Khoa học thần kinh (neurosciences) và đạo Phật

Theo François Jacob,
“Thế kỷ vừa qua quan tâm nhiều đến acid nucleic và protein.
Thế kỷ sắp tới sẽ tập trung vào ký ức và sự ham muốn.
Liệu chúng ta sẽ trả lời được những câu hỏi đó chăng?”.

Francis Crick còn khẳng
định một cách rõ rệt hơn: “Thế kỷ XX là thế kỷ của
di truyền học, thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của khoa học
thần kinh”. Điểm đặc biệt là chính ông, người đã cùng
với James Watson năm 1953 gây nên một cuộc cách mạng sinh học
khi khám phá ra mật mã gen qua cấu trúc của ADN, đã 30 năm
sau chuyển hướng nghiên cứu sang khoa học thần kinh cho đến
tận cuối đời.

Lý do có lẽ là, trong
mọi sự vật có mặt trong vũ trụ, còn có gì phức tạp,
tinh vi và kỳ diệu hơn là hệ thần kinh con người? Còn công
trình nào được kiến tạo công phu, rốt ráo hơn trong suốt
lịch sử tiến hóa của các loài vật? Và đối với con người,
còn điều gì hệ trọng hơn là hiểu biết được sự vận
hành tâm não của chính mình, với bao nhiêu hậu quả trên
đời sống cá nhân, gia đình và xã hội?

Từ lâu, sợi dây bí
mật nối liền tâm thức và thần kinh, linh hồn và thể xác,
cái mà Schopenhauer gọi là “chiếc nút của thế giới”,
đã được con người mải mê tìm kiếm, nhưng vẫn còn bị
bao phủ bởi một màn sương mù dầy đặc.

Ngay từ thời kỳ Cổ
đại, con người đã tìm hiểu về tâm thức, khi tâm lý
học
(psychologie) bắt đầu tách rời khỏi triết học,
tuy rằng những hiểu biết về tâm lý còn hết sức sơ sài.
Nhưng phải đợi tới thế kỷ XVI, thần kinh học (neurologie)
mới xuất hiện, với các mô tả giải phẫu học bởi André
Vésale, và cuối thế kỷ XVIII, y học tâm thần (psychiâtrie)
mới chính thức ra đời, khi Philippe Pinel cho phép tháo bỏ
gông cùm của những kẻ “điên” và bắt đầu xếp loại các
bệnh tâm thần.

Cuối cùng, khoa học
thần kinh
(neurosciences) mới thực sự nổi lên từ vài
chục năm nay, nhờ những tiến bộ vượt bực của các phương
tiện chẩn đoán hình ảnh và thăm dò chức năng. Não không
còn là một chiếc “hộp đen” đóng kín, không nhìn thấy gì
từ bên ngoài, mà đã trở thành một bộ phận có thể quan
sát và đo lường được, trong lúc hoạt động một cách bình
thường hay rối loạn vì bệnh tật.

Những tiến triển này
còn ở trong giai đoạn ban đầu, nhưng mỗi ngày một gia tăng
tốc độ, đồng thời được thúc đẩy bởi các áp dụng
công nghệ, phối hợp người máy (robot) và trí thông minh nhân
tạo, như máy móc hay xe lăn điều khiển bằng tư tưởng,
v.v.

Trong các đề mục nghiên
cứu, thiền định
đã được đặc biệt chú ý bởi
các nhà khoa học thần kinh. Nơi truyền thống ngàn năm đó,
đặc biệt phát triển trong đạo Phật, họ đã tìm thấy
một phương pháp tập luyện tâm não có khả năng điều trị
một số bệnh tật và rối loạn tâm thần, bằng cách thay
đổi lâu dài một số chức năng về nhận thức cũng như
về cảm xúc.

Song song với các công
trình nghiên cứu khoa học, đã có một phong trào xuất hiện
tại Tây phương, nhằm tạo điều kiện thuận lợi để trao
đổi, bắc cầu giữa các ngành khoa học thần kinh và đạo
Phật. Viện “Tâm thức và Sự sống” (Mind and Life Institute)
được thành lập năm 1987, hội tụ một số chuyên gia về
khoa học thần kinh và tâm lý học chung quanh đức Đạt Lai
Lạt Ma thứ 14, Tenzin Gyatso, với những hội thảo thường
niên về các vấn đề tâm não, tâm linh và đạo đức xã
hội.

Mở đầu hội thảo
đầu tiên, năm 1987, đức Đạt Lai Lạt Ma đã có lời nhắn
nhủ: “Trước hết, xin quí vị hãy nghiên cứu về những tác
dụng tích cực của thiền định. Nếu thấy kết quả tốt,
xin hãy dậy lại điều đó cho xã hội, trong tinh thần hoàn
toàn thế tục, để cho mọi người đều lợi lạc”. Ngài
còn bổ túc thêm: “Đây không phải là một vấn đề đức
tin và tín ngưỡng, mà đúng hơn là một ưu tư về đạo đức
và luân lý. Trách nhiệm làm người thúc đẩy chúng ta phải
dùng trí tuệ để hiểu biết thiên nhiên và sự vận hành
của tâm thức”.

Trong tinh thần đó, đã
có một số đóng góp tích cực của các tăng sĩ, thiền sư
vào các thí nghiệm khoa học, như ghi và đo hoạt động các
vùng não trong khi thiền định, bằng những máy móc tối tân
như điện não đồ (EEG) đa điện cực, cắt lớp phát positons
(PET-scan) và cộng hưởng từ chức năng (fMRI).

Những trao đổi, cộng
tác này đã đưa tới những kết quả, tuy còn hạn hẹp vì
mới tiến hành từ khoảng hai chục năm nay, nhưng rất thực
tiễn và đầy triển vọng. Đồng thời hai bên cũng không
tránh khỏi gây nên tương quan ảnh hưởng lẫn nhau, đạo
Phật trên khoa học cũng như khoa học trên đạo Phật.

Trong bài này, chúng ta
sẽ lần lượt xem xét:

1- Định nghĩa của neurosciences
và một vài từ gần cận

2- Tổng quan về sự
hình thành và tổ chức của hệ thần kinh

3- Tầm quan trọng của
cảm xúc trong đời sống thường nhật

4- Những điểm tương
đồng và những khác biệt giữa đạo Phật và khoa học thần
kinh

5- Những kết quả nghiên
cứu về tác động của thiền định trên sự vận hành của
tâm não

6- Chiều hướng nghiên
cứu trong tương lai về thiền định.

 

I.
Neurosciences là gì ?

Đáng lẽ ra, neurosciences
phải dịch ra tiếng Việt là thần kinh học, nhưng vì
từ này đã thường được dùng cho neurologie, cho nên
từ thích hợp nhất có lẽ là khoa học thần kinh.

Trên nguyên tắc, khoa
học thần kinh bao gồm tất cả những môn học liên
quan tới hệ thần kinh, như giải phẫu học thần kinh (neuroanatomie),
sinh hóa học thần kinh (neurobiochimie), sinh lý học thần
kinh
(neurophysiologie), nội tiết học thần kinh (neuroendocrinologie),
thần kinh học tế bào (neurosciences cellulaires), thần
kinh học phân tử (neurosciences moléculaires), v.v.

Nhưng thông thường người
ta dùng từ neurosciences để gọi tắt thần kinh học
nhận thức (neurosciences cognitives), một môn học xuất
hiện vào cuối thập niên 70 tại Hoa Kỳ, để đánh dấu sự
kết hợp giữa hai môn sinh học thần kinh (neurobiologie)
và tâm lý học (psychologie), với mục đích tìm hiểu
trực tiếp sự vận hành của tâm não bằng các phương pháp
khoa học (như lý, hóa, v.v.).

Trước đó, phong trào
khoa học nhận thức (sciences cognitives) được ra đời
vào cuối thập niên 50, đi ngược lại với phong trào tâm
lý học ứng xử (psychologie béhavioriste), thuộc tâm lý
học thực nghiệm
(psychologie expérimentale) thống trị
tại Tây phương từ cuối thế kỷ XIX, cho rằng mọi quá trình
tâm lý phức tạp đều có thể đo được bằng thí nghiệm
và sự quan sát ứng xử.

Trong thập niên 60, môn
tâm não học (neuropsychologie) được thành lập, nhằm
nghiên cứu những chức năng cao của não bộ sau các thương
tổn, nhưng cũng không mấy khác biệt với neurosciences.

Gần đây, một ngành
mới được tách ra là thần kinh học tình cảm
(neurosciences
affectives)
, đặt trọng tâm vào cảm xúc và tình cảm. Ngoài
ra, từ thần kinh học mặc niệm (neurosciences contemplatives)
cũng được dùng để chỉ ngành khoa học thần kinh chuyên
sâu về thiền định.

Hiện nay, những tiến
bộ của khoa học thần kinh không khỏi gây ảnh hưởng mạnh
trên tâm lý học và đặc biệt phân tâm học (psychanalyse)
đang bị lung lay đến tận gốc rễ.

Chúng ta cũng không nên
quên rằng chính Sigmund Freud, người cha đẻ của phân tâm
học, cũng đã khởi đầu bằng con đường nghiên cứu giải
phẫu học thần kinh, và đã từng tuyên bố năm 1914: “Chúng
ta phải nhớ rằng tất cả những ý kiến tạm thời của
chúng ta về tâm lý học sẽ có thể tìm thấy một ngày kia
một cấu trúc hữu cơ (organique) làm nền tảng”.

Có người đã đưa ra
giả thuyết là, nếu vào thời đó đã có những phát triển
đáng kể về thần kinh học, thì Freud đã không chuyển hướng
sang y học tâm thần và đã không sáng lập ra phân tâm học…

 

II.
Tổng quan về sự cấu tạo
và tổ chức của hệ
thần kinh

Trước khi đề cập
tới những tương quan giữa khoa học thần kinh và đạo Phật,
chúng ta hãy xét lại một số điểm căn bản về sự cấu
tạo và tổ chức của hệ thần kinh.

1) Hệ thần kinh, trên
mọi động vật, là kết quả của một qui hoạch gen.

Mỗi phôi có một bộ
gen (génome), gồm những nhiễm sắc thể (chromosomes), trên đó
có gắn các gen. Trong suốt thời gian phát triển phôi thai,
bộ gen kiểm soát sự tăng trưởng tế bào, qui định vị
trí, kích thước, hình dạng các bộ phận, và riêng đối
với não, những liên kết (connexions) giữa các vùng não.

Tổ chức chung của cơ
thể, sự xếp đặt các bộ phận theo một trật tự rõ rệt
được điều hành bởi các gen kiến trúc Hox, chung cho
tất cả mọi động vật có xương sống, trong khi sự cấu
tạo của não được kiểm soát bởi các gen phát triển.

Điều này giải thích
vẻ đồng nhất trong sự tổ chức tổng thể của hệ thần
kinh, đồng thời những khác biệt lớn lao về giải phẫu
học não bộ giữa các loài khác nhau. Ngược lại, trong một
loài, những cơ cấu trong não (như các nhân và bó sợi) đều
giống nhau.

2) Ở loài người,
khi mới sinh ra não chưa trưởng thành và tiếp tục phát triển
mạnh mẽ trong những năm đầu, dưới ảnh hưởng mỗi
ngày một quan trọng hơn của môi trường, gia đình và xã
hội.

Trọng lượng não của
trẻ sơ sinh chỉ bằng 30 % trọng lượng não người lớn (trong
khi ở loài khỉ là 75 %), nhưng gia tăng rất nhanh, gần bằng
não người lớn sau 4 năm. Lý do không phải là sự gia tăng
của số nơ ron (có phần giảm đi), mà là những liên kết
nơ ron mỗi ngày một thêm đông đảo, rậm rạp.

3) Những đặc điểm
của não loài người so với các động vật khác :

– Điểm thứ nhất, về
trọng lượng cũng như thể tích, não loài người lớn nhất
trong các loài (so với cơ thể). Ngoài ra, não cũng là bộ phận
chuyển hóa (métabolisme) cao nhất, tiêu thụ 20 % oxy và các
chất dinh dưỡng, trong khi trọng lượng não chỉ bằng 2 %
của trọng lượng toàn thân.

– Điểm thứ hai, vỏ
não
(cortex) là phần phát triển mạnh nhất, đặc biệt
tại
thùy trán (lobe frontal), chiếm 1/3 diện tích của
vỏ não.

Trong quá trình tiến
hóa của các loài, não không ngừng gia tăng, từ các loài không
xương sống, loài cá, loài bò sát, loài chim, rồi các loài
có vú, bậc thấp (như chuột, mèo), rồi bậc cao (như các
loài khỉ), cuối cùng tới loài người, là loài xuất hiện
cuối cùng trên chiếc thang tiến hóa.

Ngay khi so sánh sọ của
các loài trước người (préhominiens) và loài người, người
ta cũng thấy thể tích của sọ tăng rất nhanh, từ Australopithecus
(3 triệu năm, khoảng 500 cm3), tới Homo erectus (800 ngàn năm,
khoảng 1000 cm3), và cuối cùng tới loài người Homo sapiens
(200 ngàn năm, khoảng 1400 cm3).

Sự gia tăng đó mạnh
nhất là ở vỏ não trước trán (cortex préfrontal), chiếm
3,5 % diện tích vỏ não ở loài mèo, 7 % ở loài chó, 11,5 %
ở loài khỉ Rhesus, 17 % ở loài tinh tinh (chimpanzé), và 29 %
ở loài người.

