm & hàng hóa được tiêu thụ qua hợp đồng còn thấp. Quyết định 80 đề ra tiềm năng : lan rộng ra phương pháp ký hợp đồng tiêu thụnông sản hàng hoá để đến năm 2005 tối thiểu 30 %, đến năm 2010 có trên 50 % sảnlượng nông sản hàng hoá của một số ít ngành sản xuất hàng hoá lớn được tiêu thụthông qua hợp đồng. Thế nhưng, năm 2005, tiềm năng đạt 30 % số lượng nông sảnhàng hoá được tiêu thụ trải qua hợp đồng chỉ thành công xuất sắc đối với 1 số ít nôngsản như mía, bông, sữa. Các loại sản phẩm nòng cốt khác là cafe, lúa, thủy hải sản khôngđạt được tiềm năng đề ra. Năm 2010 đã đến, tiềm năng 50 % sản lượng nông sản đượctiêu thụ trải qua hợp đồng là trách nhiệm khó khả thi. Đơn cử như loại sản phẩm lúa, thống kê của Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông nghiệp ( Bộ Nông nghiệp vàPTNT ), lúa hàng hoá tiêu thụ trải qua hợp đồng chỉ chiếm khoảng chừng 6 – 9 % sảnlượng. Trong khi đó Nước Ta là một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thếgiới. Một số loại sản phẩm nòng cốt khác như thuỷ sản tiêu thụ qua hợp đồng chỉ đạtdưới 10 % sản lượng, cafe ở mức 2 – 5 % diện tích quy hoạnh. 5. Liên kết 4 nhà chưa đạt được hiệu suất cao và mong ước đã đề ra, không “ nhà ” nào có nghĩa vụ và trách nhiệm với vai trò của mình. Đặc biệt vẫn còn thiếutiếng còi trọng tài của nhà nướcNgay từ năm 2002, Thủ tướng nhà nước đã ban hành Quyết định80 / 2002 / QĐ-TTg về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thôngqua hợp đồng – thiết kế xây dựng mối link “ 4 nhà ” : Nhà nước, nhà khoa học, doanhnghiệp và nhà nông. Trong đó, Nhà nước khuyến khích những Doanh Nghiệp ký kết hợp đồngtiêu thụ nông sản hàng hoá với nông dân nhằm mục đích gắn sản xuất với chế biến và tiêuthụ nông sản, không thay đổi sản xuất và tăng trưởng bền vững và kiên cố. Thế nhưng, hơn 8 năm qua, vẫn chưa thể thiết lập mối link giữa “ 4 nhà ”. Kinh tế thương mại I Page 18 [ N ] Trong mối link “ 4 nhà ” thì Doanh Nghiệp và nhà nông đóng vai trò quan trọng nhất. DN sẽ là TT của chuỗi tiêu thụ này bởi họ là người dữ thế chủ động ký kết hợpđồng, hướng dẫn, giúp sức nông dân vận dụng văn minh kỹ thuật, tương hỗ vay vốn và vậttư nông nghiệp, thực thi bao tiêu mẫu sản phẩm với giá thoả thuận, bảo vệ lợi íchcủa cả hai bên. Tuy nhiên, hầu hết những Doanh Nghiệp đều thụ động trong công tác làm việc này. TheoPhó cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông nghiệp Lê Quý Đăng, cácDN có 1 số ít hạn chế về năng lượng sản xuất, mạng lưới thu gom nông sản cònthiếu, chưa thực sự làm tốt vai trò TT trong mối link. Bên cạnh đó, còncó hiện tượng kỳ lạ một số ít Doanh Nghiệp lạm dụng độc quyền ép giá, ít chăm sóc góp vốn đầu tư cho vùngnguyên liệu. Nhà nông trực tiếp làm ra mẫu sản phẩm, tuy nhiên họ tham gia mối link mộtcách thụ động. Nội dung hợp đồng thường do Doanh Nghiệp đưa ra, thiếu sự luận bàn, thươngthảo với nông dân, nên quyền lợi của người sản xuất chưa thoả đáng. Khó khăn khitham gia link “ 4 nhà ” của nhà nông còn do trình độ sản xuất, tập quán sản xuấtlạc hậu, chưa theo kịp nhu yếu sản xuất sản phẩm & hàng hóa ; tiềm lực sản xuất, kinh tế tài chính củanông dân