TỔNG-ĐỀ-2021 – njnujiuj – ĐỀ 1 Câu 10: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu phía dưới: Trung – Studocu

ĐỀ 1

Câu 10: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu phía dưới:

Trung thực thường là một trong những tiêu chí hàng đầu để các nhà tuyển dụng đánh giá,
lựa chọn ứng viên. Có một định nghĩa rất thú vị về trung thực do Tổ chức Giáo dục giá trị
sống toàn cầu giới thiệu “Trung thực là sự thống nhất trong suy nghĩ, lời nói và hành động”.

Trong giao tiếp, suy nghĩ bên trong của chúng ta không chỉ thể hiện qua lời nói mà còn
“xuất hiện” qua cử chỉ, nét mặt, âm giọng, tư thế ngồi,… Thông thường ngôn ngữ cơ thể
không biết nói dối! Vì thế, nhà tuyển dụng không chỉ lắng nghe những điều bạn nói mà còn
qua sát để “đọc” tính trung thực của lời nói qua thứ “ngôn ngữ không lời” mà bạn thể hiện.

(Trích Nói thật bằng lời và không lời , Theo Tuoitreonline, Bài tập Ngữ văn 11, Tập một, NXB
Giáo dục Việt Nam, 2012, tr. 122)
a) Đoạn trích thuộc phong cách ngôn ngữ nào?
b) Hãy chỉ ra những biểu hiện của “ngôn ngữ không lời” trong đoạn trích này.
c) Tại sao tác giả cho rằng: “Nhà tuyển dụng không chỉ lắng nghe những điều bạn nói mà
còn quan sát để “đọc” tình trung thực của lời nói qua thứ “ngôn ngữ không lời” mà bạn
thể hiện”?
d) Hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng ½ trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về
ý kiến: “Trung thực là sự thống nhất trong suy nghĩ, lời nói và hành động”
I. Làm văn:

Câu 1 : Viết đoạn văn Nghị luận khoảng 200 từ trình bày suy nghĩ của anh/ chị về đức tính
trung thực

Câu 2 : Phân tích bức tranh tứ bình được thể hiện trong đoạn thơ sau
Mình về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi Giang
Ve kêu rừng phách độ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

ĐỀ 2

I. Đọc hiểu:

Câu 1: Đọc đoạn trích sau và trả thực hiện câu hỏi phia dưới:

(1) Văn hóa ứng xử từ lâu đã trở thành chuẩn mực trong việc đánh giá nhân cách con
người. Cảm ơn là một trong các biểu hiện của ứng xử có văn hóa. Ở ta, từ cảm ơn được nghe
rất nhiều trong các cuộc họp: cảm ơn sự có mặt của quý vị đại biểu, cảm ơn sự chú ý của mọi
người… Nhưng đó chỉ là những lời khô cứng, ít cảm xúc. Chỉ có lời cảm ơn chân thành, xuất
phát từ đáy lòng, từ sự tôn trọng nhau bất kể trên dưới mới thực sự là điều cần có cho một xã
hội văn minh. Người ta có thể cảm ơn vì những chuyện rất nhỏ như được nhường vào cửa
trước, được chỉ đường khi hỏi… Ấy là chưa kể đến những chuyện lớn lao như cảm ơn người
đã cứu mạng mình, người đã chìa tay giúp đỡ mình trong cơn hoạn nạn … Những lúc đó, lời
cảm ơn còn có nghĩa là đội ơn.

(2) Còn một từ nữa cũng thông dụng không kém ở các xứ sở văn minh là “Xin lỗi”. Ở những
nơi công cộng, người ta hết sức tránh chen lấn, va chạm nhau. Nếu có ai đó vô ý khẽ chạm
vào người khác, lập tức từ xin lỗi được bật ra hết sức tự nhiên. Từ xin lỗi còn được dùng cả
khi không có lỗi. Xin lỗi khi xin phép nhường đường, xin lỗi trước khi dừng ai đó lại hỏi
đường hay nhờ bấm hộ một kiểu ảnh. Tóm lại, khi biết mình có thể làm phiền đến người khác
dù rất nhỏ, người ta cũng đều xin lỗi. Hiển nhiên, xin lỗi còn được thốt ra trong những lúc
người nói cảm thấy mình thực sự có lỗi. Từ xin lỗi ở đây đi kèm với một tâm trạng hối lỗi,
mong được tha thứ hơn là một cử chỉ văn minh thông thường. Đôi khi, lời xin lỗi được nói ra
đúng nơi, đúng lúc còn có thể xóa bỏ biết bao mặc cảm, thù hận, đau khổ… Người có lỗi mà
không biết nhận lỗi là có lỗi lớn nhất. Xem ra sức mạnh của từ xin lỗi còn lớn hơn cảm ơn.