Như vậy, có thể nói
rằng chính vỏ não, và đặc biệt vỏ não trước
trán
, là đặc điểm làm cho loài người vượt trội lên
so với các loài động vật khác. Điều đó cũng không làm
chúng ta ngạc nhiên, vì khả năng trí tuệ một phần lớn
nằm ở vỏ não trước trán.

4) Đơn vị căn bản
của não là nơ ron (neurone), tế bào thần kinh

Não loài người có khoảng
100 tỉ nơ ron, tổ chức rất chặt chẽ thành những mạng
lưới
(réseaux) nơ ron, thông tin với nhau bằng tín hiệu
điện-hóa
(signaux électro-chimiques) tại các xinap (synapses).

Trong quá trình tiến
hóa của các loài động vật, số nơ ron không ngừng gia tăng:
trong khi giun C. elegans chỉ có 300 nơ ron, sên biển có 20 ngàn,
ruồi 250 ngàn, ong 850 ngàn, chuột 40 triệu. Voi và cá voi có
đến 200 tỉ nơ ron, nhưng so với trọng lượng cơ thể thì
vẫn còn thua loài người rất xa.

5) Vai trò quan trọng
của xinap trong hoạt động của não

Xinap chính là nơi
các nơ ron liên kết với nhau: dưới một sự kích thích, thế
điện màng (potentiel de membrane) của một nơ ron trở thành
thế điện tác dụng (potentiel d’action) truyền qua sợi trục
(axone) tới một xinap. Tại đây, nó làm các túi (vésicules)
chứa đựng các chất truyền thần kinh (neuro-transmetteurs) thả
ra các chất này trong không gian xinap (espace synaptique). Các chất
này gây nên, nơi nơ ron sau, một thế điện tác dụng tiếp
tục truyền qua các nơ ron khác.

Mỗi nơ ron có từ 1000
đến 10000 xinap, như vậy tổng cộng não một con người có
hơn 1 triệu tỉ xinap.

Đặc điểm của các
xinap là có khả năng nhân lên hay tự hủy một cách vô cùng
nhanh chóng, gây nên những thay đổi liên kết giữa các mạng
lưới nơ ron, và giải thích tính chất mềm dẻo của
não (neuroplasticité). Các xinap được dùng thường xuyên sẽ
tồn tại và mạnh hơn, trong khi các xinap ít dùng sẽ yếu
dần và tự hủy, theo nguyên tắc “dùng thì phát triển, không
dùng thì bị loại bỏ” (use it, or loose it), một loại
thuyết Darwin áp dụng cho hệ thần kinh. Điều đó giải thích
vì sao người ta có thể phục hồi chức năng nhờ kiên trì
tập luyện, sau khi một phần não đã bị hủy diệt bởi một
cơn tai biến mạch máu chẳng hạn.

Như vậy, mỗi con người
sanh ra với một bộ não tổ chức giống nhau, một cách hết
sức chính xác do bộ gen qui định, nhưng ngay từ khi mới sanh
ra đã bắt đầu có những liên kết, những xinap khác biệt,
do những hoạt động của não khác nhau, do sự tương tác với
thế giới chung quanh, do ảnh hưởng giáo dục, văn hóa, môi
trường.

Mỗi người chúng ta
là một cá nhân đặc biệt, với một bộ não duy nhất. Theo
Joseph Ledoux, một nhà nghiên cứu chuyên về cảm xúc, “Chúng
ta là những xinap của chúng ta” (We are our synapses).

6) Vai trò quan trọng
và phức tạp của các chất truyền thần kinh (neuro-transmetteurs)
và các hormon

Mỗi chất truyền
thần kinh
, còn gọi là thần kinh trung gian (neuro-médiateurs)
như: acétylcholine, adrénaline, noradrénaline, dopamine, sérotonine,
glutamate, GABA, endorphines, v.v., bài tiết bởi một số cơ cấu
của não, có một cơ quan nhận (récepteur) riêng biệt. Chúng
tác động trên các vùng não khác nhau và có những chức năng
khác nhau.

Noradrénaline, endorphines,
endocannabinọdes và nhất là dopamine, đóng một vai trò
quan trọng trong sự ban thưởng và sự thích thú.
Sérotonine
có một ảnh hưởng quyết định trong sự điều hòa tính
khí, trong bệnh trầm cảm, sự lo lắng, sự thèm ăn và bạo
động. Đối chọi lại với hệ thống làm gia tăng sự thích
thú
, có một hệ thống gây nên sự khó chịu (déplaisir),
hai hệ thống này ngăn chặn nhau, giữ thăng bằng với nhau.

Hệ thần kinh cũng đóng
một vai trò thiết yếu trong sự điều hòa bài tiết các hormon,
qua các nhân vùng hạ đồi (hypothalamus) và tuyến yên (hypophyse).
Mặt khác, chính những hormon này cũng có ảnh hưởng đến
hoạt động của não, trong sự điều hòa các chức năng sinh
tồn (fonctions vitales) và một số cảm xúc.

7) Những phương tiện
hình ảnh chức năng mới

Trước kia, cho đến
những năm 1970, sự hiểu biết về khoa học thần kinh chủ
yếu dựa trên giải phẫu bệnh trên tử thi, thí nghiệm trên
động vật, và sự kích thích các vùng não trong khi mổ.

Từ thập niên 70, với
sự xuất hiện của chụp cắt lớp vi tính (CT scanner), rồi
cộng hưởng từ (MRI), các vùng não đã có thể quan sát được
trên người sống. Từ thập niên 80 và nhất là thập niên
90, thăm dò chức năng đã có những bước tiến khổng lồ,
đưa tới một cuộc cách mạng trong sự hiểu biết về sự
vận hành của não, đặc biệt về các hoạt động nhận thức
cao.

Các phương pháp hình
ảnh chức năng thần kinh (neuro-imagerie fonctionnelle) này có
thể chia ra làm 2 loại:

– a/ Đo lưu lượng
máu cục bộ (débit sanguin local) bằng
PET-scan (cắt
lớp phát positons, positons emission tomography), và fMRI (cộng
hưởng từ chức năng, functional magnetic resonance imaging). Vùng
nào lưu lượng máu càng cao, thì vùng đó hoạt động càng
mạnh.

– b/ Đo điện trường
(champ électrique) bằng EEG (điện não đồ, electroencephalo-graphy),
hoặc từ trường (champ magnétique) bằng MEG (từ
não đồ, magnetoencephalo-graphy), phát ra do sự hoạt động của
những mạng lưới nơ ron. Hoặc đo thế điện gây nên
(ERP, event related potential) bởi một sự kích thích hay
một hành động.

Những ưu, khuyết điểm
của các phương pháp hình ảnh chức năng đó là:

PET-scan: độ
phân giải thấp (4-8 mm); thời gian đo khá lâu (1 phút – 1 phút
rưỡi); không dùng được nhiều lần (vì tiêm chất phóng
xạ vào cơ thể).

fMRI: độ phân
giải cao (1 mm), càng cao khi nam châm càng mạnh; thời gian đo
tuy ngắn (1 giây) nhưng vẫn là dài so với hoạt động nơ
ron.

EEG: độ phân
giải rất thấp; tín hiệu rất nhanh so với hoạt động nơ
ron (vài chục ms). Muốn tăng độ phân giải, thì phải tăng
số điện cực (124 – 256), và dùng một phần mềm “định vị
nguồn” (localisateur de source), nhằm đo sâu hơn trong não.

Các nghiên cứu thường
được thực hiện tại một số ít phòng thí nghiệm được
trang thiết bị đầy đủ, dùng nhiều phương pháp phối hợp
với nhau.

Việc khai thác các dữ
liệu nhận được không phải là đơn giản, bởi vì thường
có nhiều vùng não hoạt động cùng một lúc. Mỗi mạng lưới
chức năng bao gồm nhiều vùng não, đồng thời mỗi vùng có
thể dùng trong nhiều mạng lưới khác nhau.

 

III.
Tầm quan trọng của cảm xúc trong đời sống thường nhật

Trong các hoạt động
của não, cảm xúc đóng một vai trò quan trọng, vì chúng ảnh
hưởng lên toàn bộ sự vận hành của não. Cảm xúc có một
ảnh hưởng quyết định, đôi khi mạnh hơn lý trí, trong sinh
hoạt thường nhật của con người.

Không có cảm xúc thì
sẽ không có động cơ thúc đẩy hành động, không có sáng
tác, không có thi vị, con người sẽ không là con người…

Và sở dĩ con người
khác máy vi tính, khác người máy, cũng chính là nhờ có cảm
xúc. Người ta có thể lập chương trình cho người máy biểu
hiện cảm xúc, biết khóc, cười, giận hờn, yêu ghét, v.v.,
nhưng đó không phải là cảm xúc thực sự, cảm nhận bởi
tâm thức con người. Hiện nay, phẫu thuật đã có thể thay
nhiều bộ phận cơ thể bằng bộ phận giả : từ răng, vú,
thủy tinh thể, háng, đầu gối, cho tới thận, tim nhân tạo…
nhưng có thể nào một ngày kia thay não bằng não giả, với
những cảm xúc giả? Đã có thể ghép thận, ghép tim, ghép
phỏi, ghép gan…, nhưng có thể nào ghép não, mà sau đó người
nhận vẫn là chính mình?

Nhưng dĩ nhiên, cảm
xúc cũng đặt nhiều vấn đề, khi chúng trở thành tiêu
cực
, phá hủy, hay lấn áp, không kiểm soát nổi.

Đối với đạo Phật,
cảm xúc chính là đầu mối, là trung tâm của các vấn đề
đặt ra cho con người. Khổ là gì, nếu không phải là một
cảm xúc? Và trong “tam độc”, thì ít ra “tham” và “sân” cũng
đều thuộc về cảm xúc…

Đối với nhà khoa học
thần kinh cũng vậy, một phần lớn các bệnh tâm thần
là do rối loạn cảm xúc, từ lo lắng (anxiété), trầm cảm
(dépression), cho tới bệnh tâm thần phân liệt (schizophrénie).

1) Các vùng não liên
quan đến cảm xúc

Cũng như mọi chức năng
cao phức tạp khác, cảm xúc không phụ thuộc vào một vùng
não duy nhất, mà là vào nhiều vùng, hoạt động một cách
tương ứng, phối hợp với nhau.

Tại não bộ, những
vùng thường được kích hoạt trong cảm xúc là (Hình 1):

– vỏ não trước trán
(cortex préfrontal), đặc biệt vùng bụng giữa (ventro-médian),

– hồi đai (gyrus
cingulaire) trước và sau,

– thùy đảo (insula),

– hạ đồi
(hypothalamus),

– trung não (mésencéphale)


– cầu não (pont).



Hình
1 : Sơ đồ mặt cắt dọc não

1:
trung não ; 2: cầu não ; 3: hành não ; 5: đồi thị ; 6: hạ
đồi

Ngoài ra còn có hai vùng
đặc biệt quan trọng đối với cảm xúc:

amiđan hay hạnh
nhân
(amygdale), là một nhân hình hạnh nhân, nằm hai bên
sâu trong não, về phía nền. Amiđan đóng một vai trò thiết
yếu trong một số cảm xúc tiêu cực, đặc biệt sự là sợ
hãi.

hải mã (hippocampe)
là một cơ quan hình dài nằm ngay phía sau amiđan, liên quan
tới trí nhớ. Hải mã cần thiết cho cảm xúc, vì nó cho phép
nhận ra bối cảnh của sự vật.

Những bất thường của
hải mã có thể gây nên rối loạn cảm xúc, đặc biệt là
trầm cảm và stress sau chấn thương (stress post-traumatique).
Người ta đã nhận thấy trong các trường hợp đó một sự
teo hẹp của hải mã, có thể ngăn ngừa được bằng thuốc
chống trầm cảm.

Những vùng đó thuộc
đường
vòng viền
(circuit limbique), đóng một vai trò quan trọng
trong cảm xúc (Hình 2).



Hình
2 : Sơ đồ đường vòng viền

amygdala
(hạnh nhân) ; hippocampus (hải mã) ;

parahippocampal
gyrus (hồi cận hải mã) ; cingulate gyrus (hồi đai)

Cảm xúc không phải
là đặc trưng của loài người, tuy rằng chúng phức tạp
hơn ở loài người so với các loài động vật khác. Chức
năng ban đầu của cảm xúc là gây nên một phản ứng thích
hợp để bảo tồn sự sống. Đó là những cảm xúc
bản
(basiques), được Derek Denton gọi là hàng đầu
(primordiales): như khát, đói, thiếu muối, thiếu không khí,
cần tiểu-đại tiện, dục tính sinh sản… có mặt trên mọi
động vật. Các vùng não liên quan đến những nhu cầu căn
bản đó nằm trong chiều sâu của não.

Điều này cũng tương
đối phù hợp với thuyết “tam-nhất não” (cerveau tri-unitaire)
của Paul Mc Lean, tuy rằng thuyết này đã bị coi là lỗi thời.
Theo ông, mỗi một lớp não thuộc vào một thời kỳ tiến
hóa : bên trong cùng là “não loài bò sát” (cerveau reptilien),
ở giữa là “não loài có vú cũ” (paléo-mammalien), và ngoài
cùng là “não loài có vú mới” (néo-mammalien). Do đó, tất cả
những cơ cấu và chức năng căn bản, cổ xưa nhất đều
nằm trong chiều sâu của não.

