Vai trò nhà nước đối với dịch vụ công trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, cải cách hành chính

Vai trò nhà nước đối với dịch vụ công trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, cải cách hành chính

Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ngay từ khi thành lập đã xác định rõ bản chất nhà nước là của dân, do dân và vì dân, luôn đặt lợi ích của dân tộc, của nhân dân lên hàng đầu. Trong các thời kỳ, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn đề cao trách nhiệm chăm lo cho đời sống mọi mặt của Nhân dân, đẩy mạnh phát triển sản xuất, y tế, giáo dục… nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Tuy nhiên, giữa mong muốn và hiện thực vẫn còn có những khoảng cách nhất định. Việt Nam vẫn là một quốc gia chậm phát triển, sự đáp ứng nhu cầu hưởng thụ dịch vụ của người dân vẫn còn rất hạn chế.
Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mở cửa hội nhập quốc tế, Việt Nam cần phải đẩy mạnh hơn nữa công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước góp phần xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Các nội dung của cải cách hành chính hướng vào xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hóa nhằm phục vụ tốt hơn các nhu cầu cơ bản, thiết yếu, bảo đảm các quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân. Trong đó, việc đổi mới vai trò, trách nhiệm của Chính phủ và bộ máy hành chính nhà nước trong quản lý và tổ chức cung ứng dịch vụ công thực sự là một nhiệm vụ quan trọng cần tập trung giải quyết.
Đại hội IX của Đảng nêu rõ: “Khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận mà vì nhu cầu và lợi ích của Nhân dân; tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức thực hiện một số dịch vụ công với sự giám sát của cộng đồng như vệ sinh môi trường, tham gia giữ gìn trật tự trị an, xóm, phường”(1). Đại hội X tiếp tục khẳng định “Đổi mới căn bản cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng”(2). Đại hội XII đã có những tư tưởng chỉ đạo cụ thể về vấn đề này: “Thực hiện cơ chế thị trường và đẩy mạnh xã hội hóa đối với cung cấp các dịch vụ công… Đối với những hàng hóa, dịch vụ công thiết yếu, bao gồm dịch vụ y tế, giáo dục mà Nhà nước đang kiểm soát giá, phải bảo đảm công khai, minh bạch các yếu tố hình thành giá; tính đúng, tính đủ chi phí và thực hiện giá thị trường theo lộ trình phù hợp. Đồng thời, hỗ trợ cho đối tượng chính sách, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số. Khuyến khích doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia cung cấp dịch vụ công, nhất là các hình thức hợp tác công – tư. Bảo đảm bình đẳng giữa đơn vị sự nghiệp công lập và ngoài công lập. Đa dạng hình thức xã hội hóa các đơn vị sự nghiệp công như: thí điểm cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp công; giao cộng đồng quản lý, cho thuê cơ sở vật chất, tài sản của Nhà nước để kinh doanh cung ứng dịch vụ công và thực hiện cơ chế đơn vị sự nghiệp công hoạt động như doanh nghiệp công ích”(3).
Thực hiện các tư tưởng chỉ đạo của Đại hội, Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập nêu rõ: “Đổi mới căn bản, toàn diện và đồng bộ hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập, bảo đảm tinh gọn, có cơ cấu hợp lý, có năng lực tự chủ, quản trị tiên tiến, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; giữ vai trò chủ đạo, then chốt trong thị trường dịch vụ sự nghiệp công; cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu có chất lượng ngày càng cao… Phát triển thị trường dịch vụ sự nghiệp công và thu hút mạnh mẽ các thành phần kinh tế tham gia phát triển dịch vụ sự nghiệp công”(4).
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 của Chính phủ đặt ra yêu cầu: “Xây dựng quan niệm đúng đắn về dịch vụ công. Nhà nước có trách nhiệm chăm lo đời sống vật chất và văn hóa của Nhân dân, nhưng không phải vì thế mà mọi công việc về dịch vụ công đều do cơ quan nhà nước trực tiếp đảm nhiệm. Trong từng lĩnh vực cần định rõ những công việc mà nhà nước phải đầu tư và trực tiếp thực hiện, những công việc cần chuyển giao cho các tổ chức xã hội đảm nhiệm”. Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước 2011 – 2020 tiếp tục khẳng định: “Cải cách và triển khai trên diện rộng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công”; “Đổi mới cơ chế hoạt động, nhất là cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công; từng bước thực hiện chính sách điều chỉnh giá dịch vụ sự nghiệp công phù hợp…”(5).
