Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế
- Nghiên cứu triết học
- Triết học Mac – Lênin
Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế
1. Về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị
Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan hệ giữa kinh tế và chính trị là mối quan hệ cơ bản của đời sống xã hội, có ý nghĩa quyết định và đóng vai trò chi phối các mối quan hệ khác trong xã hội. Việc nhận thức và xử lý đúng hay sai mối quan hệ này trong thực tiễn có ý nghĩa quyết định không chỉ đối với sự phát triển kinh tế, mà cả đối với sự hưng vong của chế độ chính trị.
Quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng cho thấy, kinh tế là phạm trù đóng vai trò quyết định trong cơ sở hạ tầng. Kinh tế có thể coi là tổng thể những yếu tố sản xuất, các điều kiện sống của con người, các mối quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội. Nói đến kinh tế, suy cho cùng, là nói đến vấn đề sở hữu và lợi ích. Còn chính trị là một phạm trù tư tưởng thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội. Chính trị là tất cả những hoạt động, những vấn đề gắn với mối quan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia và các nhóm xã hội xoay quanh một vấn đề trung tâm là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước. Chính trị được sinh ra khi xã hội bắt đầu có sự phân hóa giai cấp, hay phân hóa về kinh tế, tức là về vấn đề sở hữu và lợi ích cá nhân trong xã hội. Do vậy, V.I.Lênin đã khẳng định: “Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế”( ), “chính trị tức là kinh tế được cô đọng lại”( ).
Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin còn chỉ rõ, với bất kỳ quốc gia nào và ở bất cứ thời đại nào trong xã hội có giai cấp, mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị cũng đều tồn tại và phát triển. Rằng, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng. Từ quan điểm đó, có thể nhận thấy, với các ông, tư tưởng chính trị được sinh ra trên cơ sở kinh tế và bị quy định bởi cơ sở kinh tế. Kinh tế là gốc, là thước đo tính hợp lý của chính trị. Sự phụ thuộc của chính trị vào cơ sở kinh tế được biểu hiện ở những điểm sau đây:
Thứ nhất, chính trị chỉ phát sinh trên cơ sở nền kinh tế đã phát triển đến một trình độ nhất định. Điều này đã được thể hiện rõ khi ta nghiên cứu sự ra đời của chính trị. Trình độ kinh tế yếu kém của chế độ cộng sản nguyên thủy đã không thể phát sinh vấn đề về chính trị. Chỉ khi xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và trong xã hội bắt đầu có sự phân chia giai cấp thì nhà nước cùng với những vấn đề về chính trị mới xuất hiện. Sự phát triển của chế độ tư hữu đã đánh dấu một bước phát triển rõ rệt của trình độ phát triển kinh tế.
Thứ hai, chính trị phát triển theo sự phát triển của kinh tế. Tương ứng với một trình độ phát triển nhất định về kinh tế là một trình độ phát triển nhất định về chính trị. Sự thay đổi của cơ sở kinh tế sớm hay muộn cũng dẫn đến sự thay đổi về chính trị. Về vấn đề này, C.Mác đã khẳng định: “Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng”( ). Nội dung của chính trị do cơ sở kinh tế quyết định. Chế độ kinh tế là cơ sở của chế độ chính trị, cơ sở kinh tế như thế nào thì cơ cấu, thể chế chính trị tương ứng như thế. Chính trị không thể thấp hơn trình độ phát triển của kinh tế. Thể chế chính trị phản ánh trình độ phát triển của kinh tế.
Thứ ba, trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào thống trị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị về chính trị và đời sống tinh thần của xã hội. Các mâu thuẫn trong kinh tế, xét đến cùng, quyết định các mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Các quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp, cũng như các quan hệ chính trị là sự phản ánh các mối quan hệ về lợi ích kinh tế, các mâu thuẫn trong quan hệ kinh tế.
Trong các mối quan hệ đó thì kinh tế là tính thứ nhất, chính trị là tính thứ hai, là cái phản ánh kinh tế. Sự phản ánh đó thể hiện qua tư duy chính trị, đường lối chính trị, thể chế chính trị,…
Trong khi khẳng định vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin cũng nhấn mạnh tính độc lập tương đối và sự tác động trở lại của chính trị đối với kinh tế, hay rộng hơn là của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng. Theo V.I.Lênin, “không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó không thể nào giữ được sự thống trị của mình và do đó, cũng không thể hoàn thành nhiệm vụ của mình trong sản xuất”(4).