Trên một động vật,
cảm xúc sợ hãi gây nên bởi cái nhìn, cái nghe, cái
ngửi, v.v. phát hiện ra một sự hăm dọa, nhằm gây phản
ứng tự vệ, bằng một trong hai cách: “chống trả hoặc trốn
chạy”
(fight or flight).

Điểm đặc biệt là
não được tập luyện để gắn sự sợ hãi với một hình
ảnh (như một con rắn), một tiếng động (như một tiếng
gầm), một mùi vị (như một mùi hôi), hay một sự xúc chạm
(như giẫm lên một vật mềm), để phản ứng xẩy ra rất
nhanh, trước khi thông tin đi tới vỏ não, tức là trước
khi ý thức được sự hăm dọa đó.

Chẳng hạn như khi một
con chuột nhìn thấy một con rắn, hình con rắn được lập
tức chuyển tới đồi thị, và ngay sau đó tới các cơ quan
vận động để trốn chạy, trước khi hình rắn được nhận
diện ra bởi vỏ não kết hợp thị giác.

Như vậy, cảm xúc có
hai con đường: một con đường ngắn và một con đường
dài
: con đường ngắn nhanh hơn nhưng thô hơn, đi qua đồi
thị và gây phản ứng lập tức; con đường dài chậm hơn
nhưng chính xác hơn, đi qua vỏ não.

Điều này cũng giải
thích tại sao người ta có thể cảm thấy những biểu hiện
cơ thể của cảm xúc (ví dụ như tim đập mạnh, hơi thở
dồn dập, toát mồ hôi, đau quặn bụng…) do sự kích động
của hệ thần kinh-thực vật (neuro-végétatif), trước khi ý
thức rõ rệt được cảm xúc.

Nhìn dưới khía cạnh
khoa học thần kinh, một cảm xúc gọi là “tiêu cực”
như sự sợ hãi thật ra cũng tích cực, vì nó nhằm đến
bảo tồn sự sống, khi nó thích hợp với bối cảnh. Chỉ
khi nào nó không thích hợp với bối cảnh, thì mới là một
cảm xúc “tiêu cực”.

Chẳng hạn như trong
bệnh ám ảnh sợ (phobie), sự sợ hãi trở thành không căn
cứ, không thích hợp với bối cảnh, và có thể do một sự
bất thường, một rối loạn chức năng của hải mã.

Một điểm quan trọng
nữa là thùy trán, amiđan và hải mã có khả năng thay đổi
theo kinh nghiệm sống. Chúng bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi
môi trường cảm xúc nuôi dưỡng chúng và bởi kinh nghiệm
trải qua. Gần đây, người ta đã tìm thấy những tế bào
gốc tiếp tục nhân lên và biệt hóa thành nơ ron, đặc biệt
tại hải mã, chứng minh rằng não của người già cũng có
thể trẻ đi (một phần nào đó)!

2) Vai trò điều tiết
cảm xúc của thùy trán trong

Thùy trán chia ra làm
hai phần (Hình 3): phần sau là vùng vận động (moteur)
và vùng
trước vận động (prémoteur), phần trước là
vùng trước trán (préfrontal). Nhìn vào mặt trong, ta sẽ
thấy mặt trong của những vùng trên, và hồi đai (gyrus
cingulaire).



Hình
3 : Sơ đồ thùy trán

motor
(vận động) ; premotor (tiền vận động) ;

prefrontal
(trước trán) ; limbic (viền, ở đây cingula)

Sự phân chia của vỏ
não trước trán
(cortex préfrontal) khá phức tạp (Hình 4).



Hình
4 : Sơ đồ vùng trước trán

dorso-lateral
(lưng bên) ; ventro-medial (bụng giữa) ; orbito-frontal (hốc mắt-trán)

Người ta có thể chia
ra làm 3 phần: trên, giữa và dưới; nhưng nếu đứng về
mặt chức năng, thì chia ra làm 5 phần hợp lý hơn: phần lưng
bên (dorso-latéral), phần bụng bên (ventro-latéral), phần bụng
giữa (ventro-médian), phần hốc mắt-trán (orbito-frontal), và
phần đầu trước (polaire).

Chỉ cần nhớ là vỏ
não bụng giữa (ventro-médian) đóng một vai trò quyết
định trong cảm xúc. Những người bị thương tổn vùng này
thường bị rối loạn điều hòa cảm xúc, với những cảm
xúc bồng bột, diễn tả một cách khó khăn, đồng thời không
nhận ra cảm xúc của người khác.

Đầu trước (polaire)
của thùy trán rất quan trọng đối với chức năng nhận thức,
đặc biệt về kế hoạch hóa (planification), và đặt mục
đích cho hành động. Nói chung, sự thúc đẩy (motivation) và
ý chí hành động tùy thuộc vào vùng này.

Vỏ não trước trán
đóng vai trò điều tiết cảm xúc, trong khi cảm xúc được
kích động từ amiđan. Hai vai trò đó tuy khác biệt,
nhưng được kích hoạt cùng một lúc.

Cảm xúc (chẳng hạn
như sợ hãi) được điều tiết bởi hải mãvỏ
não trước trán giữa
: hải mã điều tiết về bối cảnh
(ví dụ như khi nhìn thấy một con rắn trong bụi cây hay trong
một hòm kính sẽ gây nên cảm xúc khác nhau), trong khi vỏ
não trước trán giữa điều tiết mức độ biểu hiện.

Vùng trước trán giữa
là vùng có nhiều liên kết nhất với amiđan, và có chức
năng ức chế hoạt động của amiđan. Amiđan kích hoạt
mạnh trên những người hay lo lắng (anxiété), bị stress sau
chấn thương, hoặc trầm cảm (dépression), và sự kích hoạt
này giảm đi mỗi khi sự kích hoạt của vỏ não trước trán
giữagia tăng.

Đặc biệt vùng trước
trán bên trái là vùng ức chế hoạt động của amiđan
một cách rõ rệt nhất.

3) Sự khác biệt giữa
hai vùng trước trán phải trái

Ở con người cũng như
ở các động vật linh trưởng bậc cao (primates supérieurs),
hai vùng trước trán phải trái đóng những vai trò quan
trọng khác nhau về cảm xúc:

– vỏ trước trán (cortex
préfrontal) trái trong các
cảm xúc tích cực (émotions
positives),

– vỏ trước trán phải
trong
các cảm xúc tiêu cực (émotions négatives).

Nói một cách giản lược,
khi vùng trước trán trái hoạt động mạnh hơn thì người
ta cảm thấy vui vẻ, yêu đời, khi vùng trước trán
phải
hoạt động mạnh hơn thì người ta cảm thấy buồn bã, chán
đời. Hoặc khi thấy một người luôn luôn vui tính, dễ dãi
thì có thể đoán là vùng trước trán
trái người ấy
hoạt động rất mạnh; khi thấy một người lúc nào cũng
buồn phiền, ủ dột, thì chắc là vùng trước trán
phải
người ấy hoạt động quá nhiều.

Và giả sử nếu bạn
phải lựa chọn một người bạn đời, thì bạn khỏi cần
xem bói tay, lấy số tử vi hay làm nhiều thử nghiệm tâm lý
mà chi. Cứ làm cho người ấy một EEG đa điện cực và so
sánh hoạt động giữa hai vùng trước trán là sẽ thấy rõ
ngay!

4) Phản ứng trước
cảm xúc: vai trò của tính khí (tempérament, humeur)

Trước một sự kiện
gây nên một cảm xúc mạnh, phản ứng của mỗi cá nhân có
thể rất khác nhau tùy theo tình trạng của tâm não. Một phần
là do gen, nhưng một phần cũng là do kinh nghiệm
sống của mỗi người.

Điều mà chúng ta thường
nhận thấy là mỗi cá nhân có một tính khí riêng: người
thì luôn luôn vui vẻ, lạc quan, yêu đời; người thì luôn
luôn ủ dột, bi quan, chán đời; người thì lại tính khí
thất thường, lúc vui, lúc buồn. Điểm đặc biệt là tính
khí không thay đổi nhiều vì hoàn cảnh. Chẳng hạn
như sau một tai nạn nặng, bị liệt nửa người, hay mất
người thân, người ta có khuynh hướng trở lại tính khí
ban đầu rất nhanh: người lạc quan chỉ mấy tháng sau là
vui vẻ ngay trở lại, trong khi người bi quan tiếp tục than
vãn trong hàng chục năm trời. Người ta cũng nhận thấy tính
khí của những kẻ sinh đôi thực sự rất giống nhau, mặc
dù được nuôi dưỡng trong những hoàn cảnh khác nhau. Như
vậy, dường như mỗi người được sinh ra với một mức
độ sinh lý, một sự cân bằng về tính khí vui/buồn, qui
định bởi gen.

Sự khác biệt phản
ứng chính là ở “chức năng phục hồi” (fonction de rétablissement),
tức là thời gian cần thiết để tâm não trở lại trạng
thái bình thường, sau khi bị dao động bởi cảm xúc. Trước
các hình ảnh tiêu cực (ví dụ như gây sợ hãi), những người
trở lại trạng thái bình thường nhanh nhất là những người
amiđan kích hoạt ít nhất (về cường độ cũng như
thời gian) và vỏ não trước trán trái kích hoạt mạnh
nhất. Những người đó cũng là những người tỏ ra năng
động, hăng hái, lạc quan trong đời sống hàng ngày. Khi cần,
họ cũng có nhiều khả năng điều tiết được cảm xúc của
họ, như ngăn chặn được cơn giận hay sự sợ hãi, hơn những
người khác.

Ngoài ra, họ cũng có
tỉ lệ cortisol trong máu thấp hơn. Cortisol là một hormon
bài tiết bởi tuyến thượng thận (surrénales), và sự bài
tiết này được điều hành bởi não. Mỗi khi có một sự
kiện gây stress xẩy ra, cortisol được bài tiết và tỉ lệ
trong máu tăng cao nhưng trở lại bình thường rất nhanh ở
những người phục hồi nhanh chóng. Ở những người phục
hồi chậm hơn, sự kéo dài tình trạng tỉ lệ cortisol cao
có thể làm hủy diệt các tế bào của hải mã (hippocampe).
Điều này đã được nhận xét trên những người bị bệnh
stress sau chấn thương và bệnh trầm cảm.

Cuối cùng, những người
có khả năng phục hồi nhanh chóng sau các cảm xúc tiêu cực,
sau stress, cũng có chức năng
miễn dịch tốt hơn, chẳng
hạn như sự gia tăng hiệu suất của các tế bào chuyên chống
lại một số kháng nguyên, từ bên ngoài vào như các vi khuẩn,
hoặc tế bào ung thư của chính mình.

Như vậy, một sự điều
hòa cảm xúc tốt có thể mang lại lợi ích cho sức khỏe
của cả cơ thể.

5) Trí tuệ cảm xúc
(intelligence émotionnelle)

Từ khoảng hai chục
năm nay, khoa học thần kinh đã bắt đầu chú trọng tới cảm
xúc, và đặc biệt tới những liên hệ giữa cảm xúc và
nhận thức
.

Kinh nghiệm cho thấy
cảm xúc rất nhiều khi ảnh hưởng vào sự nhận thức, và
đôi khi đóng vai trò quyết định trong sự lựa chọn, theo
cái mà người ta thường gọi là “sự khôn ngoan của trái
tim” (sagesse du coeur), mà các nhà khoa học gọi là trí tuệ
cảm xúc
(intelligence émotionnelle). Do đó, đã có những
đề nghị đo lường khả năng thành công của một người
không phải bằng thương số trí thức (quotient intellectuel,
QI), mà bằng
thương số cảm xúc (quotient émotionnel,
QE).

Một điểm quan trọng
mới được khám phá ra là thùy trán cần thiết cho cả
hai phần trí tuệ nhận thức và cảm xúc.

Nhà thần kinh học Antonio
Damasio đã đưa ra trường hợp điển hình của ông Phineas
Gage, nhân viên xe lửa Mỹ, bị chất nổ làm một thanh sắt
xuyên qua sọ ông, phá hủy một phần lớn của thùy trán hai
bên. Sau khi thoát hiểm, ông trở lại làm việc gần như bình
thường, nhưng tính tình thay đổi hẳn: từ một nhân viên
đứng đắn, chăm chỉ, lễ độ, ông trở nên tính khí thất
thường, ưa bỡn cợt, không còn kính trọng ai. Chức năng
vận động, cảm giác, ngôn ngữ, trí nhớ ông vẫn như xưa,
nhưng ông không còn biết thu xếp công việc, đồng thời trở
nên lạnh nhạt, cảm xúc thất thường và không màng gì đến
đạo lý. Hội chứng trán (syndrome frontal) ông mắc phải
chứng minh tầm quan trọng của thùy trán trong đời sống trí
thức, tình cảm và xã hội của con người.

6) Nơ ron gương (neurones
miroirs)

Trong thập niên 90, Giacomo
Rizzolati và cộng sự tại ĐH Parma, đã làm một khám phá quan
trọng.

Ông ghi lại hoạt động
của những nơ ron vùng trước vận động của một con khỉ
bằng những đầu điện hết sức nhỏ. Khi con khỉ nhìn một
động tác ông làm, chẳng hạn như lấy một trái phỉ (noisette),
thì nhóm nơ ron vùng trán vận động của nó cũng kích hoạt
như khi chính nó làm động tác đó.