Về phương diện pháp lý, nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến dịch vụ công đã được ban hành. Luật Tổ chức Chính phủ  năm 2001, năm 2015, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, các nghị định: Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 18/4/2012 và Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, chính quyền địa phương đã quy định rõ việc quản lý dịch vụ công là một trong những chức năng chủ yếu của bộ máy hành chính nhà nước. Cùng với việc đẩy mạnh cải cách kinh tế và cải cách hành chính, Chính phủ đã có nhiều chủ trương, chính sách mới nhằm tách bạch quản lý hành chính nhà nước với hoạt động dịch vụ công, đẩy mạnh xã hội hóa, đổi mới cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công.
Như vậy, ở Việt Nam, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, cải cách hành chính, vai trò, trách nhiệm của Nhà nước đối với dịch vụ công đã được xác định rõ trong đường lối, chủ trương của Đảng cũng như trong các quy định pháp luật. Vai trò, trách nhiệm của Nhà nước đối với dịch vụ công được thể hiện như sau:
– Trực tiếp tổ chức thực hiện một số dịch vụ công.
Dịch vụ công là dịch vụ do Nhà nước chịu trách nhiệm, vì thế Nhà nước phải trực tiếp thực hiện cung ứng một số dịch vụ công thông qua các cơ quan tổ chức của mình lập ra. Chỉ có điều khi trực tiếp thực hiện việc này, Nhà nước cần phải nghiên cứu, xác định rõ các dịch vụ nào thực sự cần thiết phải trực tiếp làm, phạm vi đến đâu để tránh ôm đồm quá với khả năng cho phép nhất là về tài chính và bộ máy nhân sự.
Xu hướng chung của thế giới hiện nay là nhà nước chỉ trực tiếp thực hiện những dịch vụ công nào mà xã hội không thể làm được hoặc không muốn làm. Trong điều kiện Việt Nam, Nhà nước vừa đẩy mạnh xã hội hóa các loại dịch vụ công về giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội, đồng thời phân cấp mạnh cho các cấp chính quyền địa phương trực tiếp quản lý và thực hiện các loại dịch vụ công liên quan trực tiếp đến đời sống công dân, cộng đồng. Chính phủ, các Bộ chỉ trực tiếp thực hiện cung cấp những loại dịch vụ quan trọng, đòi hỏi chất lượng và trình độ cao. Các dịch vụ công mà xã hội có thể đảm nhận được, Nhà nước thực hiện chuyển giao, khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, tư nhân thực hiện trong sự định hướng và hỗ trợ của Nhà nước. Các dịch vụ công nào sau một thời gian, xã hội có thể hoàn toàn đảm nhiệm được và người dân có thể chấp nhận được với giá cả thị trường thì chuyển thành các dịch vụ thông thường.
– Xây dựng cơ chế chính sách chung, thống nhất, đồng thời hoàn thiện cơ chế chính sách cho mỗi loại dịch vụ công.
Được gọi chung là dịch vụ công, nhưng nó gồm nhiều loại và trong mỗi loại lại có nhiều hình thức dịch vụ cụ thể mang những tính chất riêng. Tham gia vào cung ứng các dịch vụ đó trong điều kiện xã hội hiện đại, gồm nhiều chủ thể khác nhau: nhà nước, thị trường, các tổ chức xã hội, các cá nhân… Ngay trong khu vực nhà nước cũng gồm nhiều chủ thể khác nhau: cơ quan hành chính, tổ chức đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp nhà nước. Việc cung ứng dịch vụ của các chủ thể nhằm những mục đích khác nhau. Chính vì vậy, Nhà nước phải xây dựng một hệ thống cơ chế chính sách đối với việc cung ứng dịch vụ công làm căn cứ pháp lý để tổ chức, chỉ đạo thống nhất. Đồng thời, đó cũng là cơ sở để các tổ chức xã hội và công dân có thể lựa chọn và tham gia vào việc cung ứng các dịch vụ công một cách hiệu quả.