còn thấp, thiếu thông tin thị trường, những kiến thức và kỹ năng về pháp lý. Và trênthực tế cũng đã Open hiện tượng kỳ lạ nông dân chưa tôn trọng đúng những cam kếttrong hợp đồng đã ký với DN. Nhiều Doanh Nghiệp dù thiếu nguyên vật liệu nhưng vẫn khôngthể mua loại sản phẩm của nông dân do không đạt tiêu chuẩn nhu yếu, hoặc nông dânbán mẫu sản phẩm cho đối tượng người dùng khác do giá cao hơn hợp đồng đã ký kết. Nhà nước tham gia mối link với vai trò tương hỗ, điều phối trải qua cácchính sách khuyến khích và góp vốn đầu tư kiến thiết xây dựng hạ tầng, quy hoạch vùng nguyên vật liệu, chuyển giao văn minh kỹ thuật, thực thi thương mại, đồng thời là người kiểm tra, giám sát và bảo vệ tính pháp lý cho việc triển khai hợp đồng giữa những bên. Do đócó thể nói rằng, Nhà nước đóng vai trò trọng tài trong quy trình link “ 4 nhà ”. 6. Chất lượng sản phẩm & hàng hóa tại nông thônCó thể chứng minh và khẳng định, Đề án tăng trưởng mạng lưới hệ thống thương mại nông thôn giaiđoạn 2010 – năm ngoái và tầm nhìn đến năm 2020 có cái nhìn khá tổng lực khi đề cậpđến hầu hết những góc nhìn, từ mạng lưới hệ thống hạ tầng đến cách mua và bán trải qua hợpđồng … Kinh tế thương mại I Page 19 [ N ] Tuy nhiên, điều quan trọng nhất để lôi cuốn người dân đến chợ, đồng thờicũng là yếu tố giúp chợ hoạt động giải trí bền vững và kiên cố lại chưa được chú trọng trong Đề ánnày, đó là chất lượng sản phẩm & hàng hóa. Nông thôn, thị trường của hàng kém chất lượng ! Bị “ truy nã ” gắt gao ở những thành phố lớn, hàng giả, hàng kém chất lượng tìmcách “ dạt ” về nông thônLợi dụng sự thiếu thông tin về mẫu sản phẩm của bà con, nhiều tư thương đã bấtchấp thủ đoạn, tìm mọi cách để đưa hàng giả, hàng kém chất lượng về nông thôn. Từ những loại sản phẩm có giá trị thấp như bánh kẹo, nước giải khát, may mặc đếnhàng có giá trị cao như đồ gia dụng, phụ tùng xe máy giả, nhái bày bán ở những chợhuyện, chợ xã. Đặc biệt, những sản phẩmphục vụ sản xuất như thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc trừ sâu … hoàn toàn có thể tìm thấy hàng giả, hàng kém chất lượng khánhiều, gây thiệt hại lớn cho người tiêu dùng. Hiện tượng gian lận thương mại sản phẩm & hàng hóa, không ghi tem nhãn, hàng giả, hàng nhái, hàng không bảo vệ bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm … xảy ra phổ cập ởhầu hết địa phận những huyện với những quầy bán hàng quy mô nhỏ lẻ. Nguy hại hơn làtrường hợp người bán còn hòn đảo nhãn mác, biến hàng giá rẻ thành hàng hạng sang rồingang nhiên bày bán trên sạp hàng, khiến người mua không phân biệt được đâu làhàng đúng thương hiệu, đâu là hàng kém chất lượng. Những mẫu sản phẩm này đa phần cóxuất xứ từ Trung Quốc ( giá rẻ hoặc hàng đã hết hạn sử dụng ). Thị trường nông thôn tiêu thụ một lượng lớn sản phẩm & hàng hóa nhưng đang tồn tạinghịch lý : Hàng tốt nhất, của ngon vật lạ đều dành cho xuất khẩu hoặc thị trườngthành thị ; còn hàng lỗi, hàng xấu thì đưa về nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùngxa. Tâm lý của người tiêu dùng thành thị và nông thôn có sự độc lạ lớn. Ngườidân nông thôn chỉ chăm sóc đến mẫu sản phẩm đó có tương thích với