Và ngay cả khi một con
người nhìn một cảnh vật (như một bộ ấm trà), hoặc nhìn
một tác động đơn lẻ (như tay đưa ra về phía chén trà),
hay một tác động trọn vẹn (như lấy chén trà đưa lên miệng
uống), thì cũng có những vùng não tương tự kích hoạt (vùng
nhìn, cảm giác, và vận động), tuy có hơi khác nhau đôi chút.
Những thí nghiệm về cảm xúc cũng đưa tới kết luận tương
tự.

Như vậy, hiện tượng
“nơ ron gương”, xẩy ra thường xuyên ở loài người cũng ở
các loài vật, cho ta thấy rõ rằng: quan sát một hành động
đã là thực hiện hành động đó
, và tri giác (percevoir)
một cảm xúc đã là cảm nhận được cảm xúc đó
. Nó
giải thích tại sao con người trong đời sống hằng ngày có
khuynh hướng bắt chước nhau (không khác gì con khỉ, hay con
vẹt!). Nó giải thích tâm lý đám đông, sự lây nhiễm bạo
động, ảnh hưởng của phim ảnh bạo động trên thanh thiếu
niên, cũng như sự cảm thông về tình cảm và cảm xúc giữa
những con người. Cảm xúc được truyền thông từ tâm não
này qua tâm não nọ qua những nơ ron gương phản chiếu lẫn
nhau…

 

IV.
Những điểm tương đồng
giữa khoa học thần kinh và
đạo Phật

Xét ra thì có rất nhiều
điểm tương đồng giữa khoa học thần kinh và đạo Phật.
Đó là:

1) Sự hiếm có của
thân phận làm người

Trong đạo Phật

câu: “Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn” (Thân người khó
được, Phật pháp khó nghe). Trong Kinh Pháp Hoa, đức Phật
dùng ẩn dụ con rùa mù và bọng cây để so sánh sự khó khăn,
hi hữu khi được làm người: “Như một bọng cây ở giữa
có một lỗ hổng nhỏ, nổi trên mặt biển, trôi dạt khắp
nơi. Có một con rùa mù nằm dưới đáy biển, một trăm năm
mới trồi lên một lần. Như vậy thì chừng nào con rùa mới
chui đầu được vào lỗ hổng của bọng cây?” Sanh ra làm
người cũng khó khăn, hi hữu như vậy, và chỉ có con người
mới có khả năng trí huệ (pađđa), đưa tới giác ngộ (bodhi).

Khoa học cũng quan
niệm rằng mỗi sự sống là một điều vô cùng hi hữu: từ
sự kết hợp của một tinh trùng (trên hàng chục triệu tinh
trùng) và một noãn, trở thành trứng rồi phát triển qua những
giai đoạn phôi-thai, đến khi sinh ra thành một con người,
đã trải qua bao nhiêu là thử thách. Đó cũng là kết quả
của hàng tỉ năm tiến hóa, qua bao nhiêu thế hệ truyền thừa
và thay đổi gen.

Trong các loài vật, con
người may mắn được sinh ra với cơ quan tinh vi nhất của
sự sống là não bộ loài người, một mạng lưới khổng
lồ gồm 100 tỉ nơ ron, hơn 1 triệu tỉ xinap, không ngừng
hoạt động, với tính chất mềm dẻo và khả năng gần như
vô hạn…

2) Tất cả đều liên
đới với nhau

Điểm nổi bật lên
trong vũ trụ quan của đạo Phật là lý “duyên khởi”,
hay “vòng nhân duyên” (paticca-samuppada). “Cái này có thì cái
kia có, cái này không thì cái kia không, cái này sinh thì cái
kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt, v.v.”. Đó cũng là
sự tương quan, tương tác, tương hữu (“inter-être”) của mọi
sự vật. Không có gì không có liên hệ, hay biệt lập với
những cái khác.

Trong khoa học
vật lý hay thần kinh cũng vậy, tất cả đều
liên đới, liên kết với nhau (“interconnecté”). Hệ thần kinh
được tổ chức dưới hình thức những mạng lưới, với
các tế bào, nhân, bó sợi, chất truyền, cơ quan nhận, ảnh
hưởng lẫn nhau, đưa những thông tin ngang cũng như dọc đan
díu vào nhau.

Như vậy, đạo Phật
và khoa học chia sẻ với nhau một cái nhìn tổng thể
(holistique) về thế giới.

3) Tất cả chúng sanh
đều thân thiết với nhau

Đạo Phật chủ
trương đem lòng từ bi (metta, karuna) rải tới mọi chúng
sanh, như lời đức Phật dậy trong Kinh Từ Bi: “Như mẹ hiền
thương yêu con một, Dám hy sinh bảo vệ cho con, Với muôn loài
ân cần không khác, Lòng ái từ như bể như non”, và Kinh Kim
Cương: “Có bao nhiêu chúng sinh trong vũ trụ, dù chúng sinh ra
từ trứng, từ thai, từ nơi ẩm thấp, hay hóa sinh, dù chúng
thuộc loài hữu sắc hay vô sắc, dù chúng thuộc loài có tri
giác hay không có tri giác, tất cả đều phải được ta dẫn
vào Niết Bàn”. Lòng từ bi phát xuất từ trực giác là loài
người cũng như các loài vật đều là những chúng sinh hữu
tình, thân thiết với nhau.

Khoa học đã chứng
minh rằng trong sự tiến hóa trên trái đất, từ lúc xuất
hiện tế bào đầu tiên thủy tổ của sự sống (khoảng 3
tỷ năm), các bộ gen biến đổi dần, đưa tới sự hình thành
của các loài vật và cuối cùng là loài người.

Nhìn kỹ, thì chúng ta
thấy sự khác biệt gen giữa các loài vật và loài người
thật ra không nhiều: về số lượng, thì các loài có vú,
trong đó có loài người, đều có khoảng 30000 gen. Về sự
khác biệt gen, thì loài người chia sẻ với nhiều loài vật
đa số các gen (hơn 98 %). Thí dụ như người và chuột chỉ
khác nhau 300 gen; người và các loài khỉ lớn (như tinh tinh,
khỉ đột) giống nhau 99 % gen.

Như vậy, có thể nói
rằng loài người với các loài vật là bà con, họ hàng với
nhau.

Và chính vì loài người
có nhiều nơ ron hơn, có trí thông minh hơn, có khả năng ảnh
hưởng đến thiên nhiên hơn, cho nên chúng ta phải có trách
nhiệm nhiều hơn đối với các loài khác, và đối với trái
đất.

4) Tâm-não là điều
quan trọng nhất

Đối với
đạo Phật,
tất cả ở tại tâm, cũng như những câu :

“Tâm (mano) dẫn đầu
tất cả, tâm là chủ, tâm tạo tác tất cả” (Pháp Cú, 1).

“Dĩ tâm vi tông, dĩ vô
môn vi pháp môn” (Lấy tâm làm chủ, lấy cửa không làm cửa
Pháp)(Kinh Lăng Già).

“Tâm địa là bản nguyên
của vạn pháp” (Kinh Lăng Nghiêm).

Theo khoa học thần
kinh
, sự liên hệ giữa các động vật có hệ thần kinh
(trong đó có con người) và thế giới, sự sinh tồn của chúng,
đều cần đến sự hoạt động của não. Sự chết được
định nghĩa là sự ngưng hoạt động vĩnh viễn của não,
do sự hủy diệt của toàn bộ nơ ron.

5) Tất cả chuyển
đổi không ngừng

Đối với
đạo Phật,
mọi hiện tượng đều vô thường (anicca), nghĩa là không
có gì không thay đổi từng sát na (phần nhỏ của giây) một.

Khoa học thần kinh
cũng cho biết rằng hoạt động của não không bao giờ ngưng
nghỉ (ngay cả trong giấc ngủ), do những xinap luôn luôn đổi
thay. Và chính nhờ những đổi thay không ngừng đó, tâm-não
mới có được tính chất mềm dẻo (plasticité), linh động.
Ngay cả các biểu hiện của gen cũng có thể đổi thay, từ
thế hệ này qua thế hệ khác.

6) Không có cái ta,
chỉ có cảm tưởng có cái ta

Đối với
đạo Phật,
tất cả đều vô ngã (anatta), không có tự tính biệt lập.
Cái “ta” chỉ là một cảm tưởng, một sự tụ họp tạm thời
của 5 uẩn (khanda, agrégats), là sắc (rupa, forme), thọ (vedana,
sensations), tưởng (sađđa, perception), hành (sankhara, volitions),
và thức (viđđana, conscience).

Theo khoa học thần
kinh
, các cảm giác (sensations), tri giác (perception), ý muốn
(volitions), cảm xúc (émotions), ngôn ngữ (langage), ký ức (mémoire),v.v.
đều nẩy sinh từ sự kích hoạt của các vùng não khác nhau,
ngay cả trạng thái tỉnh thức cũng do sự kích hoạt của
tổ chức hình lưới (formation réticulaire) trong thân não. Nhưng
tuyệt nhiên không có vùng nào có thể gọi là cái “ta” (ego,
self), không có một trung tâm nào trong não có thể gọi là
trung tâm của cái “ta”.

7) Cảm nhận của
con người về sự thật dễ sai lầm

Theo đạo Phật,
con người hay bị ảo tưởng, vọng tưởng, tà kiến, do vô
minh (avijja) làm vẩn đục cái tự tánh trong sáng sẵn có.
Do đó, con người phải luôn luôn tự nhắc nhở mình rằng
tất cả mọi hiện tượng là hư vọng, là mộng huyễn, không
có thực thể hay cố định.

“Sắc tức thị không
[…] thọ tưởng hành thức diệc phục như thị” (Bát Nhã
Tâm Kinh)

“Phàm sở hữu tướng,
giai thị hư vọng” […] “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng
huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điện, ưng tác như thị
quán” (Kinh Kim Cương).

Theo khoa học thần
kinh
, sự tri giác của con người về thế giới luôn luôn
là ảo giác, vì mọi thông tin phải truyền qua các mạng lưới
thần kinh, và phụ thuộc vào hoạt động của chúng.

Ngay cả ký ức cũng
bị đổi thay, bóp méo, ảnh hưởng bởi cảm xúc.

Ngoài những ảo ảnh
(illusions optiques) vẫn thường xuyên xẩy ra, thì các cảm giác
luôn luôn được biểu tượng (interprété) bởi não.

Về thời gian, từ hình
ảnh trên võng mạc đi tới vỏ não nhìn, rồi tới khi nhận
thức ra hình ảnh là gì, thì đã có mấy trăm ms trôi qua.
Ý thức về sự vật không còn là sự vật. Héraclite đã từng
nói: ” Người ta không bao giờ tắm hai lần ở một dòng sông
“. Thật ra, một lần người ta cũng không bao giờ tắm, bởi
vì vừa mới mặc đồ tắm xong, thì dòng sông đã là dòng
sông khác rồi; và cũng không bao giờ tắm cùng một dòng sông,
vì mỗi làn nước trôi trên da đã là một làn nước khác,
và chính mình cũng đã đổi thay…

Như vậy, không thể
nào “nhìn được sự thật như là sự thật”. Chỉ có một
sự thật trực tiếp cảm nhận được bởi tâm-não, chính
là sự hoạt động của nó.

8) Tầm quan trọng
của cảm xúc (émotions) trong đời sống nội tâm

Đối với
đạo Phật,
cảm xúc chính yếu thúc đẩy con người đi tìm con đường
giải thoát là khổ đau (dukkha). Người ta khổ vì những phiền
não, lậu hoặc (kilesa), mang lại bởi những cảm xúc không
tốt (akusala), tiêu cực, trong đó có ba cái rễ (mula) là tham
(lobha), sân (dosa), và si (moha).

Đối với
khoa học
thần kinh
, cảm xúc vô cùng quan trọng vì là động cơ
thúc đẩy hành động, và gây ảnh hưởng không nhỏ lên trí
thức (intelligence émotionnelle).

9) Điều quan trọng
là ý muốn (volitions)

Theo đạo Phật,
ý muốn hành động tạo nghiệp (kamma-cetana) mới là quan trọng,
chứ không phải là hành động. Điều này khác hẳn Ấn Độ
giáo, vì theo tôn giáo này, một hành động dù không cố ý,
vẫn tạo nghiệp.

Theo khoa học thần
kinh
, hành động là một hoạt động phức tạp của não,
cần sự phối hợp của nhiều vùng não: cảm giác, vận động,
kế hoạch, điều phối… Do hiện tượng “nơ ron gương”, tri
giác hành động đã là có ý muốn hành động, và tri giác
cảm xúc đã tự nó gây nên cảm xúc.

10) Khả năng thay đổi
tâm-não của con người

Theo lời dậy của đức
Phật
, người nào cũng có thể tự giải thoát, cũng có
khả năng giác ngộ, dù là khởi đầu với một tâm địa
đầy rẫy tham, sân, si. “Tu là chuyển nghiệp” là tựa đề
của một cuốn sách viết bởi HT Thanh Từ. Nó có nghĩa là
sự tu tập của con người có khả năng chuyển đổi được
nghiệp của chính mình. “Chuyển hóa” cũng là một từ hay được
dùng bởi Thiền sư Nhất Hạnh.