Sự tác động của chính trị đối với kinh tế có thể theo nhiều hướng khác nhau: Thúc đẩy, kìm hãm, hoặc vừa thúc đẩy mặt này, vừa kìm hãm mặt kia và do vậy, có thể làm thay đổi cơ sở kinh tế ở một chừng mực nhất định.
Chính trị tác động tích cực vào cơ sở kinh tế, khi nội dung của các tư tưởng, quan điểm chính trị phản ánh đúng, đầy đủ điều kiện khách quan của cơ sở kinh tế và sự phát triển kinh tế. Khi đó, chính trị là động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển với tốc độ nhanh, vững chắc.
Ngược lại, chính trị tác động một cách tiêu cực vào cơ sở kinh tế, khi hệ thống chính trị có quan điểm, tư tưởng thể hiện ý chí của giai cấp thống trị lỗi thời muốn duy trì quan hệ kinh tế đã lạc hậu không còn phù hợp nữa, hay khi chính trị đi quá xa đối với sự phát triển của kinh tế. Và, một khi chính trị kìm hãm sự phát triển của kinh tế thì sớm hay muộn, bằng cách này hay cách khác, thể chế chính trị cũ sẽ được thay thế bằng một thể chế chính trị mới, tiến bộ để thúc đẩy kinh tế tiếp tục phát triển. Do vậy, khi xem xét mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, cần tránh tuyệt đối hóa hoặc đồng nhất chính trị với kinh tế. Mắc phải khuynh hướng này sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển của xã hội nói chung.
Như vậy, giữa kinh tế và chính trị luôn có mối quan hệ chặt chẽ và sự tác động biện chứng, trong đó kinh tế là gốc, chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế. Chính trị được sinh ra từ khi xã hội bắt đầu có mâu thuẫn về kinh tế, phụ thuộc vào kinh tế, nhưng chính trị cũng có những tác động tương đối đối với sự phát triển kinh tế. Nếu không có một đường lối chính trị đúng đắn thì cũng sẽ không có sự phát triển của kinh tế và ngược lại, một đường lối chính trị đúng đắn và phù hợp sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển.( )
2. Về vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế
Theo các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, nhà nước với chức năng kinh tế luôn có vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, vai trò đó được phát huy và thực hiện có hiệu quả hay không phụ thuộc vào bản chất của chế độ chính trị và bản chất giai cấp của nhà nước.
Các nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản đều bằng cách này hay cách khác kiểm soát các hoạt động kinh tế của xã hội, đặt ra những chính sách, luật lệ nhằm giữ vững vị trí thống trị của giai cấp cầm quyền. Ngay dưới chủ nghĩa tư bản, mặc dù các thể chế thị trường phát triển cao, nhà nước tư bản chủ nghĩa tham gia vào các quá trình kinh tế với rất nhiều hình thức cũng đều nhằm củng cố vị trí thống trị của giai cấp tư sản – giai cấp cầm quyền.
Khác với nhà nước của các giai cấp bóc lột, nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới – nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhà nước xã hội chủ nghĩa thực hiện chức năng trấn áp đối với giai cấp bóc lột – giai cấp tư sản và bọn phản động, đồng thời thực hiện chế độ dân chủ với quảng đại quần chúng. Nhà nước này có nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý sự phát triển kinh tế và hoạt động vì lợi ích kinh tế của nhân dân lao động. Trong hai chức năng trấn áp và tổ chức, xây dựng của nhà nước xã hội chủ nghĩa, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định chức năng tổ chức, xây dựng là chủ yếu.
Để thực hiện chức năng xây dựng này, giai cấp vô sản, bằng quyền lực nhà nước của mình, tiến hành một cuộc cách mạng toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết, trọng tâm là phát triển kinh tế, cải tạo những cơ sở kinh tế cũ, xây dựng nền tảng kinh tế mới với các quan hệ kinh tế lành mạnh vì mục tiêu con người. Với tư cách là chủ thể kinh tế, nhà nước xã hội chủ nghĩa sử dụng những yếu tố vật chất và tạo ra những quan hệ xã hội cần thiết để trực tiếp quản lý, sản xuất hoặc lưu thông, dịch vụ trên những ngành, vùng kinh tế chủ chốt. Đồng thời, nhà nước xã hội chủ nghĩa còn là người đại diện cho ý chí và quyền lực của nhân dân, nắm trong tay các công cụ, phương tiện quản lý và kiểm soát việc sử dụng tài sản quốc gia, tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh và phát triển kinh tế theo quan điểm, đường lối và mục tiêu phát triển kinh tế của giai cấp lãnh đạo – giai cấp công nhân mà đại biểu là Đảng Cộng sản. Thực hiện nhiệm vụ này, nhà nước xã hội chủ nghĩa cần phải làm và bằng mọi cách để tạo ra năng suất lao động ngày càng cao, qua đó và nhờ đó, chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản.