(3) Nếu toa thuốc cảm ơn có thể trị bệnh khiếm nhã, vô ơn, ích kỷ thì toa thuốc xin lỗi có
thể trị được bệnh tự cao tự đại, coi thường người khác. Vì thế, hãy để cảm ơn và xin lỗi trở
thành hai từ thông dụng trong ngôn ngữ hàng ngày của chúng ta.

(Bài viết tham khảo)
a) Hãy ghi lại câu văn nêu khái quát chủ đề của đoạn trích trên.
b) Trong đoạn (1), tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào?
c) Hãy giải thích vì sao tác giả lại cho rằng “toa thuốc xin lỗi có thể trị được bệnh tự cao tự
đại, coi thường người khác”?
d) Anh/chị hãy nêu ít nhất 02 ý nghĩa của việc cảm ơn và xin lỗi theo quan điểm riêng của
mình. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng.

(Cuộc sống không giới hạn, Nick Vujicic, chương VII, trang 236)

Câu 1. Trong văn bản, tác giả đưa ra quan niệm như thế nào về cuộc sống?

Câu 2. Anh/ chị hiểu nghĩa của từ “ vấp ngã”được nói đến trong văn bản là gì?

Câu 3. Tại sao: Chỉ có những người không bao giờ đứng dậy sau vấp ngã mới là người thực
sự thất bại?

Câu 4. Anh/ chị có đồng ý với quan điểm của Winston Churchill: Sự thành công là khả năng
đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không đánh mất nhiệt huyết và quyết tâm vươn lên. Vì
sao?

PHẦN II: LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1. (2,0 đim)

Anh/chị hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ bàn về ý nghĩa của việc đứng dậy sau vấp ngã đối
với tuổi trẻ trong cuộc sống được gợi ở phần Đọc hiểu.

Câu 2: Cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ đang yêu trong đoạn thơ sau của
bài thơ Sóng- Xuân Quỳnh

Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ

Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?

Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau

ĐỀ 4

I. ĐỌC HIỂU: (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích dưới đây:

Trong đời sống, sự tự tin không chỉ thể hiện bản thân mỗi người khi giao tiếp, nó còn
phản ánh cách chúng ta ứng xử trong cuộc sống, công việc, trong giao tiếp với người khác,
trong sức mạnh mà chúng ta theo đuổi mục tiêu và giấc mơ của mình.

Trong giao tiếp, dù ở ngôn ngữ nào, sự tự tin là nền tảng và chất xúc tác cho toàn bộ
quá trình chúng ta giao tiếp với người khác.

Sự tự tin không chỉ khiến bạn suy nghĩ lạc quan, tích cực và nhìn nhận được những
mặt tốt đẹp của một sự việc. Thái độ này còn tạo nên phong thái và khí chất của bạn. Trang
Huffington Post khẳng định: “Nếu tự tin, bạn sẽ có nhiều cơ hội thành công khi phỏng vấn
xin việc hay tìm kiếm việc làm mơ ước. Bên cạnh đó, người tự tin cũng được nhìn nhận là đẹp
hơn, cuốn hút hơn”.

Chính thái độ và phong thái toát ra từ sự tự tin làm lu mờ những khiếm khuyết bên
ngoài và biến họ (những người tự tin) trở nên đặc biệt trong mắt người khác- trang Bon Vita
(một trang viết về phong cách sống) cũng khẳng định.

Trang Psychologist phân tích, sự thiếu tự tin ấy không phải do bạn thiếu năng lực, mà
do bạn chưa nhìn nhận đúng về bản thân mình, chưa có niềm tin vào khả năng của mình.

( Khi tự tin, bạn quyền lực và hấp dẫn hơn , kenh14, 13/3/2018)

Thực hiện các yêu cầu :

Câu 1. Theo tác giả, thái độ và phong thái toát ra từ sự tự tin có giá trị gì?

Câu 2. Theo anh/chị, tự tin khác tự cao như thế nào?

Câu 3. Chỉ ra một số biểu hiện khác của tự tin trong cuộc sống?

Câu 4. Anh/chị có đồng ý với ý kiến: “ Nếu tự tin, bạn sẽ có nhiều cơ hội thành công ”? Vì
sao?