Khoa học thần kinh
ngày nay cũng nhấn mạnh vào một đặc điểm của não, là
sự mềm dẻo do sự thay đổi các xinap nhờ sự luyện tập.
Ngay cả người lớn tuổi vẫn còn có thể nhân tăng nơ ron,
và trau dồi tâm não.

11) Năng lượng có
mặt trong vật chất

Bài kệ của thiền sư
Khuông Việt nói rõ lên điều này: “Mộc trung nguyên hữu hỏa,
Hữu hỏa, hỏa hoàn sanh. Nhược vị mộc vô hỏa, Toản toại
hà do manh?”(Trong cây vốn có lửa, Có lửa, lửa mới bừng,
Nếu bảo cây không lửa, Cọ xát do đâu bừng?). Đạo Phật
không phân biệt vật chất và năng lượng, cũng như trong câu
nổi tiếng của Bát Nhã Tâm Kinh “Sắc bất dị không, không
bất dị sắc. Sắc tức thị không, không tức thị sắc”.

Trong khoa học cũng
vậy. Vật lý học cho thấy rõ rằng năng lượng có sẵn trong
vật chất, dù là trong than, dầu lửa, hơi, nước, trọng lượng,
động năng (E = mc²) hay dưới khía cạnh vi mô, các lực hấp
dẫn, điện từ, hạt nhân mạnh và yếu. Khoa học thần kinh
cũng chứng minh rằng điện lực, là năng lượng đưa tới
sự vận hành của não, phát xuất từ chính các nơ ron, qua
những phản ứng lý hóa phân tử.

12) Tâm (mental) với
não (cerveau) là hai hay là một?

Như đã nói trên, đạo
Phật
quan niệm có một cái “ta” tạm thời, do sự tụ họp
của năm uẩn. Người ta vẫn quen phân chia con người ra làm
hai phần : tinh thần và vật chất, và cho rằng uẩn đầu
(sắc) thuộc về vật chất, và bốn uẩn sau (thọ, tưởng,
hành, thức) thuộc về tinh thần. Như vậy thì tâm thuộc vào
tinh thần và não thuộc về vật chất, hai cái đó dường
như hoàn toàn khác nhau.

Nhưng thật ra, nếu đi
sâu vào cốt tuỷ của giáo lý đạo Phật, một khi hiểu được
hai khía cạnh của sự thật, sự thật tương đối (tục đế)
và sự thật tuyệt đối (chân đế), thì chúng ta thấy rõ
rằng sự phân chia thành năm uẩn, tinh thần và vật chất,
chỉ là một giả lập, một phương tiện trình bầy tiện
lợi. Lý “vô ngã”, “duyên khởi” của đạo Phật chỉ có thể
đưa tới một cái nhìn tổng thể, vượt khỏi nhị
biên. Như vậy, tâm hay não chỉ là hai cách gọi, hai khía cạnh
của một sự thực thể. Và thực thể đó cũng có thể gọi
tâm-não.

Trong khoa học thần
kinh
, đã nẩy lên một sự đồng thuận rõ rệt hơn. Ngay
từ 1802, nhà bác sĩ và sinh lý học Pháp Cabanis đã tuyên bố:
“Não tiết ra tư tưởng cũng như gan tiết ra mật”. Ngày nay,
ngoại trừ Sir John Eccles (Giải Nobel Y học 1963), hầu hết
tất cả các nhà khoa học thần kinh đều cho rằng tâm là
sự vận hành của não, và không trú ngụ ở một vùng đặc
biệt nào. Nói một cách ngắn gọn như Derek Denton (ĐH Melbourne),
“Tâm là cái gì não làm” (The mind is what the brain does).

Đối với đạo Phật
cũng như đối với khoa học, sự sống là một thực thể
đồng nhất, không thể phân chia được, mặc dù nó đa dạng
và luôn luôn biến đổi.

Tuy nhiên, khi câu hỏi
này được đặt ra cho quần chúng, dù là Phật tử hay không
là Phật tử, thì đa số vẫn nghĩ rằng tâm và não khác nhau,
hoặc là tâm không chỉ nằm trong não, không thể “đơn giản
hóa” là não, mặc dù cả hai liên quan chặt chẽ với nhau.

Có người cho rằng đó
là một câu hỏi không thể nào trả lời được, hoặc là
không cần thiết. Và có người còn dùng cách phủ định của
ngài Long Thụ (Nagarjuna): “bất nhất, bất dị”, tức là tâm
và não không phải là một, mà cũng không khác nhau; hay của
ngài Na Tiên (Nagasena): “na ca so, na ca añño” (không như vậy,
không khác vậy).

Có thể quan niệm theo
“trung đạo” này phù hợp với đạo Phật hơn cả. Dù sao,
đó chỉ là những quan điểm, không có gì là quan trọng.

 

V.
Những khác biệt giữa khoa học thần kinh và đạo Phật

Ngược lại với rất
nhiều điểm tương đồng giữa khoa học thần kinh và đạo
Phật, thì chỉ có rất ít điểm khác biệt. Đó là:

A) Về vũ trụ quan
:

Đạo Phật giải
thích những gì xẩy ra bằng luật nhân quả, do nghiệp (kamma)
tích lũy từ kiếp này qua kiếp khác, từ vô thỉ.

Trong khi khoa học
nói chung và khoa học thần kinh nói riêng, giải thích
sự có mặt của sự sống trên trái đất, sự tiến hóa của
các loài vật trong mấy trăm triệu năm cho tới loài người
homo sapiens (200000 năm), theo các định luật lý – hóa và luật
chọn lọc tự nhiên. Sự hình thành của não chủ yếu là
do bộ gen, và sau đó nó phát triển không ngừng do kinh nghiệm
tích lũy.

B) Về mục đích và
phương tiện

Đạo Phật chỉ
có một mục đích duy nhất là diệt khổ, giải thoát. Trong
Kinh, đức Phật có nói: “Này các tỳ kheo, cũng như nước
biển chỉ có một vị mặn, những điều ta dậy chỉ có một
mục đích : đó là giải thoát”. Tự giác, giác tha, cứu khổ
chính là lý tưởng của Đại Thừa.

Phương tiện của đạo
Phật là tu tập theo con đường chánh 8 nẻo, 3 vô lậu học
“giới (sila), định (samadhi), huệ (pađđa)”, làm thế nào để
trụ và hàng phục tâm (như câu hỏi của Tu Bồ Đề trong
Kinh Kim Cương: “Ưng vân hà trụ, vân hà hàng phục kỳ tâm?”).
Đó cũng là phương pháp “phản quan tự kỷ”, theo tinh thần
Thiền tông. Ngoài ra, Đại thừa và Kim Cương thừa còn dùng
đến những phương tiện thiện xảo (upaya-kusala), để đạt
tới mục đích.

Mục đích của khoa
học thần kinh
rộng lớn hơn: đó là hiểu biết mọi khía
cạnh, mọi lãnh vực của hệ thần kinh, một cách khách quan,
khoa học.

Phương tiện dùng là
tất cả mọi phương tiện khoa học kỹ thuật (thí nghiệm
trên đồ vật, sinh vật, và người).

Tuy vậy, đạo Phật
cũng có thể được xem như một ngành áp dụng của khoa học
thần kinh, tức là một phương pháp trị liệu cho một
số bệnh tâm thần, và một phương pháp
tập luyện tâm
thức
cho những người khoẻ mạnh.

Và nếu lấy ánh sáng
làm hình ảnh để so sánh, thì khoa học có thể được xem
như một ánh đèn lan tỏa khắp nơi, trong khi đạo Phật như
một tia laser tụ vào một điểm, tức là sự giải thoát,
giác ngộ.

 

VI.
Thiền định và khoa học thần kinh

Từ lâu, người ta đã
nghiên cứu về tác động của thiền định trên sức khoẻ,
nhưng những nghiên cứu trước đây chưa được đánh giá
là khoa học và đáng tin cậy, do phương tiện còn hạn chế
và phương pháp thiếu chặt chẽ.

Trong những năm gần
đây, thiền định được các nhà khoa học thần kinh đặc
biệt quan tâm tới, vì:

1) nghiên cứu về thiền
có thể giúp hiểu biết thêm về những chức năng cao của
não;

2) thiền định đã tỏ
ra hữu hiệu trong sự điều hòa một số rối loạn tâm thần;

3) thiền định cũng
được xem là một phương pháp tập luyện tâm thức bổ ích
cho sức khoẻ.

Ngoài đạo Phật ra,
cũng có những truyền thống “thiền định” trong một số ngành
tôn giáo khác (như Ấn Độ giáo, Do Thái, Ky Tô giáo, Hồi
giáo…), tuy không được hệ thống hóa bằng. Và thiền cũng
có thể được thực hành trong tinh thần thế tục, như theo
phương pháp MBSR (Mindfulness-Based Stress Reduction), mà chúng ta
sẽ đề cập đến sau.

Thay vì làm một danh
mục liệt kê những thí nghiệm trên thiền định, chúng ta
sẽ cố gắng trả lời một số câu hỏi sau đây :

1) Thiền định có
thể gia tăng sự chú ý và hiệu năng của não không?

Đến nay, đã có nhiều
nghiên cứu về thiền định liên quan tới sự chú ý (attention),
là chủ đề của hơn 2000 báo cáo khoa học mỗi năm trên thế
giới!

Không phải là một sự
ngẫu nhiên mà sự chú ý, hay niệm (sati), là kim chỉ
nam của người hành thiền, bởi vì trong đạo Phật “chánh
niệm”
(samma-sati) là một trong tám nẻo của Chánh đạo,
và Kinh Tứ Niệm Xứ (Satipatthana sutta) được xem là
một trong những bài kinh quan trọng nhất trong kinh điển pali.
Theo chính lời của đức Phật, đó là “con đường duy nhất”
(ekkayano maggo), là trái tim của giáo pháp.

Người ta kể chuyện
có một hôm vị thiền sư Nhật Bản Nhất Hưu (Ikkyu), thuộc
phái Lâm Tế (Rinzai), thế kỷ thứ 15, được một người
đệ tử hỏi về yếu chỉ của Thiền tông. Ngài cầm bút
lên và viết vỏn vẹn một chữ: Niệm. Người đệ
tử nài nỉ xin ngài viết thêm cho một chữ nữa. Ngài lại
cầm bút lên viết thêm một chữ Niệm. Người đệ
tử tỏ nỗi thất vọng: “Thưa Thầy, vậy thì cũng chẳng
có gì đặc biệt”. Ngài lại cầm bút lên viết thêm một
chữ Niệm thứ ba. Cuối cùng, không nhịn được nữa,
người đệ tử buột miệng: “Niệm có nghĩa là gì,
hở Thầy?”. Vị thiền sư chậm rãi trả lời: “Niệm
Niệm“…

Đối với các nhà khoa
học thần kinh, thiền định có thể chia ra làm hai loại: thiền
tập
trung chú ý
và thiền
quan sát mở rộng.

– Trong thiền tập
trung chú ý
(méditation concentrative, focus attention), tương
đương với
samatha (chỉ), người ta tập trung sự chú
ý vào một vật (hay một việc làm) đã được lựa chọn
(thí dụ như hơi thở) một cách lâu dài.

– Trong thiền quan sát
mở rộng
hay tỉnh thức (méditation ouverte, open monitoring)
tương đương với vipassana (quán), người ta không chú
ý vào một vật hay một việc làm gì đặc biệt, nhưng theo
dõi kinh nghiệm tâm thức, từng lúc một, không phản ứng
lại.

* Trong một nghiên cứu
bằng fMRI, Brefczynski-Lewis và cộng sự (2007) nhận thấy thiền
tập trung trên một điểm nhìn gây nên sự kích hoạt của
một số vùng như vỏ não nhìn (cortex visuel, liên quan tới
sự khởi đầu chú ý); vỏ não trước trán lưng bên (cortex
préfrontal dorso-latéral, liên quan tới sự theo dõi chú ý); rãnh
trán trên (sulcus frontal supérieur) và rãnh trong đỉnh (sulcus
intra-pariétal, cả hai liên quan tới sự định hướng chú ý).

Sự kích hoạt này thường
mạnh hơn ở những người nhiều kinh nghiệm thiền so với
những người mới tập thiền, nhưng lại ít hơn ở những
người rất giầu kinh nghiệm thiền (tổng cộng hơn 40000 giờ),
so với những người ít kinh nghiệm thiền hơn (khoảng 19000
giờ), dường như họ không cần cố gắng tập trung chú ý
nữa. Các vị thiền sư thường nhấn mạnh vào sự không cần
thiết cố gắng chú ý, một khi đã có nhiều kinh nghiệm thiền
tập trung. Hơn nữa, họ thường khuyên nên buông thả mọi
cố gắng kiểm soát tư tưởng và cảm xúc trong khi hành thiền.

* Davina Chan và M. Woollacott
(2007) dùng việc Stroop (tâche de Stroop)(xem chú thích 1) đo chú
ý thực hiện (attention exécutive) sau khi thiền, và nhận thấy
thiền làm giảm giao thoa (interférence) trên việc Stroop. Những
dữ kiện đó phù hợp với kết quả của các nghiên cứu
EEG trước, cho rằng thiền tập trung dẫn tới một phần nào
sự “chống tự động” (déautomatisation) những hoạt động
của não liên quan tới kích thích tri giác.