túi tiền của mình haykhông ! ? Bởi vậy, giá rẻ là tiêu chuẩn số 1, sau mới là chất lượng. Chính điều nàyđã dẫn đến thực trạng hàng giả, hàng kém chất lượng mặc sức tung hoành. Người tiêu dùng nông thôn luôn là người thiệt thòi nhất. Họ không đượcquyền định đoạt Ngân sách chi tiêu, không được quyền luận bàn hợp đồng và là người gánhchịu toàn bộ mọi rủi ro đáng tiếc nếu gặp hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không đảm bảoKinh tế thương mại I Page 20 [ N ] bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Thực tế người dân nông thôn hiện đang phải mua hànggiá cao chứ không phải mua hàng giá rẻ. Nông dân đang tiêu thụ hầu hết là hànggiả, hàng kém chất lượng. Nhưng vì không có thông tin nên đã bị lừa khi muahàng, do đó họ là người phải “ gánh đòn ” bởi sự thiếu trấn áp chất lượng trên thịtrường7. Nông thôn với cuộc hoạt động Người việt dùng hàng ViệtTrên trong thực tiễn, không phải doanh nghiệp nào cũng coi thị trường nông thôn lànơi thải hàng kém chất lượng, vật chứng là trải qua cuộc hoạt động “ NgườiViệt Nam ưu tiên dùng hàng Nước Ta ” không ít doanh nghiệp đã tìm thấy thịtrường tiềm năng của mình, đó chính là những vùng nông thôn, nơi vốn bị coi làkhông thể kích thích được tiêu dùng. Nhưng điều quan trọng qua những đợt bán hàng này không nằm ở doanh thu màở việc xu thế, giúp người tiêu dùng nông thôn nhận diện hàng Việt. Lâu naythị trường nông thôn vẫn bị doanh nghiệp bỏ ngỏ, nông dân chịu thiệt đơn thiệt képkhi phải dùng hàng hóa giá cao, chất lượng không không thay đổi, thông tin sản phẩmkhông rõ ràng. Qua những phiên chợ đưa hàng Việt về nông thôn thấy nhu cầu mua sắm vànhu cầu của người dân nông thôn là rất lớn, nhiều tiềm năng ; người tiêu dùng nôngthôn rất “ khát ” hàng sản xuất trong nước có chất lượng, giá thành tương thích, nhưngchưa có nhiều sự lựa chọn vì ít sản phẩm & hàng hóa đáp ứng. Do đó, hoạt động giải trí đưa hàngViệt về nông thôn phải được tổ chức triển khai liên tục hơn mới mang lại hiệu suất cao đốivới cả người tiêu dùng và doanh nghiệp. Kinh tế thương mại I Page 21 [ N ] IV. SỰ PHÙ HỢP CỦA CHÍNH SÁCH VỚI THỰC TẾVới 80 % dân số ở nông thôn, tình hình thương mại ở nông thôn phát triểnmanh mún, tự phát, không theo quy hoạch đã kiềm chế sự tăng trưởng của nông thônnói chung và thương mại nông thôn nói riêng. Để khắc phục thực trạng đó Đảng vànhà nước đã có nhiều chính sách nhằm mục đích tăng trưởng thương mại nông thôn theo đúnghướng và không thay đổi. Những chính sách mà chính phủ nước nhà đề ra rất tương thích với tình hìnhnông thôn lúc bấy giờ. Biểu hiện : Để thôi thúc tăng trưởng thương mại nhà nước đề ra chính sách khuyến khíchphát triển mô hình hợp tác xã thương mại, phối hợp giữa phương pháp kinhdoanh truyền thống cuội nguồn và tân tiến, tăng trưởng kinh tế tài chính trang trại. Khuyến khích thương mại tư nhân …. Để tăng trưởng thương mại nông thôn vững chắc nhà nước cũng đề ra nhữngchính sách tương thích như : đổi khác phương pháp giao thương mua bán. Đưa hợp đồngvào trong quy trình sản xuất bao tiêu, thiết kế xây dựng mạng lưới hệ thống chợ, trung tâmthương mại … … … …. Chính sách của