Tuy nhiên, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin cũng đã khẳng định bước chuyển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội không phải một sớm một chiều, mà là một thời kỳ quá độ lâu dài – thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đặc trưng cơ bản của thời kỳ này là kết cấu kinh tế – xã hội mới còn tồn tại đan xen với kết cấu kinh tế – xã hội cũ. Nền kinh tế với nhiều thành phần cùng tồn tại, tác động đan xen lẫn nhau, trong đó thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa chưa thể thắng lợi hoàn toàn. Do vậy, việc nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế nhiều thành phần là một tất yếu của thời kỳ quá độ. Chính C.Mác đã chỉ rõ: Không một hình thức kinh tế nào biến mất trước khi nó còn phục vụ được cho các lực lượng sản xuất mà nó đã dọn khoảng đất trống cần thiết cho sự phát triển của các lực lượng sản xuất ấy; ngược lại, không một hình thức kinh tế nào có thể ra đời trước khi xuất hiện đầy đủ các tiền đề vật chất cần thiết cho nó. Do kết cấu của nền kinh tế ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nên hệ thống các quy luật kinh tế hoạt động trong thời kỳ này là rất đa dạng. Bên cạnh những quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa mới hình thành nhưng chưa phát huy đầy đủ tác dụng của nó, những quy luật tương ứng với các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa vẫn còn hoạt động, phát huy tác dụng và tác động đến nền kinh tế quốc dân với mức độ khác nhau.
Do vậy, trong quá trình quản lý nền kinh tế, nhà nước xã hội chủ nghĩa phải tính đến việc vận dụng toàn bộ hệ thống các quy luật đó sao cho phù hợp, có lợi cho chủ nghĩa xã hội để: Một mặt, tạo ra những điều kiện vật chất và xã hội cần thiết cho các quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa phát huy ngày càng đầy đủ tác dụng của chúng, trở thành nhân tố chủ đạo; mặt khác, chủ động vận dụng các quy luật kinh tế khác, hướng chúng theo quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội. Đây là công việc khó khăn, phức tạp, dễ phạm sai lầm “tả”, hoặc “hữu khuynh”. Do đó, đòi hỏi nhà nước xã hội chủ nghĩa phải có bản lĩnh, có năng lực tổ chức quản lý kinh tế, biết tìm ra những hình thức, phương pháp mới phong phú, đa dạng để hướng các thành phần kinh tế đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội.
3. Vai trò của nhà nước trong Chính sách kinh tế mới (NEP) của V.I.Lênin
Từ thực tiễn nước Nga, khi chấm dứt nội chiến và chuyển sang thời bình, V.I.Lênin đã nghiêm khắc rút ra những bài học từ chính sách “cộng sản thời chiến”, phê phán những khuynh hướng, tư tưởng chủ quan, nóng vội (muốn lập tức quốc hữu hóa, quốc doanh hóa, hạn chế không sử dụng các hình thức kinh tế quá độ đang còn tồn tại và còn tác dụng đối với việc phát triển lực lượng sản xuất), dẫn đến hậu quả nghiêm trọng: Kinh tế không phát triển và gây sự bất bình của nhân dân đối với chính quyền Xô viết… Theo V.I.Lênin, quá trình chuyển từ thời chiến sang thời bình không những chỉ liên quan đến những cơ sở của công cuộc kiến thiết kinh tế, mà còn liên quan đến cơ sở của những mối quan hệ giữa các giai cấp còn tồn tại trong xã hội. Đây là vấn đề cần phải được giải quyết, bởi nếu không thực hiện được bước chuyển này sẽ là thất bại của Đảng Cộng sản.