Về lâu dài, thiền có
thể gia tăng hiệu quả của mạng lưới chú ý thực hiện
(vỏ não viền / trán), nhưng không ảnh hưởng lên sự định
hướng chú ý (orientation).

* Trong một nghiên cứu
khác, Heleen Slagter, Richard Davidson và cộng sự (2007) làm thí
nghiệm trên hai nhóm người hành thiền, 17 chuyên viên và 23
tập sự viên, nhóm đầu hành thiền trong 10-12 g mỗi ngày
trong thời gian 3 tháng nhập thất, nhóm sau chỉ hành thiền
20 phút mỗi ngày trong 1 tuần. Hoạt động của não được
ghi nhận trước khóa thiền, vào đầu khóa và vào cuối khóa.
Tất cả nhận được 2 thông tin (kích thích nhìn) cách nhau
một khoảng thời gian rất ngắn.

Kết quả là nhóm người
mới tập thiền chỉ nhận ra thông tin thứ nhất, hiện tượng
thường xẩy ra này gọi là “nháy mắt chú ý” (attentional blink),
do não không nhận được thông tin thứ 2 vì còn đang xử lý
thông tin thứ nhất. Ngược lại, nhóm chuyên viên dầy công
phu thiền đều nhận được cả hai thông tin, dường như não
của họ dùng rất ít năng lượng cho thông tin thứ nhất và
dự trữ lại cho thông tin thứ 2. Như vậy, sự tập luyện
tâm thức đều đặn bằng thiền định có khả năng đẩy
xa những giới hạn xử lý thông tin
bởi não bộ.

* Antoine Lutz, Richard Davidson
và cộng sự (2004) dùng EEG nghiên cứu hoạt động của não
trên một nhóm tăng sĩ Tây Tạng có kinh nghiệm thiền từ
10000 tới 50000 giờ, trong 15 tới 40 năm trời.

Khác với một nhóm mới
tập thiền, người ta nhận thấy xuất hiện nơi các vị tăng
sĩ ngay sau khi bắt đầu thiền, dưới hình thức quán từ
bi, những làn sóng dao động (oscillations) gamma cao tần
(>20 Hz). Những dao động gamma này biên độ (amplitude) rất
cao (vài chục µv) và kéo dài, đặc biệt tại vùng trán –
đỉnh bên (fronto-pariétal latéral). Điểm quan trọng là loại
dao động gamma đó cũng rõ rệt hơn trên những người hành
thiền nhiều kinh nghiệm so với nhóm mới tập thiền.

Tuy rằng nguồn gốc
chính xác của những dao động gamma này vẫn chưa được rõ,
nhưng những dao động này (gọi là dao động 40 Hz) trong những
điều kiện bình thường tri giác thường được xem như là
một sự đồng bộ hóa (synchronisation) của hoạt động
nhóm nơ ron (gọi là hội tụ tạm thời nơ ron) đưa tới một
sự tri giác trọn vẹn và có ý thức (xem chú thích 2 và hình
5).



Hình
5 : Hoạt động của não đo bằng EEG

Trong
trạng thái ngưng nghỉ và trạng thái thiền định

trên
những người nhiều kinh nghiệm thiền

* Trong một nghiên cứu
gần đây (2009), Sean O’Nuallain gợi ý thiền định là một
hoạt động tâm thức có ý thức, với đặc điểm là những
dao động gamma đồng bộ làm cho tiếng động ồn ào thường
có trong não tạm ngừng. Khả năng chung của các vị thiền
sư là đưa tâm não tới một trạng thái nhạy cảm tối đa
tiêu thụ năng lượng tối thiểu (đến tận mức
độ 0) trong một thời gian ngắn. Giả thiết “năng lượng
không” có nghĩa là trạng thái năng lượng thấp tương ứng
với một trạng thái “không ta”, trong khi trạng thái năng lượng
bình thường tương ứng với một trạng thái có cái “ta” thực
nghiệm.

2) Thiền định có
những tác động gì trên cảm xúc?

* Trước hết, thiền
định có thể làm cho con người nhạy cảm hơn trước
những cảm xúc của tha nhân. Đó là kết luận của
GS Paul Ekman, một nhà tâm lý học nổi tiếng về sự biểu
hiện cảm xúc tại San Francisco, ĐH California, sau khi làm thí
nghiệm trên hai người có nhiều kinh nghiệm thiền định (2001).

Ông chiếu cho họ xem
một số hình ảnh khuôn mặt biểu lộ một trong 6 cảm xúc
chính như: sợ hãi, tức giận, khinh miệt… Mỗi hình ảnh
chỉ xuất hiện trong một thời gian rất ngắn ngủi, 1/5 s
hoặc 1/30 s. Những biểu lộ thoáng qua này (gọi là vi biểu
lộ, microexpressions) được nhận ra một cách hoàn toàn hồn
nhiên, không cố ý. Kinh nghiệm trên hàng ngàn người cho ông
biết rằng những người thành công nhất trong việc nhận
ra những cảm xúc thoáng qua này là những người có đầu
óc cởi mở, ham học hỏi nhất.

Kết quả là cả hai
người có kinh nghiệm thiền lâu năm đều phá kỷ lục về
sự nhận diện ra cảm xúc trên những hình mặt thoáng qua
đó.

Tuy không thể gạt bỏ
giả thuyết thiền định làm gia tăng tốc độ nhận thức,
nhưng người ta cũng có thể nghĩ rằng thiền làm cho con người
trở nên nhạy cảm hơn đối với cảm xúc của người
khác
, chứ không phải lãnh đạm, vô tình như người ta
vẫn lầm tưởng.

* Trong một nghiên cứu
khác về ảnh hưởng của thiền định trên cảm xúc (Antoine
Lutz, Richard Davidson), hoạt động của não được đo bằng
fMRI trên 2 nhóm: 16 người có kinh nghiệm lâu năm về thiền
(> 10000 giờ) và 16 người mới tập thiền từ một tuần.

Trong khi thiền, họ được
nghe những tiếng động gây nên cảm xúc, như tiếng cầu cứu
của một phụ nữ (cảm xúc tiêu cực), tiếng cười đùa
của một trẻ em (tích cực), hay tiếng ồn ào của một tiệm
ăn (trung tính).

Kết quả cho thấy:

1) Hoạt động tại các
vùng não liên quan tới cảm xúc gia tăng một cách rõ rệt
trong khi thiền, so với không thiền.

2) Những tiếng động
gây cảm xúc tiêu cực (như kêu cứu) tạo nên phản ứng mạnh
hơn những tiếng động gây cảm xúc tích cực (cười đùa)
hay trung tính (ồn ào), đặc biệt trên những người có kinh
nghiệm lâu năm về thiền.

3) Những vùng gắn liền
với từ bi (compassion) gồm có: vỏ não đảo (insula), liên
quan tới các biểu hiện trong cơ thể về cảm xúc, và điểm
nối thái dương-đỉnh (jonction temporo-pariétale), liên quan tới
sự phân biệt giữa mình và người, cũng như sự cảm nhận
thấy cảm xúc của người khác.

Cả hai vùng đó đều
liên hệ tới sự chia sẻ cảm xúc và cảm tình (empathie),
và sự phối hợp của cả hai rất rõ rệt và tỏ ra rất
mạnh ở những người thiền lâu năm so với những người
mới bắt đầu thiền.

Từ đó có thể đưa
tới kết luận sau: lòng từ bi, nhân ái rất có thể được
trau dồi và tăng trưởng cũng như mọi chức năng khác
.
Thiền từ bi có thể mang lại lợi ích cho những người bị
trầm cảm và những đối tượng trẻ sống trong một bầu
không khí xung đột và bạo động.

Về những cảm xúc
của chính mình

Ngoài ra, thí nghiệm
trên của Brefczynski-Lewis và cộng sự cũng chứng tỏ rằng
kinh nghiệm thiền và sự kích hoạt amiđan (vùng gây nên cảm
xúc tiêu cực) có liên hệ mật thiết với nhau. Càng có nhiều
kinh nghiệm thiền, thì amiđan lại càng ít bị kích hoạt
(Hình 6).

Lý do không phải là
những người quen thiền ít bị kích thích hơn người khác,
vì những vùng liên quan tới thính giác (như hồi thái dương
trên, gyrus temporal supérieur) được kích hoạt nhiều hơn bởi
tiếng động so với người khác.

Đồng thời, ngưòi ta
cũng nhận thấy rằng điều quan trọng không phải là tổng
số giờ thiền, mà là sự đều đặn mỗi ngày của
sự hành thiền.



Hình
6 : Hoạt động của amiđan (đo bằng MRIf)

liên
quan tới kinh nghiệm thiền định (tính bằng giờ)

* Năm 2001, tại
ĐH Berkeley, GS Paul Ekman làm một thí nghiệm trên một tăng
sĩ gốc Âu châu đã có 30 năm kinh nghiệm thiền bên các vị
cao tăng Tây Tạng.

Họ gây bên tai vị này
một tiếng nổ rất mạnh, đồng thời ghi nhận các phản
ứng sinh lý của ông (đo nhịp tim, mồ hôi, quay video nét mặt).
Họ báo trước cho ông lúc sắp phát tiếng nổ và yêu cầu
ông cố nén phản ứng giật mình, là một điều bình thường
vẫn xẩy ra.

Kết quả rất lạ lùng
và lý thú là vị tăng gần như hoàn toàn không có phản ứng
giật mình khi nghe tiếng nổ bên tai. Chỉ có một chút thay
đổi nhẹ về sinh lý xẩy ra, nhưng không có một sự co thắt
cơ nào trên nét mặt.

Trong thí nghiệm này,
vị tăng sĩ áp dụng hai phương pháp thiền : tập trung vào
một vật và tỉnh thức. Theo ông, phương pháp tỉnh thức
hữu hiệu hơn: “Lúc đó, tôi nghe tiếng nổ rất nhẹ, dường
như vọng lại từ xa”.

Như vậy, sự tập trung
chú ý dường như làm cho thiền giả ít bị dao động hơn
bởi các kích thích bên ngoài, và gây nên một trạng thái
bình
thản cảm xúc
(équanimité émotionnelle).

* Năm 2007, với sự cộng
tác của 2 nhà vật lý học, TS Michael Erb và ông Ranga, ĐH Tuebingen
(Đức), thầy Thích Thông Triệt (đạo tràng Tánh Không) và
tăng đoàn được xét nghiệm bằng máy fMRI trong 4 giai đoạn:
thấy, nghe, xúc chạm, nhận thức, mỗi giai đoạn trong 12 phút,
xen kẽ thiền 3 phút với không thiền 2 phút, v.v.

Kết quả cho biết vùng
Broca, thuộc thùy trán trái, và vùng hạ đồi (hypothalamus)
không hoạt động; vùng nhận thức biết không lời, phía sau
bán cầu trái, hoạt động; vùng Broca và vùng Wernicke không
hoạt động, đồng thời vùng phía sau bán cầu trái hoạt
động.

Như vậy, Thầy muốn
chứng minh rằng “khi tọa thiền vào định, thì vùng suy nghĩ,
vùng ý thức và những cơ chế phụ thuộc phát ra ý ngôn hay
tâm ngôn, thuộc vùng tiền trán, đều yên lặng. Trái lại,
khi đó, vùng nhận thức biết không lời, vùng tánh thấy,
tánh nghe hay tánh xúc chạm, phía sau bán cầu não trái hoạt
động”.

3) Thiền có thể mang
lại an lành và hạnh phúc không ?

Dĩ nhiên đó là một
câu hỏi lớn, khó lòng trả lời một cách khách quan. Tuy nhiên,
khoa học thần kinh có thể mang lại một chút ánh sáng qua
kinh nghiệm của một số tăng sĩ và thiền sinh.

* Khi Richard Davidson đo
trong phòng thí nghiệm của ông tại Madison (Wisconsin) hoạt
động của não bằng EEG và fMRI của một vị lama người Tây
phương đã có 30 năm kinh nghiệm thiền định bên cạnh các
cao tăng Tây Tạng, ông nhận thấy, sau 3 g thiền định dưới
nhiều dạng khác nhau (tập trung, tỉnh thức, từ bi, đức
tin, lực…) sự xuất hiện của những làn
sóng dao động
gamma
rất mạnh nơi hồi trước trán trái, là vùng liên
quan tới những cảm xúc tích cực. Hiện tượng này xẩy ra
rất rõ trong khi thiền từ bi, với tỉ số kích hoạt
trước trán trái/phải
rất cao, đồng lúc với vị lama
tự cảm nhận thấy vô cùng
dễ chịu, thanh thản và hạnh
phúc
.

” Điều này không làm
tôi ngạc nhiên, đức Đạt Lai Lạt Ma nói sau khi được thuật
lại câu chuyện, từ lâu tôi vẫn nghĩ rằng người đầu
tiên được hưởng thành quả tốt của quán từ bi,

chính mình”
.

* Richard Davidson và Francìsco
Varela cũng có dịp làm EEG cho một vị tăng sĩ giáo thọ (guéshé)
Tây Tạng, trụ trì tại một chùa lớn tại Ấn Độ. Điều
làm hai nhà khoa học này vô cùng ngạc nhiên là khi so sánh
tỉ số hoạt động vùng trước trán trái/ vùng trước trán
phải (gọi là số điểm không đối xứng trước trán,
score d’asymétrie préfrontale) của vị tăng này với 174 người
khác, họ thấy tỉ số này trội lên hơn tất cả mọi người.