II. LÀM VĂN: (7,0 điểm)

Câu 1: (2,0 điểm)

Từ nội dung đoạn trích ở phần đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200
chữ) về ý nghĩa của sự tự tin.

Câu 2: cảm nhận đoạn thơ sau:

Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức

Dẫu xuôi về phương bắc
Dẫu ngược về phương nam

Câu 1: (2,0 điểm)

Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, hãy viết đoạn văn (không quá 200 chữ) về quan niệm
của anh/chị về hạnh phúc

Câu 2: Cảm nhận đoạn thơ sau:

Ở ngoài kia đại dương
Trăm nghìn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở

Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa

Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ

ĐỀ 6

I. ĐỌC HIỂU (3 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu :

Mới đây, các giáo sư tâm lý học ở trường Đại học York và Toronto (Canada) đã tìm ra
những bằng chứng để chứng minh rằng: Đọc sách văn học thực sự giúp con người trở nên
thông minh và tốt tính hơn.

Những nghiên cứu của các giáo sư đã cho thấy những người thường xuyên đọc sách văn
học thường có khả năng thấu hiểu, cảm thông và nhìn nhận sự việc từ nhiều góc độ. Ngược lại,
những cá nhân có khả năng thấu cảm tốt cũng thường lựa chọn sách văn học để đọc.

Sau khi đã tìm thấy mối liên hệ hai chiều ở đối tượng độc giả là người lớn, các nhà
nghiên cứu tiếp tục tiến hành với trẻ nhỏ và nhận thấy những điều thú vị, rằng những trẻ em
được đọc nhiều sách truyện thường có cách ứng xử ôn hòa, thân thiện hơn, thậm chí trở
thành đứa trẻ được yêu mến nhiều nhất trong nhóm bạn.

Đọc một “nội dung sâu sắc” khác với cách đọc “mì ăn liền” của chúng ta khi lướt qua
các trang mạng. Hiện tại, việc thực sự đọc, chìm lắng vào một nội dung văn học là việc ngày
càng hiếm thấy trong đời sống đương đại.

Theo các nhà tâm lý học, việc chú tâm đọc một nội dung sâu sắc có tầm quan trọng
đối với mỗi cá nhân giống như việc người ta cần bảo tồn những công trình lịch sử hay những

tác phẩm nghệ thuật quý giá. Việc thiếu đi thói quen đọc nghiêm túc sẽ gây ảnh hưởng tới sự
phát triển trí tuệ và cảm xúc của những thế hệ “sống trên mạng”.

Câu 1. Nghiên cứu của giáo sư đã chỉ ra cho người đọc thấy đọc sách văn học có tác dụng gì?

Câu 2. Anh (chị) hiểu như thế nào về cách đọc “ mì ăn liền ”?

Câu 3. Vì sao có thể nói: Việc thiếu đi thói quen đọc nghiêm túc gây ảnh hưởng tới sự phát triển
trí tuệ và cảm xúc của những thế hệ “sống trên mạng”.

Câu 4. Thông điệp sâu sắc nhất anh chị rút ra cho bản thân từ đoạn trích trên?

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Từ nội dung đọc hiểu anh/chị viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ
về ý nghĩa của việc đọc sách văn học trong đời sống.

Câu 2 : Cảm nhận hình tượng sóng trong bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh

ĐỀ 7

I. ĐỌC – HIỂU (3,

điểm)
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:

Sự quý giá của thời gian không phải là để giúp chúng ta có thể làm được những điều này,

điều nọ,… Có quá nhiều những điều này nọ như thế đủ để cho chúng ta quay cuồng trong

suốt một đời, nhưng cuối cùng rồi chúng ta sẽ không mang theo được gì cả! Vấn đề là chúng

ta phải biết sống như thế nào để xứng đáng với giá trị thời gian ấy. Chúng ta lao động như

một phương tiện để nuôi sống, nhưng bản thân sự lao động sáng tạo cũng chính là cuộc sống

của chúng ta. Ngược lại, những giá trị vật chất được tạo ra luôn có những giới hạn tạm bợ

của nó, và rõ ràng không thể là mục đích cuối cùng để chúng ta nhắm đến. Những giá trị vật

chất ấy có thể giúp cho ta có cuộc sống thoải mái hơn, nhưng nếu chúng ta chỉ hoàn toàn phụ

thuộc vào chúng, chúng ta sẽ phải trả giá đắt. Nghệ thuật sống chân chính là ý thức được giá

trị quý báu của đời sống trong từng khoảnh khắc tươi đẹp của cuộc đời.

a. Thời gian cần phải được trân trọng trong từng khoảnh khắc. Khi chúng ta ý thức

được rằng giá trị của cuộc sống nằm ở chỗ là chúng ta đang sống, chúng ta sẽ thấy tất cả

những điều khác đều trở nên nhỏ nhặt, vụn vặt không đáng kể. Đời sống của ta quý giá, và

đời sống của mọi người quanh ta cũng quý giá không thể lấy gì đánh đổi được.

