CÁC LOẠI HÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – Tài liệu text
Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản thường dẫn đến một hệ thống lý
thuyết có ảnh hưởng đến một hoặc nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau. Tác
động của những phát kiến ấy thường vượt qua giới hạn nhận thức về một
lĩnh vực, phạm vi mà nó nghiên cứu. Chẳng hạn, những tác động của định
luật vạn vật hấp dẫn do Niutơn phát minh, “bàn tay vô hình” của kinh tế thị
trường (Ađam Smith) hay quy luật giá trị thặng dư của C. Mac ở những
mức độ khác nhau trong nhiều lĩnh vực hoạt động của con người.
Nghiên cứu cơ bản gồm hai loại: nghiên cứu cơ bản thuần túy và
nghiên cứu cơ bản định hướng.
Nghiên cứu cơ bản thuần túy là những nghiên cứu đơn thuần là nhằm
mục đích phát hiện ra bản chất, quy luật tồn tại, phát triển của sự vật hiện
tượng mà chưa bàn đến ý nghĩa ứng dụng của nghiên cứu ấy. Những nghiên
cứu cơ bản thuần túy nhằm mở rộng và nâng cao nhận thức của con người.
Nghiên cứu cơ bản định hướng là những nghiên cứu hướng tới mục
đích ứng dụng nhất định, dự kiến phạm vi và mức độ ứng dụng khi nghiên
cứu ấy thành công. Nghiên cứu cơ bản định hướng không chỉ dẫn đến những
cơ sở lý thuyết quan trọng mà còn có thể dẫn đến những ứng dụng có ý
nghĩa lớn lao trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của đời sống xã hội.
II. Nghiên cứu ứng dụng (applied research)
Nghiên cứu ứng dụng là sự vận dụng kết quả của nghiên cứu cơ bản
(những định luật, định lý, quy luật…), thường là nghiên cứu cơ bản định
hướng để tìm ra nguyên lý về các giải pháp ứng dụng trong môi trường tồn
tại của sự vật, hiện tượng hay quá trình.
Sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng có thể là giải pháp về vật liệu,
công nghệ trong khoa học kỹ thuật hay giải pháp về tổ chức, quản lý trong
khoa học xã hội.
Dù là kết quả của loại hình nghiên cứu có tên là nghiên cứu ứng dụng
nhưng kết quả của nó lại chưa ứng dụng được ngay. Để đưa kết quả nghiên
cứu ứng dụng vào sử dụng trong thực tế cần tiến hành loại hình nghiên cứu
triển khai – thực nghiệm.
III. Nghiên cứu triển khai – thực nghiệm (development reseach)
Nghiên cứu triển khai – thực nghiệm là loại hình nghiên cứu vận dụng
các quy luật (thu được từ nghiên cứu cơ bản) và các nguyên lý giải pháp (từ
nghiên cứu ứng dụng) để đưa ra những hình mẫu về một phương diện kỹ
thuật mới, sản phẩm mới, dịch vụ mới với tính khả thi cao nhất cho hoạt
động thực tiễn của con người.
Nghiên cứu triển khai – thực nghiệm bao gồm cả quá trình thiết kế thử
nghiệm và mô hình thử nghiệm và được chia thành hai loại, hai giai đoạn:
triển khai trong phòng và triển khai bán đại trà.
Triển khai trong phòng hướng vào việc áp dụng nguyên lý giải pháp
để tạo ra cho được sản phẩm trong điều kiện phòng thí nghiệm.
Triển khai bán đại trà là dạng triển khai nhằm kiểm chứng giả thuyết
về một hình mẫu trên một quy mô nhất định, xác định điều kiện cần và đủ để
mở rộng phạm vi áp dụng, triển khai đại trà.
Nghiên cứu triển khai – thực nghiệm trong khoa học xã hội đem lại ý
nghĩa lớn lao trong phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng mô hình quản lý các
phương diện xã hội một cách hiệu quả.
IV. Mối quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu và thực tiễn
Các loại hình nghiên cứu khoa học có mối quan hệ biện chứng, thống
nhất trong chỉnh thể hoạt động khoa học của mỗi ngành, mỗi quốc gia. Việc
phân chia các loại hình nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng cho định hướng và
xây dựng chính sách phát triển khoa học của mỗi ngành, mỗi quốc gia ấy.
Các loại hình nghiên cứu khoa học liên hệ với nhau theo trình tự:
nghiên cứu cơ bản – nghiên cứu ứng dụng – nghiên cứu triển khai, thực
nghiệm. Trong đó, kết quả nghiên cứu của loại hình trước là cơ sở, tiền đề,
điều kiện cho sự bắt đầu của loại hình nghiên cứu sau đó. Đồng thời, nghiên
cứu khoa học có mối quan hệ không thể tách rời với hoạt động thực tiễn bởi
suy đến cùng, mọi nghiên cứu đều hướng tới phát triển các phương diện hoạt
động thực tiễn của con người.
