Vài nét về đời sống người Việt cổ trên đất Tuyên Quang
Vài nét về đời sống người Việt cổ trên đất Tuyên Quang
Thứ Ba, ngày 13 tháng 9 năm 2022 – 08:12
Đã xem: 3236
- A+
- A-
-
Từ những di tích khảo cổ được tìm thấy ở các địa phương trên địa bàn tỉnh, bước đầu có thể khẳng định: Tuyên Quang là vùng đất có sự hiện diện của con người ngay từ buổi bình minh hình thành. Cũng từ sự phân tích về các di vật đã tìm thấy, bức tranh sơ khai về đời sống của người Việt cổ trên đất Tuyên Quang đã dần được phác họa.
Động Tiên, xã Yên Phú, huyện Hàm Yên. Nguồn ảnh: Internet
Tháng 5-2004, Viện Khảo cổ học Việt Nam phối hợp với Bảo tàng Tuyên Quang tiến hành một cuộc điều tra khảo cổ học ở huyện Hàm Yên. Kết quả khảo sát 17 hang trên địa bàn 3 xã Bạch Xa, Yên Phú, Minh Dân đã phát hiện được một số di tích thời đại đồ đá. Trong đó, đặc biệt phải kể đến hang Đá Đen thuộc thôn 2, xã Yên Phú. Qua phân tích di vật, các nhà nghiên cứu cho rằng những di tích hóa thạch ở hang Đá Đen cách ngày nay khoảng 100.000 năm, những dấu tích xưa nhất ở hang Đá Đen cho phép khẳng định Tuyên Quang là vùng đất sinh tồn của người nguyên thủy. Khảo sát đặc điểm cư trú của cư dân nguyên thủy thời đại đá cũ ở Tuyên Quang cho thấy, nơi ở của họ thường ở gần các dòng sông (sông Lô), họ sống thành bầy mà chúng ta thường gọi là bầy người nguyên thủy. Họ sống lang thang nay đây mai đó, dựa vào các nguồn lợi có sẵn trong tự nhiên với phương thức hoạt động kiếm ăn cơ bản là săn bắt và hái lượm. Công cụ họ sử dụng là lấy đá đẽo đá. Ngoài ra, họ sử dụng công cụ bằng tre, nứa, gỗ… Trong cuộc vật lộn với thiên nhiên để mưu sinh, tập đoàn người ngày càng được củng cố chặt chẽ. Họ sống chung với nhau trong những căn lều hay trong hang động, cùng lao động chung để tìm kiếm thức ăn.
Kết thúc thời đại đá cũ, con người bước sang thời đại đá mới có niên đại cách ngày nay khoảng 17.000 năm đến 7.000 năm. Qua khai quật hàng nghìn di vật tại hang Phia Vài, hang Nà Mạ, hang Nà Đứa, địa điểm Nà Thìn thuộc xã Xuân Tân; địa điểm Bắc Giòn thuộc xã Xuân Tiến huyện Na Hang… có thể phác họa về đời sống của con người giai đoạn này như sau: phương thức kinh tế chủ đạo vẫn là săn bắt và hái lượm, tuy nhiên họ đã mở rộng săn bắt so với cư dân văn hóa đá cũ trước đó, họ biết tổ chức và phân phối sản phẩm. Cư trú trong các hang động, mái đá vôi hoặc trên những doi đất cao gần sông suối, gần rừng, cư dân giai đoạn này có điều kiện để khai thác thức ăn đa dạng và có kinh nghiệm trong việc khai thác nguồn thức ăn thủy sinh. Một đặc biệt nổi bật và thể hiện bước tiến lớn trong lịch sử là con người giai đoạn này đã biết nướng chín thức ăn và chế tác công cụ sản xuất. Từ việc biết dùng lửa và chế tác công cụ trong sản xuất đã tác động lớn đến việc tổ chức xã hội của con người trong giai đoạn này. Tại di chỉ Phia Vài, các nhà khảo cổ đã tìm thấy một vài bếp lửa, như vậy trong cùng một hang động, cùng một thị tộc đã có nhiều gia đình nhỏ, sinh hoạt riêng theo từng bếp lửa riêng nhưng vẫn nằm trong phạm vi huyết tộc của gia đình lớn. Trải qua quá trình lâu dài phát triển kinh tế và biến đổi đời sống xã hội, cư dân cũng có những biến đổi về hình thái ý thức, mà qua nghiên cứu có thể suy đoán rằng con người giai đoạn này đã có ý thức tìm cách giải thích những hiện tượng bí ẩn của thiên nhiên, có khái niệm về thế giới bên kia, về cuộc sống và cái chết rõ ràng hơn cư dân thời đại đá cũ. Trong bối cảnh đó, những nghi lễ tín ngưỡng sơ khai đã ra đời, thể hiện rõ trong việc chôn cất người chết. Những chủ nhân của văn hóa thời kỳ này không muốn xa rời người thân của mình, vì vậy họ thường chôn người chết trong nơi cư trú. Họ chôn theo người chết những công cụ và những đồ quý giá nhất theo đánh giá của họ. Việc khâm niệm 2 con ốc biển vào hốc mắt của người phụ nữ Phia Vài không nằm ngoài ý niệm đó.