Chính đức Đạt Lai
Lạt Ma quen biết vị guéshé này và cho biết rằng trong đời
sống thường nhật, ông là một người rất tốt, vui tính
và thanh thản, đồng thời rất uyên bác. Ông đặc biệt thiền
quán từ bi từ hơn 30 năm.

Như vậy, bốn đức
tính trong đạo Phật gọi là ” Tứ vô lượng tâm ” (brahma-vihara),
tức là : metta, từ, karuna, bi, mudita, hỷ,
và upekkha, xả, dường như liên quan rất chặt chẽ với
nhau. Thiền định trên
từ bi tự nó có khả năng đem
lại cho người hành thiền cảm giác an lạc, thanh thản, nhờ
sự phát triển của những cảm xúc tích cực so với cảm
xúc tiêu cực.

4) Đến nay, thiền
định đã được áp dụng trong y học Tây phương chưa?

Từ thập niên 70, Jon
Kabat-Zinn, một GS sinh học, đã phát triển phương pháp “giảm
stress dựa lên tỉnh thức”
(MBSR, mindfulness-based stress reduction),
để điều trị các bệnh liên quan tới stress tại BV Đại
học Massachusetts. Ông định nghĩa “tỉnh thức” là “một
trạng thái tâm thức nẩy ra từ sự chú ý có chủ đích,
trong hiện tại, không phê phán, vào kinh nghiệm xẩy ra từng
lúc một”.

Chương trình gồm một
buổi thiền trong 2 g – 2 g rưỡi mỗi tuần, cộng thêm 45 phút
– 1 g thiền tập tại nhà riêng mỗi ngày, trong thời gian 8
tuần.

Từ 25 năm nay, hơn 15000
người đã được điều trị với rất nhiều loại bệnh:
tim mạch, tiêu hóa, đau mạn tính, nhức đầu, mất ngủ, lo
lắng, vẩy nến (psoriasis), v.v., chủ yếu là những bệnh liên
quan tới stress, với những kết quả rất tốt.

Hiện nay phương pháp
MBSR rất được hưởng ứng bởi các nhà khoa học và được
giảng dậy cho sinh viên tại 29 trường Đại học Y khoa tại
Hoa Kỳ, như một phương pháp điều trị thế tục, không mang
mầu sắc tôn giáo.

* Một nghiên cứu đã
được thực hiện bởi Richard Davidson và Jon Kabat-Zinn trên
các nhân viên một xưởng sinh công nghệ (biotechnologie) muốn
học thiền.

Những người này được
chia ra một cách ngẫu nhiên làm hai nhóm: một nhóm tập thiền
và một nhóm “chờ đợi” để đối chứng. Nhóm tập thiền
thực hành 2 – 3 giờ mỗi tuần một lần dưới sự hướng
dẫn của J. Kabat-Zinn, trong 8 tuần, cộng thêm một ngày nhập
thất vào tuần thứ 6. Ngoài ra, mỗi người phải thiền tại
nhà 45 phút mỗi ngày, và trả lời một bản câu hỏi đồng
thời ghi nhận thời gian thiền thực sự. Cả hai nhóm được
đo EEG trước và sau khóa thiền tập. 4 tháng sau, nhóm tập
thiền lập lại một khóa thứ hai, trong khi nhóm đối chứng
cũng sẽ được tập thiền như vậy.

Kết quả cho thấy trên
các EEG đầu tiên, không có một sự khác biệt nào về hoạt
động vùng trước trán, giữa hai nhóm thiền và không thiền.
Ngược lại, 4 tháng sau có một sự gia tăng hoạt động rất
rõ của vùng trước trán trái trong nhóm thiền.
Những người trong nhóm này cũng đồng thời cảm thấy thêm
nhiều cảm xúc tích cực, an vui hơn trong đời sống
hàng ngày.

Phương pháp này đã
được bắt đầu phổ biến tại các nước khác, cùng với
một phương pháp tương tự, nhằm ngăn ngừa tái phát trong
bệnh trầm cảm, gọi là “trị liệu nhận thức dựa lên
tỉnh thức”
, (MBCT, mindfulness-based cognitive therapy), phát
triển bởi Zindel Segal (ĐH Toronto), Mark Williams và John Teasdale
(ĐH Oxford và Cambridge).

Các bệnh nhân sau cơn
trầm cảm thường có khuynh hướng “nhai đi nhai lại” những
ý nghĩ tiêu cực, và do đó tỉ lệ tái phát rất cao. Mục
đích của MBCT là giúp bệnh nhân ngăn chận các ý nghĩ tiêu
cực đó, bằng cách tập quan sát các ý tưởng qua đầu mỗi
lúc, không cảm xúc, không phê phán.

Kết quả rất khả quan,
trên hai nghiên cứu: sau khi áp dụng MBCT, tỉ lệ tái phát
trầm cảm giảm hẳn một nửa (nghiên cứu 1, tại Cambridge,
Bangor và Toronto, 145 bệnh nhân, 37 % tái phát thay vì 66 % ; nghiên
cứu 2, tại Cambridge, 36 % tái phát thay vì 78 %).

5) Thiền định có
ảnh hưởng tốt trên cơ thể không ?

Thiền định đã được
tỏ ra dẫn đến một số đổi thay trên cơ thể, như làm
giảm nhịp tim, giảm huyết áp và sự chuyển hóa cơ sở (métabolisme
basal).

Người ta cho rằng những
đổi thay đó là do tác động trên hệ thần kinh thực vật
(neuro-végétatif) hay tự trị ( autonome), điều chỉnh
hoạt động của nhiều cơ quan nội tạng và gồm 2 thành phần
gây đối nghịch và cân bằng với nhau :

hệ thần kinh giao
cảm
(sympathique), giúp huy động cơ thể cho hành động.
Kích thích bởi stress, nó gia tăng nhịp tim và hô hấp và làm
co thắt các mạch máu.

hệ thần kinh đối
giao cảm
(parasympathique), giảm nhịp tim và hô hấp, dãn
các mạch máu và gia tăng sự bài tiết dịch tiêu hóa.

Thiền định có thể
tác động bằng cách giảm hoạt động của hệ thần kinh
giao cảm
và kích thích giảm hoạt động của hệ thần
kinh đối giao cảm.

Và có lẽ qua tác động
giảm stress thiền định có thể giảm huyết áp, tỷ lệ corticol
trong máu và cải thiện sức đề kháng miễn dịch.

Trong thí nghiệm trên
của Jon Kabat Zinn và Richard Davidson, vào cuối khóa thiền tập
(cố ý nhằm vào tháng 11), cả hai nhóm đều được tiêm vắcxin
phòng ngừa cúm. Kết quả đo kháng thể cúm cho thấy nhóm
người đã được tiêm vắcxin sau 8 tuần hành thiền tỏ ra
đáp ứng vắcxin cao hơn nhóm đối chứng rất nhiều. Phản
ứng miễn dịch với vắcxin cúm tốt hơn trong nhóm thiền,
có thể là do ảnh hưởng của sự giảm stress, bởi
vì người ta biết stress là một yếu tố làm giảm miễn dịch.
Đó là một luận cứ cho tác dụng tốt của thiền định
trên sức đề kháng miễn dịch của cơ thể chống lại
bệnh lây truyền và sự phát triển của các tế bào ung thư.

Tuy nhiên, có một điều
phải nói cho rõ ràng: người ta không thể khẳng định rằng
thiền định có thể chữa khỏi ung thư và các bệnh nặng
khác, vì lý do hiện nay, chưa có một nghiên cứu khoa học
nghiêm chỉnh nào
cho phép chứng minh điều đó.

6) Thiền định
có thể làm cho não bộ trẻ lâu hơn không ?

Một nghiên cứu của
Sara Lazar và cộng sự (2005), tại ĐH Harvard, cho thấy vỏ não
ở một vài vùng của một nhóm 20 người có nhiều kinh nghiệm
thiền định dầy hơn so với nhóm 15 người không thiền. Đặc
biệt, vùng trước trán và vùng đảo trước phải, dầy hơn
từ 0,1 tới 0,2 mm.

Vì bề dầy của vỏ
não phản ánh một phần nào tuổi tác, người ta có thể nghĩ
rằng thiền định có khả năng giảm tốc độ lão hóa
của não, hay nói một cách khác, làm cho não trẻ lâu hơn.

7) Khoa học thần kinh
có thể nào giải thích được trạng thái chứng ngộ hay hòa
đồng với Tuyệt đối không?

Theo Andrew Newberg và Eugene
d’Aquili (ĐH Pennsylvania), một số kinh nghiệm thần bí (expériences
mystiques), như hòa đồng với Tuyệt đối, giao cảm với Thượng
Đế, hay chứng ngộ, có thể giải thích bởi một trạng thái
đặc biệt của tâm não.

Năm 2001, họ dùng máy
SPECT (single photon emission tomography) để đo hoạt động của
não trên một số người hành thiền, và một số sơ franciscaines
trong khi cầu nguyện.

Khi những người này
đạt trạng thái như “hòa đồng với vũ trụ, không còn biên
giới giữa mình và chung quanh”, thì trên hình SPECT bỗng nhiên
xuất hiện một sự gia tăng hoạt động vùng trước trán
(lobe préfrontal, là vùng chú ý), và một sự sút giảm mạnh
hoạt động thùy đỉnh trên sau trái (lobe pariétal supérieur
postérieur, là vùng định hướng cơ thể trong không gian).

Các tác giả gọi vùng
trước trán là vùng liên hợp chú ý (aire associative d’attention)
và thùy đỉnh sau là vùng liên hợp định hướng (aire associative
d’orientation).

Họ đưa ra giả thuyết
là chính sự “tắt hoạt động”(désafférentation) bỗng nhiên
của vùng đó (liên quan tới sự định hướng trong không gian),
là lý do gây nên cảm giác lâng lâng, hòa đồng với vũ trụ,
hòa mình vào Tuyệt đối hay chứng ngộ. Họ gọi trạng thái
đó là “kinh nghiệm đồng nhất tuyệt đối” (expérience
unitaire absolue), chia sẻ bởi tất cả những ai có những kinh
nghiệm thần bí.

Tuy các nghiên cứu này
cần phải được đào sâu hơn nữa, nhưng chúng cũng đã mở
ra một chân trời mới cho sự giải thích các hiện tượng
thần bí trong tôn giáo.

 

VII.
Hướng nghiên cứu tương lai về thiền định

Năm 2007, một cuộc điều
tra toàn quốc tại Hoa Kỳ về sự áp dụng y học bổ túc
và thay thế (CAM, complementary and alternative medicine) trên một
mẫu hơn 23000 người, cho thấy rằng 9,4% đã dùng thiền định
như một phương pháp điều trị trong năm trước. Như vậy
là trên cả nước mỗi năm có thể có hơn 20 triệu người
đã dùng đến thiền định. Những lý do dẫn tới thiền định
là các bệnh liên quan tới stress, lo lắng, trầm cảm, mất
ngủ, chứng đau và các rối loạn khác gây nên bởi bệnh
mãn tính, hoặc chỉ với mục đích tìm sự thoải mái thân
tâm, bổ ích cho sức khoẻ.

Để làm sáng tỏ vấn
đề, Trung tâm Y học Bổ túc và Thay thế Quốc gia (NCCAM, National
Center for Complementary and Alternative Medicine), một chi nhánh của
Viện Sức khoẻ Quốc gia (NIH, National Institute of Health) đã
giao cho Văn phòng Nghiên Cứu và Chất lượng Điều trị (AHRQ,
Agency for Healthcare Research and Quality) việc thẩm tra kỹ lưỡng
tất cả những nghiên cứu khoa học đã được đăng trên
sách báo về các phương pháp thiền định (bao gồm cả Yoga,
Thái Cực Quyền và Khí Công).

Một bản tường trình
rất nghiêm túc đã được công bố tháng 6/2007, sau khi phân
tích kỹ càng 813 nghiên cứu, trong đó có 312 liên quan tới
tác dụng sinh lý và tâm não của thiền định. Các tác giả
công nhận có những luận cứ ủng hộ “tác động tốt của
thiền trên sức khoẻ”, nhưng cho rằng “không thể rút ra những
kết luận chắc chắn từ những nghiên cứu đã làm. Nghiên
cứu tương lai về thiền định phải chính xác hơn, trong khi
thiết lập dự án, thực hiện thí nghiệm và phân tích kết
quả”.

Như vậy, nghiên cứu
khoa học về thiền định hiện nay hãy còn rất sơ bộ, sự
hiểu biết về tác động của thiền trên tâm não hãy còn
rất thiếu sót, hạn hẹp, cho nên cần phải chờ đợi thêm
nhiều nghiên cứu qui mô, rộng lớn hơn, với những phương
tiện chẩn đoán tinh vi hơn, để đi tới những kết luận
khách quan và xác đáng.

Còn một số câu hỏi
cần được trả lời :

1) Ảnh hưởng của sự
tập luyện tâm-não trên những hiện tượng sinh học ngoại
biên (như miễn dịch, nội tuyến) ra sao? Hiện nay có rất
ít nghiên cứu trên những đổi thay sinh học liên quan tới
thiền định, và vẫn chưa có bằng chứng khoa học nào là
thiền làm giảm bớt đái đường, mỡ máu, thoái hóa khớp
xương, suy tim, suy hô hấp, suy thận, hay chữa khỏi bệnh ung
thư, như một số người đã quá chủ quan tuyên bố!

