Tranh Đám cưới chuột – tác phẩm nghệ thuật nóng hổi tính thời sự

Làng Đông Hồ (đôi khi dân địa phương chỉ gọi là làng Hồ) nằm trên bờ Nam sông Đuống, cạnh bến đò Hồ, nay là cầu Hồ.

Quanh năm rất nhiều khách du lịch trong ngoài nước đến làng tranh Đông Hồ thăm và mua tranh Đông Hồ làm kỷ niệm. Một số khách sạn, nhà hàng từ Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh cũng về đây đặt những bức tranh khổ lớn để trang trí cho các phòng khách, hoặc phòng ăn lớn.

Tranh Đông Hồ khá gần gũi với đại đa số dân chúng Việt Nam, từ xa xưa mỗi khi Tết đến, xuân về không nhà nào là không có ít nhất một bức tranh Đông Hồ, hình ảnh của nó đã đi vào thơ, văn trong chương trình giáo dục phổ thông, nổi tiếng với bài Bên kia sông Đuống của Nhà thơ Hoàng Cầm:

“Bên kia sông Đuống

Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”

Những bức tranh nổi tiếng và được nhiều người biết đến như tranh: Đàn Lợn, Chuột rước đèn, Thầy đồ cóc hay là Ếch đi học, Đại cát (việc tốt lành hay là may mắn lớn), bản in bằng khuôn gỗ khắc; Tranh Lý Ngư vọng nguyệt (cá chép trông trăng) ý nói người học trò mong mỏi học tập rồi thi đỗ ví như “cá vượt vũ môn” hóa thành rồng, Hái dừa hay là Hứng dừa; Tranh Mục đồng thổi sáo, Mục đồng học bài.

Tranh Đám cưới chuột.

Tranh Đám cưới chuột.

Một trong những bức tranh nổi tiếng nhất của dòng tranh dân gian này chính là bức tranh Đám cưới chuột. Đứng đầu trong 12 con giáp, chuột là linh vật tượng trưng cho người Tuổi Tý. Chuột trong văn hóa dân gian gắn liền với sự nhanh nhẹn, thông minh. Theo phong thủy, chuột tượng trưng cho sự sung túc, thịnh vượng. Trong văn hóa Việt Nam, chuột tồn tại sóng đôi với nghề nông nghiệp lúa nước. Có lịch sử khoảng 500 năm tuổi, bức tranh Đám cưới chuột mang nội dung vừa hài hước, vừa châm biếm sâu xa.

Bức tranh hài hước ở chỗ, làm sao lại có con chuột đi rước dâu, lấy vợ? Người nghệ nhân dân gian dã thổi hồn vào bức tranh, nhân hóa loài chuột để chúng mang dáng dấp con người, cũng biết làm đám cưới, lấy vợ. Châm biếm ở chỗ, chú rể chuột kia muốn đón dâu lại phải mang chim, mang cá cống cho mèo.

Con mèo trong bức tranh đại diện cho tầng lớp thống trị, bóc lột trong xã hội xưa. Những chú chuột là hình ảnh ẩn dụ cho người nông dân lam lũ, thật thà, chất phác. Bức tranh không có chú thích gì. Nhưng bất cứ ai nhìn thấy cũng nhận ra sự ẩn dụ tinh tế của người nghệ nhân dân gian. Loài chuột vốn ranh ma, tinh quái, đa nghi, luôn cảnh giác với loài mèo – kẻ thù không đội trời chung, lại hóm hỉnh châm biếm mèo tham của hối lộ. Chính vì thế, bức tranh Đám cưới chuột ra đời nhằm châm biếm, đả kích sâu sắc chế độ phong kiến bất công, cổ hủ, thối nát, luôn chèn ép những người nông dân hiền lành “một nắng hai sương”.

Bức tranh gồm 12 con chuột và 1 con mèo. Ngoài chủ đạo là chuột và mèo thì bức tranh còn có 1 con chim, 1 con cá và 1 con ngựa. Bức tranh được chia làm hai phần. Tầng trên là cảnh chuột dâng lễ cho mèo. Con mèo được vẽ ở góc tầng trên phía tay mặt, rất to, oai vệ đang đưa tay ra nhận lễ vật. Với 4 con chuột, con đi đầu hai tay dâng lên một con chim. Cong người, đuôi gập lại trông vẻ sợ sệt. Con thứ hai xách một con cá đang tiến theo sau. Mắt nhìn con mèo vẻ khép nép sợ sệt không kém gì con đầu. Hai con đi cuối thổi kèn nhưng ở tư thế đề phòng bất trắc, khi có chuyện là “vọt” nhanh.

Tầng dưới là cảnh đón dâu với 8 con chuột. Dẫn đầu là con chuột đực, đầu đội mũ cánh chuồn. Mình mặc áo thụng xanh, chân đi hia. Ngồi trên lưng con ngựa hồng, quay nhìn về sau vẻ mặt vênh lên tự đắc. Bởi vì đỗ tiến sĩ vinh quy lại cưới được vợ đẹp.

Theo hầu phía sau là một con chuột đen cầm lọng. Và một con chuột nửa đen nửa trắng cầm biển đề hai chữ “nghinh hôn”. Con cầm lọng vẻ nghiêm trang, con cầm biển thì tinh nghịch luôn quay đầu trở lại nhìn kiệu cô dâu.