Cách ngày nay khoảng 4.000 – 5.000 năm, người Việt cổ trên đất Tuyên Quang bước vào giai đoạn hậu kỳ đá mới, các di vật khảo cổ của giai đoạn này tìm thấy ở khắp các địa bàn trong tỉnh, từ những vùng núi đá (Na Hang, Chiêm Hóa, Hàm Yên) đến những địa bàn vùng thấp (Sơn Dương, Yên Sơn). Qua nghiên cứu các di vật cho thấy, nếu như ở giai đoạn sơ kỳ đá mới, cư dân cổ Tuyên Quang chủ yếu cư trú trong hang động, thì bước vào giai đoạn hậu kỳ đá mới, họ đã vươn ra cư trú ngoài trời, mà vết tích văn hóa ở giai đoạn này còn thấy dọc đôi bờ sông Lô, sông Gâm, sông Phó Đáy. Những dấu hiệu đặc trưng để nhận biết văn hóa của giai đoạn này chính là những công cụ lao động bằng đá được mài nhẵn toàn thân mà các nhà khảo cổ thường gọi là cuốc đá, rìu có vai, rìu tứ giác. Cùng với cuốc, rìu, bôn đá mài toàn thân là những đục đá, vòng trang sức bằng đá và đặc biệt là đồ gốm. Cư trú trên địa bàn vừa có rừng, vừa có sông cùng với dải đất bằng ven sông, nền kinh tế của người hậu kỳ đá mới mang tính chất hỗn hợp. Họ vẫn duy trì kinh tế khai thác, các hoạt động săn bắn, hái lượm đã đem lại nguồn thức ăn thường xuyên cho cộng đồng. Sông Lô và sông Gâm cùng các nhánh suối lớn nhỏ của chúng là nguồn dự trữ thức ăn thủy sản dồi dào. Những chì lưới bằng đá tìm thấy ở Vĩnh Lộc (Chiêm Hóa) là những bằng chứng về hoạt động đánh bắt cá trên sông, trên suối đã phát triển. Điều nổi bật là, đến giai đoạn này, con người không dựa vào kinh tế khai thác tự nhiên như một hoạt động duy nhất nữa, mà họ đã có nền kinh tế sản xuất. Trong những di vật thuộc thời kỳ này, đáng chú ý là bộ nông cụ bằng đá như cuốc có vai và không vai, xẻng (mai đá), các loại rìu và bôn có vai, rìu và bôn tứ giác làm từ các loại đá cứng, hình dáng ổn định, được chế tác tinh xảo, cùng với những công cụ bằng tre, gỗ ở đây đã tham gia vào nền kinh tế sản xuất. Kinh tế sản xuất của cư dân hậu kỳ đá mới ở Tuyên Quang có thể được xem là nền kinh tế nông nghiệp thung lũng trước núi và ven sông, suối. Cùng với các công cụ sản xuất khác như lưỡi bôn, lưỡi rìu đá, cư dân cổ Tuyên Quang thời đại hậu kỳ đá mới đã phát nương làm rẫy, canh tác nông nghiệp, trồng rau màu và cây ăn quả, cây lấy củ. Không loại trừ khả năng họ đã biết đến trồng lúa, kể cả lúa nước và lúa nương. Những thung lũng ven sông, ven suối là những mảnh đất màu mỡ, rất thuận lợi cho nông nghiệp nương rẫy.
