Dân cư Thanh Hóa – Wikipedia tiếng Việt
Thanh Hóa là tỉnh có dân số lớn thứ ba của Việt Nam hiện nay. Lịch sử hình thành và phát triển của xứ Thanh gắn liền với quá trình cộng cư của người Việt với người Mường và các dân tộc khác. Đồng thời có một bộ phận không nhỏ dân cư Thanh Hóa đang sinh sống tại các đô thị lớn trong nước như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Vinh… cũng như tại một số nước trên thế giới.
Nội Dung Chính
Thống kê dân số[sửa|sửa mã nguồn]
Theo hiệu quả tìm hiểu dân số năm 2009, Thanh Hóa có 3.400.239 người, đứng thứ ba Nước Ta, chỉ sau Thành phố Hồ Chí Minh và TP. Hà Nội. Trong 10 năm từ 1999 đến 2009, quy mô dân số giảm 0,2 %, do số dân tăng tự nhiên không hề bù đắp được số người chuyển đi làm ăn, sinh sống ở các tỉnh, thành phố khác [ 1 ]Trong tổng dân số năm 2009, phái đẹp có 1.717.067 người, dân số thành thị là 354.880 người. Mật độ dân số vào loại trung bình : giảm từ 310 người / km² ( năm 1999 ) xuống 305 người / km² ( năm 2009 ). Tỉ số giới tính ( số nam trên 100 nữ ) tăng từ 95,6 % ( năm 1999 ) lên 98,0 % ( năm 2009 ), tương tự với mức chung của cả nước [ 1 ] .
Có khoảng 500.000 người dân gốc Thanh Hóa đang làm ăn, sinh sống tại miền Nam Việt Nam.[2]
Bạn đang đọc: Dân cư Thanh Hóa – Wikipedia tiếng Việt
Dân cư phân bổ theo dân tộc[sửa|sửa mã nguồn]
Thanh Hóa là tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống, nhưng hầu hết có 7 dân tộc là Kinh, Mường, Thái, Thổ, Dao, Mông, Khơ Mú. Người Kinh chiếm hầu hết dân số của tỉnh và có địa phận phân bổ rộng khắp, các dân tộc khác có dân số và địa bạn sống thu hẹp hơn, như người Khơ Mú chỉ sống đa phần ở hai bản Đoàn Kết, xã Tén Tằn và Suối Lách, xã Mường Chanh, huyện Mường Lát .
Dân tộc Kinh[sửa|sửa mã nguồn]
Dân số năm 1999 là 2.898.311 người [ 4 ]. Người Kinh sinh sống ở hầu khắp các vùng trong tỉnh. Dân tộc Kinh có vị trí quan trọng trong đời sống nói chung và việc tăng trưởng kinh tế tài chính, văn hóa truyền thống, xã hội ở tỉnh Thanh Hóa [ 5 ] .Người Kinh hay người Việt là một trong những dân tộc địa phương tại Thanh Hóa. Những thành tựu khảo cổ học cho thấy vào thời đại đồng thau, lưu vực sông Mã, sông Chu đã trở thành TT cư trú của người Việt cổ trên đất Thanh Hóa. Họ đã biến những đầm lầy hoang, cồn bãi hoang dại ven các con sông thành những vùng đất phì nhiêu và thiết kế xây dựng những xóm làng tiên phong của người Việt cổ xứ Thanh [ 5 ] .