Mặt khác, việc xây dựng, hoàn chỉnh chính sách về dịch vụ công còn là để đảm bảo sản phẩm hàng hóa dịch vụ công đến tận tay người được hưởng thụ, khắc phục sự thất thoát từ những tổ chức thực hiện dịch vụ. Trong một số lĩnh vực, cần nghiên cứu cơ chế cấp ngân sách dịch vụ thẳng cho đối tượng được hưởng dịch vụ, bỏ cơ chế cấp qua tổ chức thực hiện. Trong lĩnh vực giáo dục, đối với những nơi, những đối tượng còn bao cấp, có thể nghiên cứu thay việc cấp kinh phí đào tạo cho các trường bằng việc cấp cho học sinh để họ tự tìm học ở trường họ muốn, hoặc trong lĩnh vực y tế cũng có thể áp dụng hình thức tương tự trong việc cấp kinh phí về bảo hiểm y tế đối với các đối tượng chính sách. Những lĩnh vực khác như việc trợ giúp pháp lý cho các đối tượng theo Luật Trợ giúp pháp lý cần được thực hiện linh hoạt hơn, bên cạnh cách thức hiện hành cần bổ sung thêm cách thanh toán qua ngân hàng chuyển cho đương sự để đương sự tự lựa chọn tổ chức, cá nhân phù hợp.
Nói tóm lại, việc xây dựng cơ chế chính sách đối với dịch vụ công cần phải đảm bảo:
– Điều tiết và kiểm soát các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong việc cung ứng dịch vụ công cộng theo đúng yêu cầu: giá cả chất lượng dịch vụ, đối tượng cung ứng dịch vụ…
– Khuyến khích các thành phần kinh tế cùng tham gia vào việc cung ứng các dịch vụ công cộng, giảm gánh nặng cho bộ máy nhà nước.
– Trợ cấp trực tiếp cho người tiêu dùng: chính sách miễn giảm thuế, miễn giảm học phí, cấp học bổng, miễn giảm các khoản đóng góp khác cho từng loại đối tượng, trợ cấp qua giá bán dịch vụ…
– Không ngừng đầu tư cho dịch vụ công cả về tài chính và xây dựng hệ thống cung cấp dịch vụ.
Đối với các chủ thể xã hội ngoài nhà nước, việc cung ứng hàng hóa hay dịch vụ đều nhằm mục tiêu lợi nhuận. Thậm chí vì lợi nhuận trước mắt, lợi nhuận cá nhân mà không tính đến các hiệu quả về mặt xã hội, hiệu quả lâu dài; các vấn đề về lao động, bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên thường không được tính đến, hoặc các doanh nghiệp không đủ khả năng để xử lý. Mặt khác, do đặc điểm của các dịch vụ công nên đối với nhiều dịch vụ, người cung cấp không thu đủ tiền để trang trải các chi phí và có lợi nhuận.
Trong tình hình đó, chỉ có Nhà nước mới có đủ các điều kiện về quyền lực, nhân lực, vật lực, mới có thể thực hiện việc cung ứng hoặc điều tiết kiểm soát việc cung ứng các dịch vụ công cần thiết phục vụ cho những nhu cầu, lợi ích chung của cả cộng đồng. Nhà nước có thể huy động các nguồn thu ngân sách và có kế hoạch đầu tư cho việc tạo ra và phân phối các dịch vụ công cho xã hội. Việc huy động sự đóng góp của mỗi người dân trong thực tế là không giống nhau, tuy nhiên mức tiêu dùng dịch vụ công không phụ thuộc hoàn toàn vào mức đóng góp đó. Trong nhiều trường hợp, tất cả các cá nhân có thể tiêu dùng một lượng hàng hóa công như nhau dù họ chịu những mức đóng góp khác nhau và ngân sách nhà nước sẽ phải gánh chịu những thiếu hụt nếu có việc tiêu dùng quá mức ở các cá nhân.