Những đồ gốm tìm thấy ở nhiều nơi, chứng tỏ cư dân ở đây đã có cuộc sống ổn định, có nền kinh tế đảm bảo. Do sự phát triển của kinh tế sản xuất và định cư làm nông nghiệp nên mật độ dân số tập trung cao hơn, nhất là dọc các triền sông lớn. Tại đây, các cư dân cổ cư trú khá tập trung, cư trú theo từng cụm giống như các làng bản sơ khai. Khảo sát bộ sưu tập đồ đá Hồng Lạc, một vùng đất ven sông Lô, có thể cảm nhận được sự ổn định rất cao của một số loại cuốc, rìu, bôn đá ở khu vực này. Qua đó, thấy bóng dáng của những vùng dân cư khá tập trung quanh khu vực Hồng Lạc. Con người không còn chủ yếu sống trong các hang động nữa, mà đã làm nhà dù chưa có tư liệu nào để hình dung ngôi nhà của họ ở ven sông, suối, các thung lũng, ven đồi, gần các hang động. Một số nơi, người ta vẫn sống dựa vào hang động như ở Phia Muồn, Thẳm Vài. Ở giai đoạn phát triển, các tổ chức làng bản ở đây rõ ràng là một cấu trúc xã hội dựa trên nền tảng kinh tế đã phát triển và là tổ chức xã hội với mục đích hoạt động kinh tế.
Tại các xóm làng cổ xưa ấy, con người có thể tổ chức tốt hơn các hoạt động kinh tế và xã hội của mình. Các di tích, di vật thuộc thời kỳ này ở Tuyên Quang cho thấy, cư dân cổ ở đây đã có sự phân công lao động mang tính chuyên nghiệp giữa nghề thủ công chế tác đá và làm gốm. Sự phân công lao động ấy được dựa vào nền kinh tế sản xuất nông nghiệp tương đối phát triển và ổn định.
Người cổ Tuyên Quang thời này có đời sống tinh thần khá phong phú. Táng thức của họ có sự đổi thay so với trước, xuất hiện mộ chôn có kè đá xung quanh. Trong mộ có chôn kèm theo công cụ lao động và cả đồ trang sức bằng đá. Đã có dấu hiệu của sự phân biệt thân phận xã hội giữa những người chết. Ở ngôi mộ Phia Muồn, chôn theo người chết là một nồi gốm to và hơn 10 di vật đồ đá khác; trong khi ở các ngôi mộ khác, đồ tùy táng chôn theo khá nghèo nàn, chỉ là một hoặc hai di vật đá, thậm chí chỉ là mảnh tước đá, hoặc mảnh gốm nhỏ.
Cùng với phát triển về sản xuất, cư dân cổ nơi đây có quan hệ giao lưu rộng mở với nhiều vùng, nhiều bộ lạc, kể cả trung du, đồng bằng và ven biển. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy những chiếc rìu đá tứ giác ở Tuyên Quang giống như rìu trong văn hóa Phùng Nguyên, những con dao đá và bàn đập khắc rãnh ô vuông ở Tuyên Quang giống di vật đồng loại ở Hà Giang. Sự hiện diện của vỏ ốc biển ở Phia Muồn, của chiếc xẻng đá ở Na Hang và hàng loạt chiếc rìu, bôn có vai, có nấc kiểu Hạ Long cho thấy mối quan hệ của cư dân cổ Tuyên Quang vươn rất xa: Lên phía Bắc với cư dân Nam Trung Quốc và về miền biển phía đông với các cư dân văn hóa Hạ Long.
Trong các ngả đường giao lưu đó, vai trò của sông Lô, sông Gâm, sông Phó Đáy,… là hết sức to lớn. Có thể nói đó là những dòng sông kết nối văn hóa. Vào thời kỳ này, sự đi lại ngược xuôi trên các dòng sông đã khá nhộn nhịp. Người ta trao đổi những sản vật của tự nhiên do săn bắt được, những sản phẩm làm ra từ kinh tế sản xuất, chúng trở thành vật phẩm để trao đổi. Chính nhờ vào các dòng sông đó mà Tuyên Quang dù là vùng đất cao, dù xa các trung tâm văn hóa đồng bằng đương thời, nhưng sớm có điều kiện tiếp cận và đẩy nhanh hơn quá trình phát triển văn hóa của mình. Sự phát triển kinh tế – xã hội đã làm cho cộng đồng các bộ lạc ở đây mạnh lên. Đó chính là tiền đề quan trọng để họ cùng cư dân đương thời ở các vùng xung quanh, đóng góp vào sự hòa hợp và thống nhất văn hóa dân tộc thời các Vua Hùng sau này.
Nguyễn Văn Đức
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiền và sơ sử Tuyên Quang, Nxb khoa học xã hội, năm 2009.