Mỗi đề tài khoa học, xét mục tiêu chính của nó đều thuộc một loại
hình nghiên cứu khoa học xác định. Song trong chính mỗi đề tài nghiên cứu,
sự xuất hiện của trật tự logic nội dung bao giờ cũng thể hiện đầy đủ các loại
hình nghiên cứu nêu trên ở các mức độ khác nhau. Chính đặc điểm này cho
phép chúng ta hiểu sự phân chia loại hình nghiên cứu khoa học chỉ là tương
đối.
VẤN ĐỀ ÔN TẬP
1. Phân loại tri thức khoa học.
2. Đặc điểm, vị trí và vai trò của nghiên cứu cơ bản trong sự phát triển
khoa học và đời sống xã hội.
3. Đặc điểm, vị trí và vai trò của nghiên cứu ứng dụng trong sự phát
triển khoa học và đời sống xã hội.
4. Đặc điểm, vị trí và vai trò của nghiên cứu triển khai – thực nghiệm
trong sự phát triển khoa học và xã hội.
5. Mối quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu khoa học và thực tiễn.
VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
XÂY DỰNG VÀ KIỂM CHỨNG GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
I. Vấn đề nghiên cứu
1. Khái niệm vấn đề nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu là những điều chưa biết hoặc biết chưa thấu đáo về
sự vật, hiện tượng hay quá trình, cần được làm rõ trong quá trình nghiên
cứu.
Vấn đề nghiên cứu chỉ có thể được phát hiện trong quá trình quan sát
sự kiện. Sự kiện tồn tại trong tự nhiên và đời sống xã hội. Người nghiên cứu
có thể thiết lập sự kiện để tiến hành quan sát bằng cách chọn những sự kiện
vốn tồn tại trong tự nhiên hoặc xã hội hoặc chủ động tạo ra sự kiện nhờ thực
nghiệm.
Trong nghiên cứu khoa học, quan sát có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Quan sát không chỉ nhằm phát hiện vấn đề nghiên cứu mà còn giúp nhà khoa
học xây dựng giả thuyết, kiểm chứng giả thuyết trong suốt quá trình triển
khai hoạt động nghiên cứu sau này.
2. Con đường phát hiện vấn đề nghiên cứu, hình thành ý tưởng
nghiên cứu
– Phát hiện những kẽ hở trong khoa học
Vấn đề nghiên cứu xuất hiện ở chỗ những nội dung chưa được nhận
thức và giải quyết trọn vẹn về mặt khoa học trong các tài liệu khoa học, khi
phản biện các công trình nghiên cứu của đồng nghiệp.
– Nhận dạng những bất đồng trong tranh luận khoa học
Khi tham dự các cuộc tranh luận khoa học, trong hội nghị, hội thảo
hay các buổi tọa đàm khoa học, trước những ý kiến trái chiều cùng bàn về
một vấn đề khoa học, người nghiên cứu có thể nhận dạng vấn đề khoa học
cần được giải quyết thấu đáo và sâu sắc hơn.
– Nghĩ ngược lại những quan niệm thông thường
– Nhận dạng những vướng mắc trong hoạt động thực tiễn
Những khó khăn nảy sinh trong hoạt động sản xuất, tổ chức và quản
lý xã hội không thể sử dụng biện pháp thông thường, hay biện pháp thông
thường không thể đưa lại kết quả mong muốn. Thực tế ấy đặt ra yêu cầu phải
thay đổi nhận thức và hành động.
– Sự phàn nàn của những người xung quanh
Đôi khi vấn đề nghiên cứu xuất hiện khi nhà nghiên cứu lắng nghe ý
kiến phàn nàn của những người liên quan đến sự vật, sự việc trong khi họ
thậm chí không am hiểu nhiều về lĩnh vực nhà nghiên cứu quan tâm cũng
giúp cho nhà nghiên cứu nhận dạng vấn đề cần làm rõ trên phương diện
khoa học.
Vấn đề nghiên cứu thường tồn tại dưới dạng các câu hỏi nghiên cứu.
Trong nghiên cứu khoa học thường xuất hiện hai lớp vấn đề. Một là, vấn đề
về bản thân sự vật và quy luật vận động của nó. Hai là, vấn đề về phương
pháp tác động vào sự vật hiện tượng. Giải quyết vấn đề sẽ mở ra những khả
năng mới cho hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người.
Trong khi nhận dạng vấn đề nghiên cứu, ý tưởng nghiên cứu xuất
hiện.
3. Ý tưởng nghiên cứu
Ý tưởng nghiên cứu là những phán đoán trực cảm về bản chất hay
phương pháp tác động vào sự vật, hiện tượng hay quá trình. Ý tưởng nghiên
cứu xuất hiện theo cảm nhận, chưa được tổng kết và có căn cứ đầy đủ để
nhận thức. Có thể phân biệt một số loại ý tưởng nghiên cứu:
– Ý tưởng về quy luật là những phán đoán trực cảm mô tả, giải thích
về sự vật hiện tượng, về quy luật vận động của sự vật hiện tượng. Trong lịch
Xem thêm: Trường Chinh – Wikipedia tiếng Việt
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Khoa Học