2) Ảnh hưởng của khung
cảnh xã hội, văn hóa, tôn giáo, v.v. trên những kết quả
tập luyện thiền?

3) Ảnh hưởng của thiền,
không phải chỉ riêng trong khi hành thiền, mà trong đời sống
hàng ngày, qua sự thay đổi lâu dài nhận thức và cảm xúc
của mỗi người?

4) Sự khác biệt tác
động trên tâm-não giữa các phương pháp thiền, và từ đó
sự lựa chọn một phương pháp phù hợp cho mỗi cá nhân?

5) Tác động của thiền
trên trẻ em và trên người cao tuổi?

Đối với các nhà
khoa học thần kinh

Nghiên cứu về thiền
định, ngoài mang lại thêm sự hiểu biết về hoạt động
tâm-não, còn cho phép xác định vai trò của thiền như một
phương pháp trị liệu một số bệnh tâm thần, không cần
dùng đến thuốc men và tôn trọng môi trường, đồng thời
như một phương pháp tập luyện tâm não tự nhiên,

Thiền định lúc đó
có thể được xem như là một thực hành thế tục
(pratique séculière), tuy rằng cũng được dùng trong các tôn
giáo khác như Ấn Độ giáo, Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo,
Hồi giáo, v.v.

Riêng đối với người
Phật tử

Người ta có thể đặt
lên câu hỏi: tất cả những hiểu biết mang lại bởi khoa
học thần kinh liệu có thay đổi gì lối nhìn về đạo Phật
và sự tu tập không ?

– Với tư cách cá nhân,
tôi xin trả lời rằng : chúng chỉ xác minh một số điều
mà tôi đã phỏng đoán từ lâu, rằng tất cả tùy thuộc
vào tâm-não, hạnh phúc cũng như khổ đau của con người.
Và chúng cũng không thay đổi gì cách tu tập của tôi, tức
là tu tâm dưỡng tánh theo con đường Phật dậy và phương
pháp thiền định.

Đối với tôi, đạo
Phật không có gì là huyền bí, sự thâm diệu của nó nằm
chính ở trong tâm-não con người
. Và điều kỳ lạ là
quan niệm được cho là “duy vật” nhất rốt cục cũng dẫn
tới kết luận “duy tâm” nhất : tất cả là ở tại “tâm”…

– Về lâu dài, đối
với quần chúng Phật tử, thì chúng ta có thể tự hỏi: nếu
ảnh hưởng của khoa học mỗi ngày một lớn mạnh và lan
tràn khắp nơi, thì đạo Phật của thế kỷ 21 sẽ ra sao ?
Liệu đạo Phật có thể trở thành một giá trị tinh thần
thế tục
, một con đường tập luyện tâm thức phổ
biến
, mở rộng cho tất cả những ai trên thế giới ý
thức được tầm quan trọng của đời sống tâm linh?

Và ngay cả đạo Phật
cổ truyền tại Á châu cũng làm sao tránh chuyển đổi được,
trong khung cảnh toàn cầu hóa hiện nay, khi mà, như từng lớp
sóng nối tiếp nhau, các thế hệ trước lần lượt nhường
chỗ cho các thế hệ sau? Các thế hệ trẻ đang hướng về
tương lai, khao khát trao đổi, quen thuộc truyền thông, và
thấm nhuần khoa học, kỹ thuật…

Olivet
, tháng 5/2010


Trịnh
Nguyên Phước

Chú
thích

1) Việc Stroop là
một thử nghiệm để đo khả năng điều khiển sự chú ý.

Một đặc điểm của
chức năng não là đọc chữ nhanh hơn là nhận ra mầu. Nếu
một chữ được viết bằng một mầu khác với nghĩa của
nó (vd chữ “xanh” viết bằng mầu đỏ, hay “vàng” viết bằng
mầu xanh), thì người ta sẽ có khuynh hướng đọc là “xanh”,
hay “vàng”, một cách tự động, hơn là nhận ra mầu “đỏ”
hay mầu “xanh”. Hiện tượng đó gọi là là hiện tượng giao
thoa (interférence).

Như vậy, người làm
test phải ngăn chận sự tự động đọc chữ (déautomatisation),
và cố gắng nhận ra mầu.

Chức năng đo bởi test
này là sự chú ý điều khiển (attention dirigée), nằm tại
vỏ não đai trước (cortex cingulaire antérieur), liên quan tới
tư tưởng và cảm xúc.

2) Những làn sóng
dao động gamma không phải chỉ có trong khi thiền định.
Chúng là dấu hiệu của một sự hoạt động đồng bộ [synchronisation]
của một nhóm nơ ron, một sự kích hoạt mạnh mẽ và cùng
lúc, cũng như hiện tượng cộng hưởng (résonance) xuất hiện
vào một lúc đặc biệt, khi các làn sóng trùng hợp với nhau,
gây nên một năng lượng đặc biệt.

 

Tài
liệu tham khảo

– Austin JH., Selfless Insight
– Zen and the Meditative Transformations of Conciousness, The MIT Press,
Cambridge, 2009

– Boisacq-Schepens N., Crommelinck
M., Neurosciences, 4è édition, Dunod, Paris, 2004

– Bownds MD, La biologie
de l’esprit – Origines et structures de l’esprit, du cerveau et de la conscience,
Dunod, Paris, 2001 (The Biology of Mind : origins and structures of mind,
brain and consciousness, Fitzgerald Press Inc., 1999)

– Dr Brizendine L., Les secrets
du cerveau féminin, Grasset, Paris, 2008

– Buser P., Cerveau de soi,
cerveau de l’autre, Odile Jacob, Paris, 1998

– Cahn BR., Polich J., Meditation
states and traits: EEG, ERP, and neuroimaging studies, Psychological
Bulletin
, 132, 2 : 180-211, 2006

– Cahn BR., Polich J., Meditation
(Vipassana) and the P3a event-related brain potential, International
Journal of Psychophysiology
, 72 : 51-60, 2009

– Chan D., Woollacott M..,
Effects of level of meditation experience on attentional focus: is the
efficiency of executive or orientation networks improved?, The Journal
of Alternative and Complementary Medicine
, 13(6) : 651-658, 2007

– Changeux JP., L’Homme de
vérité, Odile Jacob, Paris, 2002

– Changeux JP., Du vrai,
du beau, du bien – Une nouvelle approche neuronale, Odile Jacob, Paris,
2008

– Chanouf A., Les émotions
– Une mémoire individuelle et collective, Mardaga, Sprimont, 2006

– Couzon E., Dorn F., Les
émotions – Développer son intelligence émotionnelle, ESF Editeur, Issy-les-Moulineaux,
2007

– Dalaï-Lama, Passerelles
– Entretiens avec des scientifiques sur la nature de l’esprit, Albin Michel,
Paris, 1995 (Hayward JW., Varela F., Gentle Bridges – Conversations with
the Dalaï-Lama on the Sciences of Mind, Shambala Publications Inc., Boston,
1992)

– SS le 14è Dalaï-Lama,
Le pouvoir de l’esprit – Entretiens avec des scientifiques, Fayard, Paris,
2000 (Wallace A.., Consciousness at the Crossroads – Conversations with
the Dalaï-Lama on Brain Sciences and Buddhism, Snow Lion Publications,
Ithaca, New York, 1999)

– SS le Dalaï-Lama, La voie
des émotions – Entretiens avec P. Ekman, City Editions, 2008 (His Holiness
The Dalai Lama and Paul Ekman, Introduction and supplementary materiel,
Times Book/Henry Holt and Company, New York, 2008)

– Damasio AR., L’erreur de
Descartes – La raison des émotions, Odile Jacob, Paris, 1995, 2001 (Descartes’
error – Emotion, Reason and the Human Brain, A. Grosset/ Putnam Books,
1994)

– Damasio AR., Le sentiment
même de soi – Corps, émotions, conscience, Odile Jacob, Paris, 1999,
2002 (The Feeling of What Happens – Body and Emotion in the Making of Consciousness,
Hartcourt Brace & Company, New York, 1999)

– Damasio AR., Spinoza avait
raison, – Joie et tristesse, le cerveau des émotions, Odile Jacob, Paris,
2003 (Looking for Spinoza : Joy, Sorrow and the Feeling Brain, Harcourt,
Inc., 2003)

– Denton D., Les émotions
primordiales et l’éveil de la conscience, Flammarion, 2005

– Doidge N., Les étonnants
pouvoirs de transformation du cerveau – Guérir grâce à la neuroplasticité,
Belfond, Paris, 2008 (The Brain that Changes Itself, Viking, Penguin group,
2007)

– Edelman GM., Tononi G.,
Comment la matière devient conscience, Odile Jacob, Paris, 2000 (A Universe
of Consciousness. How Matter Becomes Imagination, Basic Books, a Member
of the Perseus Books Group, 2000)

– Goleman D., Surmonter les
émotions destructrices – Un dialogue avec le Dalaï-Lama, Robert Laffont,
Paris, 2003 (The Mind and Life Institute, Destructive emotions, Bantam
Books, New York, 2003)

– Fiori N., Les neurosciences
cognitives, Armand Colin, Paris, 2006

– Freeman D., Le cerveau
du bien et du mal, Quebecor, Outremont, 2007

– Houdé O., Mazoyer B.,
Tzourio-Mazoyer N., Cerveau et psychologie, PUF, Paris, 2002

– Janssen T., La méditation
: une médecine d’avant-garde pour adapter nos organismes à la planétarisation,
http://www.nouvellescles.com/article.php3?id_article=951

– Janssen T., La solution
intérieure – Vers une nouvelle médecine du corps et de l’esprit, Fayard,
Paris, 2006

– Jeannerod M., Le cerveau
intime, Odile Jacob, Paris, 2005

– Jouvent R., Le cerveau
magicien – De la réalité au plaisir psychique, Odile Jacob, Paris, 2009

– Kandel ER., A la recherche
de la mémoire – Une nouvelle théorie de l’esprit, Odile Jacob, Paris,
2007 (In Search of Memory, Norton, 2006)

– Lazar SW., Kerr CE., Wasserman
RH. et al, Meditation experience is associated with increased cortical
thickness, NeuroReport, 16, 17 : 1893-1897, 2005

– Ledoux J., The emotional
brain. Simon & Schuster, New York, 1996

– Ledoux J., Neurobiologie
de la personnalité, Odile Jacob, Paris 2003 (Synaptic Self), Viking, Penguin
group, 2002

– Lestienne R., Miroirs
et tiroirs de l’âme – Le cerveau affectif, CNRS Editions, Paris, 2008

– Lotstra F., Le cerveau
émotionnel
ou la neuroanatomie des émotions,

http://www.cairn.info/article.php?ID_REVUE=CTF&ID_NUMPUBLIE=CTF_029&ID_ARTICLE=CTF_029_0073

– Lutz A., Dunne J.D., Davidson
R.J. Meditation and the Neuroscience of Consciousness: an Introduction,
in Cambridge Handbook of Consciousness, edited by Zelazo
P., Moscovitch M. and Thompson E., 2007

– Lutz, A., Greischar, L.,
Rawlings, N.B., Ricard, M., Davidson, R.J., Long-term meditators self-induce
high-amplitude synchrony during mental practice. Proceedings of the
National Academy of Sciences
, 101, 16369-16373, 2004

– Martin G. Neil, Human Neuropsychology,
2nd edition, Pearson Education Limited, Harlow, 2006

– Moore A., Malinowski P.,
Meditation, mindfulness and cognitive flexibility, Consciousness and
Cognition
18 : 176 – 186, 2009

– Newberg A ., d’Aquili E.,
Pourquoi ” Dieu ” ne disparaỵtra pas – Quand la science explique la religion,
Sully, Vannes, 2003 (Why God Won’t go Away, The Ballantine Publishing Group,
Random House Inc., 2001, 2002)

– Pillon J., Neurosciences
cognitives et conscience – Comprendre les propositions des neuroscientifiques
et des philosophes, Chronique Sociale, Lyon, 2008

– Rizzolatti G., Sinigaglia
C., Les neurones miroirs, Odile Jacob, Paris, 2008

– Rosenthal N., The Emotional
Revolution – Harnessing the power of your emotions for a more positive
life, Citadel Press Books, Kensington Publishing Corp., New York, 2002

– Siksou M., Introduction
à la neuropsychologie, Dunod, Paris, 2005

– Squire LR., Kandel ER.,
La mémoire – De l’esprit aux molécules, Flammarion,Paris 2005 (Memory,
From Mind to Molecules, WH. Freeman and Company, New York and Basingstoke,
1999, De Boeck Université, Bruxelles, 2002)

– Taylor JB., Voyage au-delà
de mon cerveau – Une neurobiologiste victime d’un accident cérébral raconte
ses incroyables découvertes, JC Lattès, Paris, 2006

– Varela F., Thompson E.,
Rosch E., L’inscription corporelle de l’esprit – Sciences cognitives et
expérience humaine, Seuil, Paris, 1993

– Vincent JD., Voyage extraordinaire
au centre du cerveau, Odile Jacob, Paris, 2007

– What is consciousness ?,
The Brain from Top to Bottom

http://thebrain.mcgill.ca/flash/d/d_12/d_12_p/d_12_p_con/d_12_p_con.html