Dân tộc Mường[sửa|sửa mã nguồn]
Dân cư Mường ở Thanh Hóa thời nay sinh sống đa phần ở vùng đồi và núi thấp, có năng lực tăng trưởng kinh tế tài chính đồi rừng. Người Mường sinh sống tập trung chuyên sâu ở các huyện Ngọc Lặc, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Bá Thước [ 5 ] …Dân tộc Mường có dân số nhiều nhất ( 328.744 người, số liệu năm 1999 [ 6 ] ) so với các dân tộc thiểu số khác ở trong tỉnh. Dân tộc Mường ở Thanh Hóa có hai nhánh : nhánh Mường Trong ( theo ý niệm của đồng bào là mường gốc ) nguồn gốc từ Mường Ống, huyện Bá Thước thời nay. Nhánh Mường Ngoài từ tỉnh Hòa Bình chuyển vào Thạch Thành. Theo các tài liệu lịch sử vẻ vang, người Mường cùng chung nguồn gốc với người Việt cổ [ 5 ] .Người Mường cũng như người Thái ở nhà sàn, quần tụ lại thành chòm bản ở chân đồi hoặc gần sông suối. Nghề chính của đồng bào là làm ruộng, rẫy. Người Mường có nền văn hóa truyền thống truyền kiếp, dân ca, dân vũ đa dạng chủng loại, phong phú nhưng chưa có chữ viết riêng, ngôn từ theo nhóm ngôn từ Việt – Mường. Các dòng họ đa phần của người Mường là : Phạm, Nguyễn Đình, Trương Công, Quách, Cao, Lê Xuân, Bùi [ 5 ] …
Dân tộc Thổ[sửa|sửa mã nguồn]
Dân tộc Thổ ở Thanh Hóa có nhiều nét gần với dân tộc Mường và dân tộc Kinh. Người Thổ chỉ có một họ duy nhất là họ Lê. Dân tộc Thổ cư trú chủ yếu ở huyện Như Xuân. Dân số năm 1999: 8.980 người[7]. Nét riêng biệt của người Thổ là bộ sắc phục của phụ nữ khá độc đáo, duyên dáng. Phương thức canh tác chủ yếu là cấy lúa nước[5].
Dân tộc Khơ Mú[sửa|sửa mã nguồn]
Dân tộc Khơ Mú sống tập trung chuyên sâu ở hai bản : Đoàn Kết, xã Tén Tằn và Suối Lách, xã Mường Chanh, huyện Mường Lát. Dân số năm 1999 là 607 người [ 8 ]. Dân tộc Khơ Mú không có chữ viết. Tiếng nói theo ngôn từ Khơ me. Nét đặc trưng của đồng bào dân tộc Khơ Mú là sống hòa thuận trong chòm, trong bản. Mối quan hệ dòng họ rất khắt khe. Tộc trưởng có quyền quyết đoán mọi chuyện. Người Khơ Mú phần nhiều chỉ quan hệ với bên ngoài về kinh tế tài chính, còn quan hệ tình cảm, văn hóa truyền thống khép kín trong dòng tộc. Từ khi có chủ trương định canh định cư, đời sống của đồng bào dân tộc Khơ Mú đã có nhiều biến hóa. Con trai, con gái đã được đi học, tiếp xúc thoáng rộng và đã lấy chồng, lấy vợ người dân tộc khác [ 5 ] .
Dân tộc Thái[sửa|sửa mã nguồn]
Lịch sử người Thái ở Thanh Hóa có quan hệ thân mật và ngặt nghèo với người Thái ở Tây Bắc và có nguồn gốc từ dòng họ Lò Khăm ( tiếng Thái Đen ). Các dòng họ hầu hết của người Thái là : Hà, Phạm, Lang, Lò, Vi, Đinh … Người Thái ở Thanh Hóa có hai nhánh là : Thái Trắng ( Táy Dọ ) và Thái Đen ( Táy Đăm ). Người Thái Trắng sống tập trung chuyên sâu ở hai huyện Thường Xuân, Như Xuân và 1 số ít bản giáp huyện Triệu Sơn. Người Thái Đen chiếm hầu hết, sống tập trung chuyên sâu ở các huyện Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, Lang Chánh [ 5 ] … Dân số 210.908 người ( tính đến 1-4-1999 [ 9 ] ) .Người Thái thường lập mường, lập bản theo sông, suối. Tục ngữ Thái có câu : ” Táy kin nậm “, nghĩa là Thái ăn theo nước. Hoặc : ” O lóc có noong, xoong hươn có bản ” nghĩa là : một vùng nước nhỏ cũng là ao, hai nhà cũng là bản. Tên bản thường đặt theo tên sông, tên suối, tên núi, tên đồi … nơi cư trú. Từ rất lâu rồi, người Thái đã biết dựa vào lợi thế tự nhiên của các thung lũng, bãi bồi ven sông để khai khẩn thành ruộng nước, nhiều thửa ruộng tập trung chuyên sâu thành cánh đồng phì nhiêu [ 5 ] .Đặc điểm của người Thái Trắng và Thái Đen về cơ bản giống nhau, chỉ khác nhau ở phục trang phụ nữ. Phụ nữ Thái Trắng có cạp váy ngắn, phần váy thêu hình con rồng. Còn về lời nói chỉ khác chút ít về phát âm, cùng chung ngữ hệ Tày – Thái. Người Thái có chữ viết riêng, ở nhà sàn ; trước đây còn có nhiều thế hệ cùng ở chung trong một nhà, nay thì phân loại thành các mái ấm gia đình theo cặp vợ chồng. Người Thái ở theo nước, bản làng phong phú đông vui [ 5 ] .