nhà nước là trọn vẹn tương thích tuy nhiên còn chung chung. Thị trường là luôn dịch chuyển, không ai hoàn toàn có thể lường hết được những thay đổiđó. Những ảnh hưởng tác động từ bên trong và bên ngoài đã ảnh hưởng tác động trực tiếp và giántiếp khiến chính sách còn nhiều điểm thiếu sự tương thích và luôn đứng trướcbờ vực của sự lỗi thời. Do mỗi địa phương lại có những đặc thù riêng không liên quan gì đến nhau mà chỉ riêng địaphương đó mới có đã làm cho chính sách không hề phân phối tương thích với tấtcả những địa phương. Làm hình thành nhiều lỗ hổng pháp lý mà nhiều gianthương đã tận dụng để trục lợi cá thể. Chính sách là tương thích nhưng khi đưa vào thực thi đã bị nhiều người biếntướng nhằm mục đích thu lợi cá thể. Nông thôn to lớn làm cho quy trình quản trị giám sát sự thực thi chínhsách gặp nhiều khó khăn vất vả, cán bộ ở nông thôn nói chung trình độ thấp, thóiquen thao tác quan liêu thiếu nhanh nhậy, văn minh … đã làm cho chính sáchchưa tới được với bà con. Khiến tình hình hàng giả, hàng nhái còn diễn ratràn lan, thiếu trấn áp …. Tuy còn sống sót những hạn chế trên nhưng tất cả chúng ta cũng không hề phủ nhậnKinh tế thương mại I Page 22 [ N ] những thành công xuất sắc mà chính sách đem lại. bộc lộ rõ ràng ở phần triển khai chínhsách. Sự khởi sắc trong thương mại nông thôn đã cho thấy sự đúng đắn của chínhsách thương mại nông thôn, tuy còn thể hiện một vài khuyết điểm. Điều này cho thấynhà nước cần chăm sóc hơn nữa về yếu tố này, cần có những sửa đổi bổ trợ kịpthời để ngăn ngừa những rơi lệch trong thương mại nông thôn. Giúp thương mạinông thôn tăng trưởng nhanh và bền vững và kiên cố hơn. Kinh tế thương mại I Page 23 [ N ] V. GIẢI PHÁP ĐƯA RAVới mong ước chính sách thương mại nông thôn phát huy được hết tácdụng mà Đảng và Nhà nước mong ước, chúng tôi xin đề cập 1 số ít giải phápnhằm đưa chính sách vào sát trong thực tiễn hơn. Các giải pháp chúng tôi đưa ra dựa trên những thiếu sót của bản thân chínhsách, những trở ngại đến từ thiên nhiên và môi trường thực tiễn và những rủi ro đáng tiếc từ nhiều phía từ đóđưa ra những quan điểm khắc phục. Một nền nông nghiệp tân tiến không đơn thuần chỉ là giống mới, công nghệtiên tiến mà còn phải có mạng lưới hệ thống thương mại nông thôn tăng trưởng. Nhưng trênthực tế, ngay cả ở những địa phương có nền nông nghiệp hàng hóa phát triểnnhưng mạng lưới chợ cũng rất thiếu hoặc quy hoạch không hài hòa và hợp lý. Giải pháp tiên phong của chúng tôi kỳ vọng sẽ giải tỏa được những hạn chế, khúc mắc này. Giải pháp tiên phong : Ưu tiên tăng trưởng mạng lưới chợVới khuynh hướng của nhà nước và tình hình thương mại nông thôn đã đượcnêu ở trên, thì giải pháp này sẽ xử lý yếu tố như thế nào ? Sau đây là chi tiếtgiải pháp. Theo Bộ Công Thương, hiện có đến 45 % hàng hoá được lưu chuyển quachợ dân số. Ông Nguyễn Xuân Chiến, Phó vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước ( Bộ Công Thương ) cho biết, tiềm năng tăng trưởng thương mại nông thôn nhằm mục đích kíchthích tiêu dùng và tăng nhanh sức tiêu thụ hàng hoá trong nước. Do vậy, việc đầutiên là thanh tra rà soát, nhìn nhận và tổ chức triển khai