Với quan điểm đó, V.I.Lênin cho rằng, trong điều kiện thời bình, cần phải xem xét lại tất cả các quan điểm lý luận và thực tiễn về sự phát triển kinh tế – xã hội của nước Nga, thậm chí thay đổi một cách căn bản cả cách tiếp cận về chủ nghĩa xã hội. Chính từ thực tiễn nước Nga, V.I.Lênin đã đưa ra NEP, trong đó ông nêu rõ những nhiệm vụ và chính sách kinh tế mà nhà nước chuyên chính vô sản phải thay đổi.
Nhà nước vô sản phải thực hiện xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần, phát triển các quan hệ thị trường dưới sự điều tiết của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Các thành phần kinh tế đó bao gồm: “(1) Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng; (2) kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ (chủ yếu là nông dân); (3) kinh tế chủ nghĩa tư bản tư nhân; (4) kinh tế chủ nghĩa tư bản nhà nước; (5) kinh tế của chủ nghĩa xã hội”(5).
Các thành phần kinh tế trên đây tồn tại đan xen với nhau, trong đó thành phần kinh tế tiểu tư sản chiếm ưu thế. Các thành phần kinh tế này đấu tranh với nhau, mà chủ yếu là cuộc đấu tranh giữa các thành phần kinh tế tiểu tư sản và tư bản tư nhân với các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa tư bản nhà nước. Nghĩa là, cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng: Sản xuất nhỏ và sản xuất lớn. Thắng lợi của chủ nghĩa xã hội phụ thuộc vào thắng lợi của khuynh hướng sản xuất lớn.
Trong nền kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin không chỉ đặc biệt chú ý và luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của thành phần kinh tế chủ nghĩa tư bản nhà nước, mà còn đặt hầu hết sự chú ý của Nhà nước Xô viết vào việc phát triển thành phần kinh tế này. Thậm chí, khi bước sang giai đoạn thực hiện NEP, V.I.Lênin coi đó là sự bắt đầu của một thời kỳ quá độ, là bước tiến từ “một nước Cộng hòa Xô viết xã hội chủ nghĩa chuyển sang chủ nghĩa tư bản nhà nước”(6) và ở Nga, từ kinh tế tiểu tư sản đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản nhà nước đều trải qua cùng một con đường. Chủ nghĩa tư bản nhà nước, theo V.I.Lênin, là “sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, là phòng chờ đi vào chủ nghĩa xã hội, là nấc thang lịch sử mà giữa nó (nấc thang đó) với nấc thang được gọi là chủ nghĩa xã hội thì không có một nấc thang nào ở giữa cả”(7). Chủ nghĩa tư bản nhà nước (trong đó có cả chính sách tô nhượng) mà mục đích của nó dưới chủ nghĩa xã hội, theo V.I.Lênin, là kiểu quan hệ kinh tế mà ở bên trên, dường như là sự liên minh giữa Nhà nước Xô viết với chủ nghĩa tư bản nước ngoài để tạo nên kiểu quan hệ kinh tế có thể tạo ra cho chính quyền của giai cấp vô sản khả năng tiến hành ở bên dưới việc trao đổi tự do với nông dân. V.I.Lênin còn cho rằng, “hoặc là những quan hệ kiểu ấy hoặc là không có gì hết”(8).
Vấn đề chủ nghĩa tư bản nhà nước, vấn đề mà “ngay cả C.Mác cũng không viết một lời nào”, là một đóng góp quan trọng của V.I.Lênin trong quá trình phát triển chủ nghĩa Mác về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện còn lạc hậu về kinh tế, kỹ thuật. Đây cũng chính là một chỉ dẫn quý báu của V.I.Lênin về việc sử dụng quyền lực nhà nước của giai cấp vô sản trong phát triển kinh tế.