(Nguyễn Tuân – Người lái đò Sông Đà , Ngữ văn 12, Tập 1).

Cảm nhận của anh, chị về vẻ đẹp của dòng Sông Đà trong đoạn văn trên, từ đó nhận xét về cái
tôi tài hoa, uyên bác của nhà văn Nguyễn Tuân?

ĐỀ 8:

I. Đọc hiểu: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi.

… Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan
trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị. Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn
tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại
An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam
chỉ còn là vấn đê thời gian. Bất cứ người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói của mình, thì cũng
đương nhiên khước từ niềm hi vọng giải phóng giống nòi. […] Vì thế, đối với người An Nam
chúng ta, chối từ tiếng mẹ đẻ đổng nghĩa với từ chối sự tự do của mình. […]
Nhiều đồng bào chúng ta, để biện minh việc từ bỏ tiếng mẹ đẻ, đã than phiền rằng tiếng
nước mình nghèo nàn. Lời trách cứ này không có cơ sở nào cả. Họ chỉ biết những từ thông
dụng của ngôn ngữ và còn nghèo những từ An Nam hơn bất cứ người phụ nữ và nông dân An
Nam nào. Ngôn ngữ của Nguyễn Du nghèo hay giàu?
Vi sao người An Nam có thể dịch những tác phẩm của Trung Quốc sang nước mình, mà lại
không thể viết những tác phẩm tương tự?
Phải quy lỗi cho sự nghèo nàn của ngôn ngữ hay sự bất tài của con người?
Ở An Nam cũng như mọi nơi khác, đều có thể ứng dụng nguyền tắc này: “Điều gì người ta
suy nghĩ kĩ sẽ diễn đạt rõ ràng, và dễ dàng tìm thấy những từ để nói ra”. […]
Chúng ta không thể tránh né châu Âu, vai trò hướng đạo của giới trí thức chúng ta buộc họ
phải biết ít nhất là một ngôn ngữ châu Âu để hiểu được châu Âu. Nhưng những kiến thức thu
thập được, họ không được giữ cho riêng mình. Đồng bào của họ cũng phải được thông phẩn
nữa. Tuy nhiên, sự cần thiết phải biết một ngôn ngữ châu Âu hoàn toàn không kéo theo
chuyện từ bỏ tiếng mẹ đẻ. Ngược lại, thứ tiếng nước ngoài mà mình học được phải làm giàu
cho ngôn ngữ nước mình. […]

(Theo Ngữ văn 11, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014)
a) Thao tác lập luận chủ yếu nào được tác giả sử dụng trong đoạn: từ “Nhiều đồng bào
chúng ta” đến .. những từ để nói ra.” ở đoạn trích trên?
b) Nội dung chính của đoạn trích trên là gì?
c) Dựa vào đoạn trích, hãy giải thích vì sao tác giả lại cho rằng: “Chúng ta không thể tránh
né châu Âu, vai trò hướng đạo của giới trí thức chúng ta buộc họ phải biết ít nhất là một
ngôn ngữ châu Âu để hiểu được châu
d) Từ quan điểm, thái độ của người viết đối với “tiếng mẹ đẻ” trong đoạn trích trên, hãy rút
ra một bài học mà anh/ chị cho là có ý nghĩa đối với bản thân về việc sử dụng tiếng Việt
hoặc học tiếng nước ngoài. (Trả lời trong khoảng 5-7 dòng).

II. Làm văn

Câu 1: Viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 từ trình bày suy nghĩ của anh/ chị “trách nhiệm
của lớp trẻ trẻ trong việc bảo vệ giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt”

Câu 2 : Phân tích hình tượng người lái đò sông đà của nguyễn tuân để nhìn thấy được “chất

vàng 10 đã qua thử lửa” của người lao động Tây Bắc

ĐỀ 9

I. Đọc hiểu

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu phía dưới

Đ ọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có cuộc sống trí tuệ.