lại hợp tác xã thương mại ở địa phận nôngthôn. Quy hoạch tăng trưởng hạ tầng thương mại ở địa phận nông thôn, trong đócó quy hoạch chợ biên giới, phải được hoàn thành xong. Đến năm năm ngoái, 50 % chợbiên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế tài chính cửa khẩu được tăng cấp, tái tạo vàxây mới. Từ nay đến năm 2020, sẽ tái tạo, tăng cấp 142 chợ và xây mới 276 chợbiên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế tài chính cửa khẩu với tổng vốn góp vốn đầu tư 1.534 tỷ đồng. Năm 2012, những chợ đầu mối nông sản sẽ được thiết kế xây dựng xong tại những vùngsản xuất hàng hoá tập trung chuyên sâu như chợ lúa gạo ở Cần Thơ, chợ nông sản Nghệ An, Kinh tế thương mại I Page 24 [ N ] Thành Phố Hải Dương, chợ rau quả chất lượng cao ở Lâm Đồng … Đây là cơ sở để hình thànhcác TT đấu giá và sở giao dịch hàng nông sản. Đến năm 2020, với tổng sốvốn góp vốn đầu tư dự kiến là 6.040 tỷ đồng, những địa phương sẽ thực thi tái tạo, nâng cấp31 chợ và xây mới 82 chợ đầu mối nông sản ở địa phận nông thôn. Ngoài ra, sẽ xâydựng 3.000 chợ tại 3.000 xã chưa có chợ từ nay đến năm 2020 với tổng vốn đầu tư1. 500 tỷ đồng ( Số liệu của Bộ Công Thương ). Nếu mọi việc tốt đẹp, đến năm năm ngoái, tất cả chúng ta sẽ có hàng loạt chợ trung tâmhuyện được vững chắc hóa, 30 % thị xã có mô hình tổ chức triển khai phân phối quy mô nhỏvà vừa ; tỷ suất hàng nông sản được tiêu thụ trải qua hợp đồng chiếm 25 – 30 %, đến năm 2020 là 45 – 50 % ( Số liệu của Bộ Nông nghiệp và tăng trưởng nông thôn ). Với mục tiêu này, lần tiên phong, doanh nghiệp ( Doanh Nghiệp ) khi lan rộng ra mạnglưới kinh doanh thương mại ở nông thôn hoàn toàn có thể được hưởng hàng loạt chính sách ưu đãilớn về thuế, tín dụng thanh toán. Giải pháp thứ 2 : VốnVề yếu tố thiếu vốn, chúng tôi sẽ lấy tỉnh Tỉnh Bình Dương là một ví dụ. Hiện tại, phần đông chợ tại những địa phương của tỉnh Tỉnh Bình Dương là chợ tạm, chợ tự phát, có quy mô nhỏ, mạng lưới hệ thống hạ tầng kém. Hiện chỉ có 12/71 chợ xã đạtchuẩn của Bộ Xây dựng, chiếm 16,9 %. Trong tiến trình kiến thiết xây dựng nông thôn mới, Tỉnh Bình Dương đề ra tiềm năng đến năm 2010, 100 % số xã trên địa phận tỉnh phải cóchợ. Mục tiêu này xem ra khó hoàn thành xong khi cho đến nay ở những huyện Phú Giáo, Bến Cát chưa xã nào có chợ đạt chuẩn, việc thiết kế xây dựng chợ nông thôn chưa đượcđầu tư đúng mức. Nguyên nhân được chỉ huy địa phương đưa ra là chưa tìm đượcchủ góp vốn đầu tư thích hợp. Câu hỏi ở đây được đặt ra là : Làm sao có vốn ? Làm sao để trào lưu xã hộihóa góp vốn đầu tư tăng trưởng chợ đạt tác dụng cao ? Đầu tiên nên chú trọng việc góp vốn đầu tư tăng trưởng những chợ dân số, ship hàng sảnxuất và đời sống tại chỗ của nông dân. Trong quy trình này, cần chăm sóc xây dựngcơ sở vật chất cho chợ. Đầu tư kiến thiết xây dựng chợ gắn với quy hoạch nông thôn và quyhoạch tăng trưởng thương mại trên từng địa phận đơn cử. Khuyến khích tăng số hộkinh doanh trên chợ và tăng thời hạn bán hàng hàng ngày của những hộ ”. Chúng tôi yêu cầu đơn cử như sau : Kinh tế thương mại I Page 25
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Nông Thôn