Dân tộc Mông[sửa|sửa mã nguồn]
Trước năm 1992, dân tộc Mông ở Thanh Hóa chỉ có 1 số ít ít, cư trú đa phần ở xã Pù Nhi, huyện Mường Lát [ 5 ]. Từ năm 1992 trở lại đây, người Mông từ các tỉnh Sơn La, Tỉnh Lào Cai, Yên Bái … di cư vào, dân số đã tăng lên 15.325 người ( số liệu năm 1999 [ 10 ] ). Dân tộc Mông có nhiều dòng họ, trong đó có 3 họ lớn là họ Hơ, họ Thao và họ Lầu. Hiện nay người Mông sống đa phần ở gần 20 chòm bản thuộc các xã Pù Nhi, Mường Lý, Trung Lý, Tam Chung, Quang Chiểu, huyện Mường Lát và 1 số ít chòm ở các huyện Quan Sơn và Quan Hóa [ 5 ] .Địa bàn cư trú của người Mông đều tập trung chuyên sâu ở vùng núi cao, rừng nguyên sinh và đầu nguồn sông, suối. Cuộc sống dựa vào phát nương làm rẫy. Dân tộc Mông có lời nói, chữ viết riêng, có những phong tục tập quán đặc biệt quan trọng để ràng buộc các thành viên trong hội đồng [ 5 ] .
Dân tộc Dao[sửa|sửa mã nguồn]
Dân tộc Dao ở Thanh Hóa tương truyền là từ Tuyên Quang, Phú Thọ, Quảng Ninh chuyển vào khoảng 4 đến 5 đời. Dân tộc Dao ở Thanh Hóa hiện gồm 2 nhóm là Dao Tiền (tập trung chủ yếu ở huyện Mường Lát) và Dao Quần Chẹt (tập trung chủ yếu ở một số xã của huyện Ngọc Lặc, Cẩm Thủy[5]. Tổng số dân tộc Dao là 5.077 người (số liệu năm 1999[11]).
Người Dao dùng chữ Nho để ghi chép, khi đọc phát âm theo tiếng Dao. Trình độ hiểu biết, năng lực tiếp xúc khá năng động, nhạy bén so với các dân tộc thiểu số khác. Dòng họ lớn nhất của dân tộc Dao là họ Triệu, ngoài những còn có các họ Phan, Phùng, Bàn … Nhà ở của người Dao làm theo kiểu nửa sàn, nửa đất nhưng đến nay người Dao ở vùng thấp đã dựng nhà gần giống như nhà của người Kinh [ 5 ] .Trước đây, người Dao sống du canh, du cư. Nguồn sống của bà con dân tộc Dao dựa vào nương rẫy. Từ cuộc hoạt động định canh định cư, hầu hết người Dao đã xuống núi tập trung chuyên sâu sản xuất, vừa đa canh, vừa thâm canh. Mọi chòm bản đều có trường học cho con trẻ đi học. Tuy sống xen ghép với các dân tộc đông người, nhưng người Dao vẫn giữ được nét riêng không liên quan gì đến nhau, độc lạ của dân tộc mình về văn hóa truyền thống, liên hoan và sắc phục [ 5 ] .
Dân cư phân bổ theo các đơn vị chức năng hành chính[sửa|sửa mã nguồn]
Theo tác dụng các cuộc tìm hiểu dân số, huyện Quảng Xương có số dân đông nhất tỉnh trong khi huyện miền núi Mường Lát có dân số thấp nhất. So với năm 1999, dân số của các huyện đồng bằng năm 2009 nói chung giảm đi do triển khai khá tốt kế hoạch hóa mái ấm gia đình và do di cư đến các vùng khác trong nước. Ngược lại dân số các huyện miền núi đều tăng lên .
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Nông Thôn