[…] Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa. Và khi không còn
nhu cầu đó nữa, thì đời sống tinh thần của con người nghèo đi, mòn mỏi đi, Cuộc sống đạo
đức cũng mất luôn nền tảng. Đây là một câu chuyện nghiêm túc, lâu dài và cần được trao
đổi, thảo luận một cách cũng rất nghiêm túc, lâu dài. Tôi chỉ muốn thử nêu lên ở đây một đề
nghị: Tôi đề nghị các tổ chức thanh niên của chúng ta, bên cạnh những sinh hoạt thường thấy
hiện nay, nên có một cuộc vận động đọc sách trong thanh niên cả nước; và vận động từng
nhà gây dựng tủ sách gia đình. Gần đây có một nước đã phát động phong trào trong toàn
quốc mỗi người mỗi ngày đọc lấy 20 dòng sách. Chúng ta cũng có thể làm như thế, hoặc vận
động mỗi người trong mỗi năm đọc lấy một cuốn sách. Cứ bắt đầu bằng việc rất nhỏ, không
quá khó. Việc nhỏ đấy nhưng rất có thể là việc nhỏ khởi đầu một công cuộc lớn.

(Theo Nguyên Ngọc, Một đề nghị, tạp chí Điện tử Tiasang, ngày 19-7-2007)
a) Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên?
b) Vì sao tác giả cho rằng: “Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ
nữa”?
c) Theo anh/ chị việc nhỏ và công cuộc lớn mà tác giả đề cập đến trong đoạn văn là gì?
d) Thông điệp mà tác giả gửi gắm qua đoạn trích?

I. Làm văn:

Câu 1 : Viết đoạn văn Nghị luận khoảng 200 từ trình bày suy nghĩ của anh/ chị về vai trò, ý
nghĩa của thói quen đọc sách

Câu 2: Trong tùy bút “Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân miêu tả người lái đò khi vượt
thác:”Cưỡi lên thác sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ… Đè sấn lên chặt đôi ra để
mở đường tiến”

Sau khi vượt thác: ”Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam… Chiến thắng
vừa qua nơi cửa ải đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi”

Câu 3. Vì sao tác giả cho rằng: « khi ta quyết định lắng nghe một người đang khổ, tức là ta
đang đóng vai thầy thuốc để chữa trị bệnh cho họ,»?

Câu 4 .Theo anh/chị, chúng ta cần lưu ý điều gì khi lắng nghe ai đó?

PHẦN II. LÀM VĂN (7 điểm)

Câu 1. (2 điểm): NLXH

Được lắng nghe là nhu cầu không thể thiếu của con người. Anh/chị hãy viết một đoạn văn
( khoảng 200 chữ) bày tỏ quan điểm của mình về ý kiến trên.
Câu 2: Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà” –
Nguyễn Tuân

ĐỀ 11

Trong bài diễn thuyết tại buổi lễ tốt nghiệp của Đại học Liberty (Mỹ) năm 2017, Tổng
thống Donald Trump đã nhắn gửi:

Đừng từ bỏ, đừng lùi bước, và đừng bao giờ ngừng làm những điều mà bạn cho là đúng
[…] Các bạn hãy nhớ không có cái gì đáng giá trên đời này lại đến với ta một cách dễ
dàng. Sống đúng theo các giá trị của mình có nghĩa là bạn phải sẵn sàng đối mặt với chỉ
trích từ những người không đủ dũng cảm để làm những gì đúng đắn. Họ biết rõ điều gì là
đúng, nhưng họ không đủ can đảm và nghị lực để làm điều đó. Đó gọi là con đường hẹp ít
người dám đi. Tôi biết các bạn sẽ làm điều đúng, chứ không phải điều dễ dàng, các bạn sẽ
sống đúng với bản thân, đất nước và niềm tin của mình,

(Theo tạp chí Time, time/4778240/donald-trump-liberty-university- speech-
transcript)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 : Nêu nội dung chính của đoạn trích trên.

Câu 2: Anh/chị hiểu “con đường hẹp ít người dám đi” được nói đến trong đoạn trích là gì?

Câu 3: Theo Tổng thống Donald Trump, khi “sống đúng theo các giá trị của mình”, con
người cần phải làm gì?

Câu 4: Anh/chị có cho rằng “sống đúng theo các giá trị của mình” là điều cần thiết không?
Vì sao?

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm). Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị
về ý kiến được nêu trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu: “Các bạn hãy nhớ: không có cái gì
đáng giá trên đời này lại đến với ta một cách dễ dàng”.