Trong điều kiện nước Nga sau Cách mạng tháng Mười, V.I.Lênin coi chủ nghĩa tư bản nhà nước là thành phần kinh tế cao hơn, đứng trên thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa. Vấn đề khác nhau của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản nhà nước chính là vấn đề chính trị, tức là vấn đề giai cấp cầm quyền. V.I.Lênin nêu vấn đề, mà theo ông, là “chân lý”: “Tốt hơn là nên trước hết hãy thực hiện chủ nghĩa tư bản nhà nước để rồi sau đó, đi đến chủ nghĩa xã hội”(9). Đó là một trong những nhiệm vụ then chốt của nhà nước vô sản. Để đánh tan những hoài nghi, phê phán cách hiểu kinh viện về chủ nghĩa tư bản nhà nước, V.I.Lênin giải thích: “Chủ nghĩa tư bản nhà nước mà chúng ta nói đó là một thứ chủ nghĩa tư bản mà chúng ta có thể hạn chế, có thể quy định giới hạn; chủ nghĩa tư bản nhà nước đó gắn liền với nhà nước, mà nhà nước chính là công nhân, chính là bộ phận tiên tiến của công nhân, là đội tiên phong, là chúng ta”(10). Khi thực hiện chủ nghĩa tư bản nhà nước, V.I.Lênin luôn coi trọng “sự lãnh đạo chính trị của giai cấp vô sản”. Sự lãnh đạo này phải hướng vào giải quyết những nhiệm vụ then chốt, cấp thiết nhất, mà trong một nước tiểu nông thì đó là “phục hồi ngay những lực lượng sản xuất của kinh tế nông dân”(11). Trong lĩnh vực này, những luận điểm của V.I.Lênin đặc biệt có giá trị về phương diện phương pháp luận cho các Đảng Cộng sản ở các nước nông nghiệp lạc hậu. Trong các nước ấy, cũng như ở nước Nga, một khi “tìm cách ngăn cấm, triệt để chặn đứng mọi sự phát triển của sự trao đổi tư nhân, không phải là quốc doanh, tức là của thương mại, tức là của chủ nghĩa tư bản, một sự phát triển không thể tránh được khi có hàng triệu người sản xuất nhỏ. Chính sách ấy là một sự dại dột và tự sát đối với đảng nào muốn áp dụng nó. Dại dột, vì về phương diện kinh tế, chính sách ấy là không thể nào thực hiện được; tự sát, vì những đảng nào định thi hành một chính sách như thế, nhất định sẽ bị phá sản”(12).
Để thực hiện được nhiệm vụ “quy định”, “giới hạn” chủ nghĩa tư bản nhà nước, V.I.Lênin cho rằng, nhà nước chuyên chính vô sản phải cải tiến phương pháp làm việc của bộ máy Xô viết theo hướng tăng cường quyền lực trong điều kiện nền kinh tế thị trường.
Bộ máy nhà nước Xô viết là nền chuyên chính vô sản, là nhà nước của giai cấp công nhân và nông dân, nhưng bộ máy ấy không phải đã hoạt động tốt sau khi giành được chính quyền. Bởi, theo V.I.Lênin, bộ máy đó chưa thực sự là công – nông, ở đó còn nhiều tàn dư phong kiến và tư sản, do vậy phải xây dựng lâu dài. Những đảng viên cộng sản làm việc trong bộ máy đó còn chưa có kinh nghiệm quản lý, làm việc kém hiệu quả; bộ máy còn cồng kềnh và thiếu sự kiểm tra, giám sát từ phía nhân dân. Do vậy, việc xây dựng Nhà nước Xô viết là một nhiệm vụ quan trọng, sau khi hoàn thành cuộc cách mạng giành chính quyền vĩ đại. V.I.Lênin khẳng định: “Tôi biết rõ ràng chúng ta có những khuyết điểm trong bộ máy tổ chức quần chúng”, nhưng “vấn đề không phải là ở chỗ lấy việc cải tổ nhanh chóng để cải tiến bộ máy đó, mà vấn đề là ở chỗ phải quán triệt cuộc cải tạo chính trị đó để đạt tới một trình độ kinh tế – văn hóa khác”(13).
V.I.Lênin đưa ra ví dụ về ủy ban đặc biệt toàn Nga – tổ chức an ninh đặc biệt chống lật đổ. Ông cho rằng, khi chuyển sang giai đoạn mới, cần phải xác định rõ chức năng và quyền hạn của ủy ban này và giới hạn công tác của nó vào những nhiệm vụ chính trị, mà chủ yếu là thực hiện các chính sách kinh tế mới – kinh tế thị trường. Theo ông, chính quyền Xô viết cần “phải thu hẹp phạm vi hoạt động của các cơ quan chuyên giáng trả lại”(14), bởi “sắc lệnh thì chúng ta có quá nhiều và chúng ta làm sắc lệnh đó một cách quá vội vàng… nhưng việc chấp hành thực tiễn đó thì không được kiểm tra lại”(15). Vấn đề không chỉ ở chỗ ra sắc lệnh, mà là ở chỗ làm thế nào để thực hiện được các sắc lệnh đó.