Cùng với việc tăng cường đầu tư tài chính, Nhà nước cần phải thiết lập một mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ công đa dạng – bao gồm nhiều thành phần, nhiều lĩnh vực xã hội khác nhau, đủ sức đảm bảo cung cấp đầy đủ, có chất lượng, giá cả phù hợp đối với mỗi loại dịch vụ. Không thể nói tới trách nhiệm và hiệu quả của việc cung cấp dịch vụ công nếu không xây dựng được mạng lưới hệ thống cung cấp các dịch vụ này. Vì vậy, xây dựng mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ công là một nhiệm vụ quan trọng của nhà nước.
– Không ngừng cải tiến cung cấp dịch vụ công.
 Để việc cung cấp dịch vụ công đầy đủ và chất lượng không ngừng được nâng cao, Nhà nước phải không ngừng cải tiến việc cung ứng dịch vụ công ở tầm vĩ mô và cả các hoạt động cung cấp cụ thể.
Đối với tầm vĩ mô, việc cải tiến được hướng trước hết vào việc xác định rõ các loại dịch vụ công cộng nào thực sự là dịch vụ nhà nước cần phải đảm bảo cung cấp cho xã hội, mức độ can thiệp của Nhà nước trực tiếp hay gián tiếp qua việc cung cấp tài chính hay chỉ đơn giản là đề ra các tiêu chuẩn về chất lượng, giá cả; đồng thời, có sự mở rộng tham gia của các chủ thể xã hội phù hợp với yêu cầu cung cấp các dịch vụ công; tiến hành phân công, phân cấp cụ thể cho các cấp chính quyền chịu trách nhiệm cung cấp dịch vụ công cho xã hội và công dân. Để các loại hoạt động cung cấp dịch vụ công của Nhà nước có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của người dân, Nhà nước phải không ngừng có những điều chỉnh, cải cách trong lĩnh vực này.
Những nội dung cải cách hoạt động cung cấp dịch vụ công, bao gồm:
– Thúc đẩy cạnh tranh giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ;
– Đánh giá hoạt động của các tổ chức cung cấp dịch vụ công thuộc nhà nước trên kết quả đầu ra chứ không dựa trên đầu vào;
– Coi người tiêu dùng là khách hàng có quyền lựa chọn;
– Phi tập trung hóa quyền lực và áp dụng chế độ cùng quản lý;
– Thay cơ chế quan liêu bằng cơ chế thị trường;
– Làm xúc tác cho các khu vực công, tư để họ tự nguyện cùng tham gia giải quyết các vấn đề của cộng đồng…
Nếu cung cấp dịch vụ công ở tầm vĩ mô đòi hỏi phải liên tục cải cách thì đối với các hoạt động cung cấp dịch vụ cụ thể lại càng cần phải thường xuyên cải tiến. Tuy nhiên, cần phải dựa vào tính chất khác nhau của mỗi loại dịch vụ để có những cải tiến cho phù hợp. Chẳng hạn đối với dịch vụ hành chính công cần ứng dụng công nghệ điện tử, từng bước xây dựng chính phủ điện tử để cung cấp các dịch vụ cho người dân. Bằng công nghệ điện tử, khả năng cung cấp các dịch vụ cho dân chúng thông qua nhiều kênh khác nhau như điện thoại, Internet, kiot điện tử, website nối mạng… nhanh chóng, thuận tiện, công khai. Hoặc trong việc cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục phải chú ý hơn tới những đối tượng dễ bị tổn thương, có nhu cầu thật sự cần phải trợ giúp như người nghèo không nơi nương tựa, trẻ mồ côi không có người nuôi dưỡng, những người tàn tật, người ở vùng thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn lớn…
– Có các biện pháp can thiệp đa dạng phù hợp với các thành phần chủ thể tham gia cung cấp dịch vụ công.
 Tất cả các hoạt động dịch vụ cung ứng dịch vụ công nói trên dù được tiến hành dưới hình thức nào thì Nhà nước cũng là người chịu trách nhiệm trước xã hội về việc cung cấp chúng, nhằm phục vụ cho những nhu cầu thiết yếu của cả cộng đồng, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội. Để làm được điều đó, Nhà nước có nhiều cách can thiệp khác nhau.
Can thiệp, điều chỉnh bằng nguồn tài chính cấp trực tiếp cho các tổ chức hoặc thông qua các hợp đồng cung cấp theo các tỷ lệ từ 1% đến 100%, qua đó quyết định hoặc chi phối việc cung cấp các hàng hóa dịch vụ trên các mặt số lượng, chất lượng, giá cả, thời gian, đối tượng được hưởng theo những quy định của Nhà nước.
Can thiệp bằng quy định. Đây là phương thức can thiệp với chi phí thấp nhất. Theo phương thức này, Chính phủ để cho thị trường thực hiện việc cung cấp dịch vụ công, nhưng đặt ra các quy định để quản lý các dịch vụ do các chủ thể thuộc khu vực ngoài nhà nước cung cấp, chẳng hạn Nhà nước có những quy định về chất lượng và giá cả để hạn chế độc quyền hoặc quy định về an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn dược liệu, quy định về vệ sinh và ngăn chặn hỏa hoạn tại các nhà hàng, khách sạn; quy định về tài chính – kế toán; quy định về dịch vụ giáo dục và y tế… Hoặc Chính phủ cho phép các doanh nghiệp tư nhân cung ứng điện, nước… cho Nhân dân, song sử dụng những quy chế bắt buộc đối với các doanh nghiệp này, như đòi hỏi doanh nghiệp phải cung cấp điện cho những vùng xa xôi hẻo lánh, điều tiết mức giá cung cấp điện và nước.
Các đơn vị cung ứng dịch vụ công cộng với nguyên tắc phải chịu sự chi phối của Nhà nước về nhiều mặt nhằm phục vụ các mục tiêu xã hội của Nhà nước. Những can thiệp này là cần thiết, song nhiều khi sự can thiệp này lại quá mức, làm cho các đơn vị này hoạt động kém hiệu quả hoặc triệt tiêu động lực phát triển của chúng.
 – Tăng cường kiểm tra, kiểm soát
Việc Nhà nước để cho tư nhân cung ứng các dịch vụ và chỉ can thiệp gián tiếp đến các hoạt động này cũng có thể dẫn đến nảy sinh các mâu thuẫn. Khi Nhà nước ký hợp đồng với các tổ chức tư nhân cung ứng dịch vụ công cộng cũng khó có thể xác định được một cách hoàn toàn chính xác các đặc điểm và chất lượng của dịch vụ cần cung cấp. Do vậy, việc kiểm tra, kiểm soát, đảm bảo tính công bằng, đảm bảo số lượng, chất lượng cung ứng dịch vụ là hết sức cần thiết. Đây cũng là nhiệm vụ chính thuộc chức năng quản lý nhà nước.
Như vậy, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước cần có sự đổi mới vai trò, chức năng nói chung và vai trò trách nhiệm đối với dịch vụ công. Tuy nhiên, việc đổi mới này không phải là làm giảm bớt mà ngược lại, phải xác định rõ và nâng cao hơn vai trò trách nhiệm của Nhà nước trong quản lý và tổ chức cung ứng dịch vụ công cho người dân và xã hội, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của Chính phủ, các Bộ, ngành, chính quyền địa phương các cấp trong quản lý và tổ chức cung ứng từng loại dịch vụ công; thực hiện công bằng xã hội, trợ giúp người nghèo và các đối tượng chính sách, khắc phục những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường. Những đổi mới đó tựu trung lại gồm:
– Làm rõ và phân biệt quản lý nhà nước với tổ chức cung ứng dịch vụ công; xác định rõ những dịch vụ công do các cơ quan nhà nước phải trực tiếp cung ứng; đẩy mạnh phân cấp cho chính quyền địa phương các cấp. Thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý và cung ứng dịch vụ công; tăng cường vai trò của người dân trong việc giám sát đánh giá hiệu quả và chất lượng cung ứng dịch vụ công.
– Hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách quản lý và dịch vụ công trên cơ sở phân biệt rõ tổ chức và hoạt động dịch vụ công với quản lý nhà nước và quản lý sản xuất kinh doanh. Xác lập cơ chế quản lý và tổ chức cung ứng phù hợp với đặc điểm, tính chất của mỗi loại dịch vụ. Quy định rõ trách nhiệm, mục tiêu, nội dung hoạt động, chất lượng dịch vụ, đồng thời đảm bảo quyền tự chủ của các tổ chức cung ứng dịch vụ công.
– Quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống các tổ chức cung ứng dịch vụ công theo yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả của mạng lưới dịch vụ công trong cả nước, cũng như trong từng lĩnh vực, từng vùng, từng địa phương. Tổ chức mạng lưới cung ứng dịch vụ công không nhất thiết phụ thuộc vào phạm vi địa giới hành chính mà có thể theo từng khu vực, từng vùng dân cư, tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất của dịch vụ và nhu cầu người dân. Phát triển mạnh các cơ sở cung ứng dịch vụ công ngoài công lập. Đổi mới phương thức cung ứng dịch vụ công phù hợp với đặc điểm, tính chất của mỗi loại dịch vụ công, mỗi loại đối tượng thụ hưởng, mỗi khu vực, vùng lãnh thổ, đảm bảo phục vụ thuận lợi nhất cho người dân.
– Phát triển nguồn nhân lực chuyên nghiệp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công. Xây dựng các chính sách thích hợp đối với lực lượng lao động trong các lĩnh vực dịch vụ công về đào tạo, bồi dưỡng, tiền lương, phụ cấp, bảo hiểm, khen thưởng, tôn vinh nhân tài, chuyên gia… phù hợp với đặc điểm, tính chất của từng ngành nghề, từng vùng miền khác nhau.
– Đổi mới cơ chế quản lý tài chính – ngân sách đối với lĩnh vực dịch vụ công. Nhà nước đầu tư ngân sách hợp lý cho các dịch vụ công; đồng thời, thu hút mạnh mẽ các nguồn lực xã hội tham gia cung ứng dịch vụ công. Nâng cao hiệu quả đầu tư của Nhà nước và phát huy tốt nguồn lực của toàn xã hội cho hoạt động dịch vụ công. Cơ cấu lại chi tiêu ngân sách nhà nước cho các lĩnh vực dịch vụ công theo hướng tập trung đầu tư thích đáng cho việc cung ứng các dịch vụ cơ bản thiết yếu nhất; đáp ứng các mục tiêu ưu tiên các chương trình quốc gia; phục vụ người dân vùng khó khăn miền núi; hỗ trợ người nghèo, đối tượng chính sách. Thực hiện phương thức phân bổ ngân sách cho các cơ sở cung ứng dịch vụ công theo hướng chuyển cơ chế cấp phát kinh phí cho đơn vị cung ứng sang hỗ trợ kinh phí trực tiếp cho người hưởng dịch vụ; chuyển cơ chế cấp kinh phí theo đầu vào sang cấp tính phí theo đầu ra tùy thuộc số lượng và chất lượng dịch vụ.
– Xây dựng hệ thống các công cụ, cơ chế kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước và cơ chế giám sát của Nhân dân đối với hoạt động của đơn vị cung ứng dịch vụ công. Phát huy vai trò của các đoàn thể Nhân dân, tổ chức quần chúng nhất là các hội nghề nghiệp trong việc giám sát các hoạt động cung ứng dịch vụ công.
Như vậy, Việt Nam đã có bước phát triển quan trọng trong việc xây dựng một nhà nước phục vụ trong điều kiện chuyển đổi sang kinh tế thị trường. Tuy nhiên, đó mới chỉ là những thành tựu bước đầu, cần phải tiếp tục đổi mới, làm rõ hơn về vai trò, trách nhiệm của Nhà nước đối với dịch vụ công để không chỉ đảm bảo cho Nhà nước có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu và lợi ích của Nhân dân với mục tiêu “thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển” mà còn là điều kiện quan trọng để thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển và xây dựng Nhà nước ngày càng vững mạnh./.

TS. Hà Quang Ngọc, Đại học Nội vụ Hà Nội
Nguồn: lyluanchinhtri.vn