Bốn con chuột khác thì khiêng kiệu, hai con đi trước nhìn thẳng về phía trước. Hai con đi sau thì quay nhìn lại phía sau. Cô dâu chuột ngồi trong kiệu cũng vấn khăn, mặc áo gấm xanh. Nhìn chồng đang cưỡi ngựa đi phía trước vẻ tự hào mãn nguyện.

Điểm đặc biệt của bố cục bức tranh Đám cưới chuột của làng tranh Đông Hồ đó là bố cục tranh theo tuyến tính tròn (hoặc tuyến tính hình chữ U nằm ngang). Nó vừa như một câu chuyện kể có tính nối tiếp (từ chỗ đám chuột đi cống mèo đến đi đón dâu), vừa thể hiện một vòng tuần hoàn của lẽ sống. Theo họa sĩ Lê Quốc Việt, tác giả cuốn sách Nghệ thuật Đồ họa cổ Việt Nam, tuyến tính chữ U này là một vòng tròn khép kín, một tuyến tính rất thanh bình yên ả, rất ngay ngắn và quy củ. Vòng tròn hoàn mỹ đó đã góp phần nói lên nội dung tư tưởng của bức tranh.

Nói về không gian xoay vòng này, họa sĩ, nhà phê bình Phan Cẩm Thượng, đồng tác giả cuốn sách Nghệ thuật Đồ họa cổ Việt Nam cho biết: “Tranh dân gian Việt Nam nói chung đều sử dụng không gian hai chiều, tức là không có chiều sâu thứ ba. Có hai loại không gian được áp dụng là thấu thị phi điểu (tức là nhìn như con chim bay trên trời nhìn xuống đất). Loại thứ hai là thấu thị tẩu mã (tức là nhìn như ngồi trên lưng ngựa mà thấy cảnh vật dàn trải sau lưng). Bức tranh Đám cưới chuột dùng lối không gian dàn trải thứ hai này”.

Theo nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam cho biết: Bố cục tranh Đông Hồ chặt chẽ đến mức ông từng thử bỏ một vài chi tiết nhằm tạo sự mới mẻ cho tranh nhưng người xem vẫn yêu thích các bức nguyên bản hơn.

Với hai tuyến nhân vật là chuột và mèo cùng đợc xây dựng chung trong một bức tranh, tùy từng góc nhìn mà ý nghĩa tranh Đám cưới chuột Đông Hồ có thể được hiểu dưới 3 góc độ như:

Bức tranh Đám cưới chuột sử dụng màu sắc chủ đạo như đỏ, xanh, vàng, hiện lên khung cảnh đám cưới rực rỡ, nhộn nhịp. Mặt khác với nhân vật mèo, dù chuột có thể là kẻ thù “không đội trời chung” của nó, song mèo vẫn tỏ vẻ hài lòng, tán đồng ngày lễ lớn của đôi vợ chồng trẻ.

Qua tranh, ở phía tích cực bạn có thể nhận thấy một phần bản sắc văn hóa Việt Nam thời xưa. Ứng với các hình ảnh tượng hình, tượng thanh như ô, lọng, khèn, đoàn rước dâu kéo dài… Tranh Đám cưới chuột khiến người ta nhớ lại những ngày tháng khi đám cưới không còn chỉ là việc riêng của một cá nhân, một gia đình mà nó còn là công việc trọng đại của một xóm làng, một xã hội thu nhỏ.

Ngoài phản ánh nét văn hóa dân tộc thì sự cộng sinh cùng nhau phát triển cũng là một trong những ý nghĩ lớn mà tranh Đông Hồ Đám cưới chuột hướng tới. Theo GS. Ngô Đức Thịnh, thuộc Viện Nghiên Cứu văn hóa thì hình ảnh chuột mang lễ vật đến dâng tặng cho mèo còn có ý nghĩa: Tôi muốn tồn tại thì anh cũng cần phải tồn tại và tôi hạnh phúc thì anh cũng phải được hưởng niềm vui ấy. Đây như một bản thỏa thuận ngầm về sự sinh sôi giữa hai mặt đối lập, mà ở đó đích đến cuối cùng của nó đều là sự cam kết cùng nhau tồn tại, cùng nhau phát triển.

Tư duy rộng hơn thì đó âu có lẽ cũng chính là bản tính dĩ hòa vi quý của người Việt, một dân tộc có những con người mềm dẻo, dễ thích ứng với xã hội, ưa chuộng lối sống hòa bình, hợp tác để cùng nhau đi lên.

Ngoài mặt tích cực của tranh, thì chiều ngược lại, bạn sẽ thấy bức họa chính là lời châm biếm sâu sắc. Đến chế độ phong kiến tàn ác, lạc hậu.Cụ thể, mèo được xây dựng với hình tượng béo tốt, mặt nghiêm nghị tỏ vẻ như khó chịu, song tay vẫn chìa ra để nhận hối lộ. Còn nhân vật chuột bé nhỏ vừa phải kèn trống đi cống nạp, vừa phải khép nép dò xét tình hình để ứng biến linh hoạt.

***

Ra đời từ hơn 500 năm trước, nhưng Đám cưới chuột vẫn là một trong những tác phẩm nghệ thuật nóng hổi tính thời sự.