Câu 2: Phân tích hình tượng người lái đò trong đoạn trích sau:
Cưỡi lên thác sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ.Dòng thác hùm beo đang hồng
hộc tế mạnh trên sông đá.Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì
cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một
đường chéo về phía cửa đá ấyốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bờ bên trái liền xô ra
định níu thuyền lôivào tập đoàn cửa tử.Ông đò vẫn nhớ mặt bọn này, đứa thì ông tránh mà
rảo bơi chèolên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiếnững luồng tử đã
bỏ hết lại sau thuyềnỉ còn vẳng tiếng reo hò của sóng thác luồng sinh. Chúng vẫn không
ngớt khiêu khích, mặc dầu cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt
xanh lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh trúngvào cửa sinh nó trấn lấy. Còn một trùng
vây thứ ba nữa. Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả. Cái luồng sống ở chặng
ba này lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác. Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa
giữa đó. Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa
trongcùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động
lái được lượn được.
(Người lái đò sông Đà – Ngữ văn lớp 12, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015)
Cảm nhận của anh /chị về vẻ đẹp hình tượng ông lái đò trong đoạn trích trên. Từ đó nhận
xét quan niệm về con người của nhà văn Nguyễn Tuân.

ĐỀ 12

I. ĐỌC HIỂU (3 điểm)

Đọc đoạn trích dưới đây:

Stephen Hawking (1942 – 2018) là nhà vật lý thiên tài người Anh, người dành cả cuộc đời để giải
mã các bí ẩn của vũ trụ. Tờ Guardian gọi Stephen Hawking là “Ngôi sao sáng nhất trong ngành
vũ trụ học hiện đại”. Ông là tác giả của cuốn “A Brief History of Time” (Lược sử thời gian), một
trong những cuốn sách phổ thông về khoa học nổi tiếng nhất mọi thời đại.

Đối lập với cơ thể tật nguyền là một sức mạnh trí tuệ tuyệt vời của Hawking, cơ thể ông là hệ quả
của căn bệnh thoái hóa thần kinh vận động (ALS) đã đày đọa nhà vật lý học thiên tài từ lúc ông
mới 21 tuổi. Và từ đó đến khi qua đời ở tuổi 76, gần như toàn bộ cuộc đời của Hawking gắn với
chiếc xe lăn. Khi được hỏi về căn bệnh

ALS có ảnh hưởng đến bản thân như thế nào, Hawking đã trả lời: “không nhiều lắm, tôi cố gắng
sống một cuộc sống bình thường nhất có thể, không nghĩ về tình trạng của mình, không hối hận
về những gì mình không thể làm, mà cũng không nhiều điều tệ lắm diễn ra”.

Hawking có niềm say mê với ngành khoa học vũ trụ, dù ông phải vật lộn với căn bệnh quái ác.
Bên trong thân thể gần như bất động là một bộ não sắc bén và tò mò trước bản chất của vũ trụ,
cách nó hình thành cũng như số phận mà nó đi đến.

chức sắc, lão bà hay lão ông. Ai cũng thấy như phải gần gũi nhau hơn, nói những điều hay với
ngôn ngữ chọn lọc. Tết là phải chúc mừng nhau: sức khỏe, tuổi tác (trường thọ), chúc “làm ăn
bằng năm, bằng mười năm ngoái”… Có phần ngoa ngôn, song vẫn êm tai và thực lòng. Cho nên,
Tết đến, người ta vui vẻ, dịu hiền, là cơ hội để hòa giải những bất đồng, “giận đến chết đến Tết
cũng thôi” (…).

(Trích Tết cổ truyền của người Việt và những giá trị văn hóa truyền thống, theo
baomoi, 17-02-2018)

Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn trích?

Câu 2. Anh/chị hiểu như thế nào về tên gọi Tết nguyên đán?

Câu 3. Nêu ý nghĩa của Tết nguyên đán với mỗi người dân Việt Nam được tác giả đưa ra trong
đoạn trích trên?

Câu 4. Cùng với sự phát triển của xã hội, Tết cổ truyền hiện nay cũng đã có nhiều sự thay đổi
đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn những giá trị tốt đẹp bất biến giữa vạn biến mà chúng ta có thể và
cần nhận ra. Anh/chị có đồng tình với quan điểm này của tác giả không? Vì sao?

IIÀM VĂN

Câu 1. Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc Hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ
trình bày quan điểm của mình về trách nhiệm của lớp trẻ trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân
tộc.

Câu 2: Phân tích diễn biến tâm lí nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân

ĐỀ 14

( Thi thử lần 1, năm 2020, THPT Chuyên Quốc học Huế ):

I, Đọc hiểu:

Đọc đoạn trích sau:

Một người bạn của tôi từng tham gia sát hạch để được sang lao động tại Nhật Bản kể lại
rằng: Các nhà tuyển dụng đến từ xứ sở hoa anh đào khi tuyển lao động phổ thông họ chưa cần
nhìn vào hồ sơ mà là sờ vào lòng bàn tay, những bàn tay trắng nõn, non mởn sẽ bị loại ngay
vòng gửi xe, ngược lại bàn tay chai sạn, sần sùi được chấp nhận như một bằng chứng cho sự cần
cù lao động của thân chủ…

Nhiều người băn khoăn thắc mắc vì sao lại có cách sát hạch lao động kỳ quái đến vậy,
nhưng với một dân tộc có truyền thống lao động miệt mài và hiệu quả như Nhật bản thì tất cả
đều có lý của họ.

Cách tuyển nhân sự của người Nhật phần nào cho thấy được sự thâm thúy và tinh tế khiến
chúng ta giật mình đặt câu hỏi vì sao người Nhật lại thấu hiểu con người Việt Nam hơn cả chúng

ta? Và thực tế phương pháp độc đáo ấy là cách tốt nhất để phát hiện một thực trạng của đa số
lớp trẻ ngày nay đó là lười lao động!

Không khó để nhận ra rằng người VIệt ngày càng lười hơn so với trước đây, không thiếu
những phong trào trong thanh niên nhưng sao mà hời hợt chứ không còn khí thế của “một ngày
làm việc bằng ba”, “sóng duyên hải”, “gió đại phong”… của lớp lớp cha anh đi trước.

Đầy rẫy khắp các hàng quán sáng cà phê chiều nhậu nhẹt chém gió, khoe mẽ hàng sành
điệu cách chơi nhưng hầu hết không quan tâm đến giá trị của sức lao động chân chính, một thế
hệ “gà công nghiệp” đã và đang hiện hữu. Một bộ phận không nhỏ lớp trẻ sống thụ động, phụ
thuộc và ỷ lại vào gia đình.

Họ có thể ngồi lại lai rai hàng trwof trong các quán xã nhưng khi dừng đèn đỏ mấy chục
giây ai ai cũng muốn lao lên phía trước như thể ta đây là người bận rộn công việc, thật khó để
diễn tả hết sự trái khoáy trong cách nghĩ, cách làm của không ít bạn trẻ thời nay.

Những câu chuyện xưa như trái đất rằng: Việt Nam thừa thầy thiếu thợ, đất nước thiếu
nhân tài, chảy máu chất xám, năng suất lao động thấp… cũng phần lớn bắt nguồn từ lười lao
động mà ra. Đâu phải chỉ có bằng cấp cao, du học nước ngoài mới được gọi là nhân tài! Nhân
tài không bước ra từ sách vở mà đi ra từ lao động!

(Hoàng Giang, Diễn đàn doanh nghiệp điện từ , ngày 22/6/2017).

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1: Đoạn trích trên sử dụng phong cách ngôn ngữ gì?

Câu 3: Đoạn trích thể hiện thái độ, tình cảm của tác giả như thế nào?

Câu 3: anh chị có đồng tình với quan điểm của tác giả: “ Việt Nam thừa thầy thiếu thợ, đất nước
thiếu nhân tài, chảy máu chất xám, năng suất lao động thấp… cũng phần lớn bắt nguồn từ lười
lao động mà ra”. vì sao?

Câu 4: Anh chị hiểu như thế nào về câu cuối đoạn: “ Nhân tài không bước ra từ sách vở mà đi ra
từ lao động ”.

II, Làm văn:

Câu 1: Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh (chị) hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ
bàn về tác hại của căn bệnh “lười biếng” trong một số bộ phận lớp trẻ hiện nay

Câu 2: phân tích diễn biến tâm lí nhân vật Mị trong đêm cới trói cho A phủ

Câu 4: Từ tinh thần quả cảm của các cô gái đội tuyển bóng đá nữ Việt Nam gợi cho anh chị suy
nghĩ gì về lòng yêu nước và tinh thần dân tộc?

II. LÀM VĂN

Câu 1: Anh chị hãy viết đoạn văn 200 để trả lời câu hỏi: “lớp trẻ hiện nay cần làm gì để thể hiện
lòng yêu nước”

Câu 2: (5,0 điểm)

Mở đầu đoạn trích truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, nhà văn Tô Hoài giới thiệu nhân vật Mị:

Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô con gái ngồi quay sợi
gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải,

chẻ củi hay đi công nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi.

Kết thúc đoạn trích, sau khi Mị cắt dây trói cứu A Phủ, nhà văn viết: Mị đứng

lặng trong bóng tối.

Rồi Mị cũng vật chạy ra. Trời tối lắm. Nhưng Mị vẫn bằng đi, Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn,

chạy, chạy xuống tới lưng dốc, Mị nói, thở trong hơi gió thốc lạnh buốt:

  • A Phủ cho tôi đi.

A Phủ chưa kịp nói, Mị lại nói:

  • Ở đây thì chết mất.

A Phủ chợt hiểu.

Người đàn bà chê chồng đó vừa cứu sống mình.

A Phủ nói: “Đi với tôi”. Và hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi. (Theo Ngữ

văn 12,Tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2008, tr và tr).

Phân tích hình ảnh Mị trong hai lần miêu tả trên, từ đó làm nổi bật sự thay đổi trong tâm

lý của nhân vật này.

———– Hết ———-

ĐỀ 16

I.Đọc Hiểu (3 điểm):

Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu sau:

Trên quan niệm giáo dục trọn đời, mỗi một công dân phải có ý thức được rằng, mỗi người
suốt đời cần học tập không ngừng. Không thể rạch ròi cỗ máy cuộc đời thành hai giai đoạn “đi

học” và “đi làm” được nữa. Giáo dục là cả một quá trình liên tục từ khi một con người sinh ra cho

đến khi chết đi, nó bao gồm: giáo dục trong nhà trường và giáo dục ngoài nhà trường, giáo dục
chính qui và giáo dục phi chính qui, giáo dục để sinh tồn và giáo dục để giải trí. Về quyền lợi,
giáo dục trọn đời có nghĩa là trong suốt cuộc đời, giáo dục như một động lực mang tính vĩnh cửu,
mỗi người trong độ tuổi nhất định đều có quyền được hưởng quyền giáo dục thích hợp với
họ.Hơn thế, ở xã hội học tập, sự lựa chọn của mỗi người đối với giáo dục càng tự do, đa dạng và

cá tính hơn.

Từ góc độ của giáo dục trọn đời, mỗi người đều phải xây dựng cho mình một kế hoạch cụ
thể về sự nghiệp giáo dục của mình. Các bạn đang ở độ tuổi đẹp nhất của cuộc đời, có vô số
những ước mơ cho tương lai, cần phải có trí lớn, đồng thời phải kết hợp với hứng thú, nguyện
vọng, khuynh hướng và khả năng thực tế của mình.

(Trích Học cách học , Chu Nam Chiểu, Tôn vân Hiểu, NXB Kim Đồng, tr-114)

Câu 1 (0điểm): Hãy xác định phương thức biểu đạt của văn bản?

Câu 2 (0điểm) : Trên quan niệm giáo dục trọn đời, mỗi công dân đều phải ý thức được điều gì?

Câu 3 (1điểm) : Hãy lí giải tại sao không thể tách ra rạch ròi cuộc đời con người thành hai giai
đoạn “đi học” và “đi làm” trong xã hội hiện đại?

Câu 4 (1điểm) : Theo anh/chị, khi chọn nghề, ngoài căn cứ vào hứng thú, nguyện vọng, khuynh
hướng và khả năng thực tế của mình, còn phải dựa vào những yếu tố, điều kiện nào nữa?

IIàm Văn (0,7 điểm) :

Câu 1 (2điểm):

Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến được nêu
trong phần Đọc Hiểu: Từ góc độ của giáo dục trọn đời, mỗi người đều phải xây dựng cho mình
một kế hoạch cụ thể về sự nghiệp giáo dục của mình.

Câu 2: Phân tích sức sống tiềm tàng mãnh liệt của nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ,
sau đó nhận xét về giá trị nhân đạo trong tác phẩm

ĐỀ 17

Phần Đọc Hiểu

Đọc đoạn trích:

“Các anh đứng như tượng đài quyết tử
Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra
Dòng máu Việt chảy trong hồn người Việt
Đang bồn chồn thao thức với Trường Sa
Khi hy sinh ở đảo đá Gạc Ma
Họ đã lấy ngực mình làm lá chắn