V.I.Lênin đã từng chỉ rõ vấn đề chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng. Nhưng giai cấp công nhân sau khi đã giành được chính quyền, thì theo ông, “cái mấu chốt không phải là chính quyền mà cái mấu chốt chính là biết lãnh đạo”(16).
Về thực chất, quan điểm xây dựng bộ máy chính quyền Xô viết mà V.I.Lênin nêu ra là khắc phục những sai lầm, khuyết điểm trong quản lý kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần, với nhiều kiểu quan hệ thị trường. Nghĩa là, trong điều kiện mới, nhà nước phải tăng cường quyền lực của mình không phải bằng các mệnh lệnh hành chính, quan liêu, mà phải bằng các thể chế kinh tế – chính trị và coi đó là công cụ để quản lý kinh tế. Phải có kế hoạch, có chiến lược, có hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế hợp lý, đúng đắn để quản lý, chứ không phải là can thiệp vào các quá trình hoạt động kinh tế như trong thời chiến…
Lịch sử phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa thế giới đã chứng minh tính đúng đắn trong quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế. Mặc dù, ngày nay, hệ thống xã hội chủ nghĩa đã tan rã do nhiều nguyên nhân khác nhau mà ở đây, chúng tôi không thể đề cập đến, nhưng mô hình phát triển kinh tế thống nhất và có kế hoạch của Liên Xô và của các nước xã hội chủ nghĩa trước những năm 80 của thế kỷ XX đã đưa lại những kinh nghiệm thành công mẫu mực về nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế quốc dân.(14)
Quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây chỉ ra rằng, nhà nước xã hội chủ nghĩa có thể sử dụng các hình thức quản lý kinh tế quá độ, hỗn hợp, kể cả việc có thể sử dụng các quan hệ thị trường để quản lý và phát triển nền kinh tế. Tuy nhiên, việc nhà nước quản lý nền kinh tế xã hội chủ nghĩa như thế nào – đó là vấn đề chưa có câu trả lời cuối cùng và vấn đề này còn tùy thuộc vào điều kiện cụ thể ở mỗi nước và bối cảnh chung của thế giới. Song, chúng ta không thể phủ nhận vai trò đặc biệt của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế quốc dân, nhất là trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
(*) Thạc sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân.
(1) V.I.Lênin. Toàn tập, t.42. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1997, tr.349.
(2) V.I.Lênin. Sđd., t.45, tr.147.
(3) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.13. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.15.
(4) V.I.Lênin. Sđd., t.43, tr.350.
(5) V.I.Lênin. Sđd., t.43, tr.248.
(6) V.I.Lênin. Sđd., t.43, tr.247.
(7) V.I.Lênin. Sđd., t.43, tr.250.
(8) V.I.Lênin. Sđd., t.43, tr.81.
(9) V.I.Lênin. Sđd., t.45, tr.326.
(10) V.I.Lênin. Sđd., t.45, tr.102.
(11) V.I.Lênin. Sđd., t.43, tr.263.
(12) V.I.Lênin. Sđd., t.43, tr.267.
(13) V.I.Lênin. Sđd., t.44, tr.401.
(14) V.I.Lênin. Sđd., t.44, tr.403-404.
(15) V.I.Lênin. Sđd., t.45, tr.17.
(16) V.I.Lênin. Sđd., t.45, tr.128.
Các tin khác:
-
Bước tiến trong quan điểm của C.Mác về khủng hoảng kinh tế và giá trị thời đại của nó
(31/01/2022)
-
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và sự vận dụng vào công tác cán bộ trong giai đoạn hiện nay
(17/01/2022)
-
V.I.Lênin nói về thái độ của người cộng sản đối với tôn giáo trong cách mạng xã hội chủ nghĩa
(18/11/2021)
-
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và sự hiện thực hoá trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam
(21/10/2021)
-
Những điều cốt yếu trong di sản Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc để phát triển dân tộc tới chủ nghĩa xã hội
(18/11/2021)
-
Vận mệnh của học thuyết Mác về chủ nghĩa xã hội
(18/10/2021)
-
Quan hệ giữa nội dung và hình thức trong phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh
(18/10/2021)
-
Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh
(08/10/2021)
-
Sự kế thừa và phát triển học thuyết Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội, về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh
(18/10/2021)
-
Quan điểm của V.I.Lênin về vai trò của văn hóa và phát triển văn hóa trong thời kỳ quá độ
(07/09/2021)
Xem tin phát hành ngày: