Gặp Gỡ Thiên Chúa, hay Lương Thực Tâm Linh

<![if !supportEmptyParas]> <![endif]>

GẶP GỠ THIÊN CHÚA

HAY

LƯƠNG THỰC TÂM LINH

<![if !supportEmptyParas]> <![endif]>

NGUYỄN CHÍNH
KẾT

<![if !supportEmptyParas]> <![endif]>

GẶP GỠ THIÊN CHÚA LÀ MỤC
ĐÍCH PHẢI ĐẠT ĐƯỢC CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU

Quanh năm suốt tháng,
người Kitô hữu luôn quan tâm tới việc thờ phượng Thiên Chúa, đọc kinh cầu
nguyện, dâng lễ, rước lễ, chịu các phép bí tích, với những nghi thức rất long
trọng, sốt sắng. Siêng năng với những công việc đầy tính tôn giáo ấy là một đức
tính rất tốt, nó có thể nuôi sống đời sống tâm linh và lòng đạo đức của ta. Tuy
nhiên, tất cả những nghi thức đó đều chỉ là những phương tiện để đi đến mục
đích này là: gặp gỡ Thiên Chúa. Muốn sống đạo một cách chân thực và hữu hiệu,
chúng ta cần phải phân biệt rõ ràng đâu là mục đích, đâu là phương tiện. Nếu
không, chúng ta rất dễ dừng lại ở phương tiện, coi phương tiện là mục đích, để
rồi chẳng đạt được mục đích mà những phương tiện đó nhắm tới.

Thử hỏi, nếu những
nghi thức tôn giáo mà chúng ta thực hiện quanh năm ấy mà không dẫn chúng ta đến
mục đích của chúng là gặp gỡ Thiên Chúa, thì việc thực hiện ấy có ích lợi gì?
Chỉ khi nào thực sự gặp gỡ Thiên Chúa, chúng ta mới thật sự có sức mạnh và mới
thật sự được biến đổi. Vì thế, chúng ta cần phải thực hiện cho bằng được trong
đời sống mình công việc tối quan trọng này: gặp gỡ Thiên Chúa. Gặp gỡ Ngài ngay
trong chính bản thân ta, đó chính là bản chất của cầu nguyện, là lương thực
nuôi dưỡng tâm linh ta.

Cầu nguyện hay gặp gỡ
Thiên Chúa chính là điều quan trọng nhất trong đời sống nội tâm của người Kitô
hữu. Nhưng nhiều Kitô hữu chưa hiểu đúng bản chất của cầu nguyện hay sự gặp gỡ
Thiên Chúa. Chúng ta hãy đi sâu vào vấn đề này.

<![if !supportEmptyParas]> <![endif]>

CẦU NGUYỆN LÀ GẶP GỠ
THIÊN CHÚA

Cầu nguyện là một
sinh hoạt thường xuyên, rất thân thuộc đối với người Kitô hữu. Có thể nói: một
Kitô hữu không cầu nguyện không thể là một Kitô hữu đúng nghĩa. Cầu nguyện có
thể mang nhiều hình thức: đọc kinh, nguyện gẫm, chiêm niệm, ca tụng, tạ ơn, xin
ơn, nói với Chúa và nhất là nghe Chúa nói, v.v… Nhưng bản chất của cầu nguyện
chính là sự gặp gỡ liên vi giữa Chúa và ta. Và nhờ sự gặp gỡ đó, ta mới cảm nếm
được Thiên Chúa, mới hiểu về Ngài. Cái hiểu này đến từ cảm nghiệm, chứ không
phải đến từ suy luận hay lý thuyết như khi học hỏi. Khi cầu nguyện, nếu không
thực sự gặp gỡ Thiên Chúa, thì có thể nói ta chưa đạt được bản chất hay mục
đích của cầu nguyện. Thật vậy, có nhiều trường hợp người ta đọc kinh, nguyện
gẫm, lần hạt, rước lễ… mà không thực sự gặp gỡ Thiên Chúa. Như thế, người ta
chỉ có vẻ cầu nguyện chứ chưa thực sự cầu nguyện, và đương nhiên không cảm
nghiệm được Ngài.

<![if !supportEmptyParas]> <![endif]>

GẶP GỠ VÀ THƯỞNG NẾM
THIÊN CHÚA QUAN TRỌNG HƠN BIẾT VỀ THIÊN CHÚA

Người ta không gặp gỡ
Thiên Chúa vì người ta không đặt nặng việc đó. Người ta thường có khuynh hướng
chú trọng nhiều đến việc học hỏi về Thiên Chúa, và ít lưu tâm đến việc gặp gỡ
và thưởng nếm Thiên Chúa. Suy tư để hiểu biết về Thiên Chúa rất quan trọng, vì
có hiểu biết về Thiên Chúa, chúng ta mới yêu mến Ngài: «vô tri bất mộ». Nhưng
trong thực tế, biết về Thiên Chúa không quan trọng bằng gặp gỡ Ngài, thưởng nếm
Ngài. Cũng như biết nhiều về nước, biết chính xác về nước với các tính chất và
thành phần cấu tạo của nước không quan trọng bằng việc uống nước. Không biết gì
về nước hay biết sai lạc về nước, không sao cả, miễn là có uống nước. Còn biết
hoàn toàn đúng về nước mà không uống nước, thì sẽ bi cơn khát dày vò, thậm chí
chết được. Cũng vậy, bàn cãi xem Thiên Chúa là hữu ngã hay vô ngã, là một hay
là hai với vũ trụ, sáng tạo ra vũ trụ hay biến hóa ra vũ trụ, thực tế không
quan trọng bằng việc gặp gỡ Thiên Chúa, hưởng nếm sự diu ngọt của Ngài, nhận
được ân sủng và sức mạnh của Ngài. Rất nhiều thần học gia nói thao thao bất
tuyệt về Thiên Chúa nhưng không cảm nghiệm được Thiên Chúa bằng một trẻ em đơn
sơ chân thành. Như vậy, biết Thiên Chúa chỉ là phương tiện, yêu mến Thiên Chúa
mới là mục đích. Biết mà không dẫn tới yêu mến và cảm nghiệm, thì cái biết đó
trở nên vô ích.

Không một tôn giáo
nào trên thế giới không nói tới Hữu Thể mà người Kitô hữu gọi là Thiên Chúa, có
điều họ gọi Hữu Thể ấy bằng những tên khác, và quan niệm về Hữu Thể ấy rất khác
chúng ta. Nhiều khi ta cho rằng họ «vô thần», chỉ vì họ không quan niệm Hữu Thể
ấy là «thần» như chúng ta. Không một tôn giáo nào không lấy Hữu Thể đó làm
trọng tâm duy nhất của đời sống tâm linh, và coi việc gặp gỡ, cảm nghiệm và kết
hợp với Hữu Thể ấy là thực nghiệm tâm linh quan trọng nhất của đời sống tôn
giáo. Và mỗi tôn giáo đều có những cách để gặp gỡ và cảm nghiệm Hữu Thể ấy. Nói
chung, tất cả các tôn giáo cũng như tất cả các giáo phái Kitô giáo đều chung
một mục đích duy nhất là gặp gỡ và thực nghiệm được Hữu Thể mà chúng ta gọi là
Thiên Chúa, mặc dù các tôn giáo quan niệm rất khác nhau về Hữu Thể ấy. Vì thế,
việc gặp gỡ và cảm nghiệm Thiên Chúa có thể là khởi điểm để các tôn giáo và các
giáo phái Kitô giáo có thể gặp gỡ nhau, trao đổi, và cùng múc được chính sự
sống tâm linh đích thực, mà không nhất thiết phải đồng ý với nhau về các tín
điều vốn rất khác biệt nhau giữa các tôn giáo.

Các tín điều ấy hay
sự hiểu biết về Thiên Chúa không hẩn là điều kiện tối cần để có thể thực sự gặp
gỡ và cảm nghiệm được Thực Tại Tối Hậu ấy, tức Thiên Chúa. Thật vậy, một người
quê mùa được học hỏi rất ít về Thiên Chúa, hay một đạo sĩ trong một tôn giáo Á
châu quan niệm về Thiên Chúa khác hẳn chúng ta, vẫn có thể gặp được Thiên Chúa
và cảm nghiệm về Ngài (1) hơn một thần học gia nổi tiếng. Điều đó đã xảy ra
trong Kinh Thánh, khi Chúa Giêsu giáng sinh: những người gặp và thấy Chúa không
phải là những bậc thầy dạy về Thiên Chúa, mà là các mục đồng biết rất ít về
Ngài (x. Lc 2,8-18), và các đạo sĩ ngoại giáo (x. Mt 2,1-12), là những người
chắc chắn có quan niệm về Thiên Chúa rất khác các rabbi Do Thái vốn rất tự hào
mình được Thiên Chúa mặc khải. Vì thế, cùng chia sẻ kinh nghiệm về cầu nguyện,
về việc cảm nghiệm Thiên Chúa
– chứ không phải về những tín điều – chính là khởi điểm để đi đến đại
kết và hiệp nhất, giữa các giáo phái Kitô giáo và giữa các tôn giáo. Hiểu biết
có thể sai, nhưng cảm nghiệm là cái biết thực tiễn, trực tiếp với đối tượng,
không có vấn đề đúng sai. Nói thao thao bất tuyệt về tính chất và cấu tạo của
trái chuối không bằng được ăn chính trái chuối. Lý thuyết về trái chuối có thể
khác nhau và gây chia rẽ, nhưng cảm nghiệm về nó thì hầu như ai cũng giống ai.

<![if !supportEmptyParas]> <![endif]>

GẶP GỠ THIÊN CHÚA Ở ĐÂU?

Thiền sư Bách Trượng
nói về việc tìm kiếm Thực Tại Tối Hậu ấy «hệt như cưỡi trâu tìm trâu». Ấn Độ
giáo cho việc tìm kiếm đó giống như một con cá ở biển đi tìm nước. Nghe những
chuyện đó ta thấy tức cười, nhưng đích thực khi ta tìm kiếm Thiên Chúa, ta cũng
làm một việc tương tự. Thật thế, có nơi nào không có Thiên Chúa? Chúng ta và
vạn vật hiện hữu, sinh sống, làm bất cứ việc gì cũng đều do Thiên Chúa. Làm sao
ta có thể suy nghĩ, viết lách, đi lại, cựa quậy, thậm chí làm những việc dễ
dàng nhất như chớp mắt, hít thở, mà không cần đến Thiên Chúa? Thiên Chúa hiện
diện khắp nơi, trong tất cả vạn vật, trong tất cả mọi sinh hoạt dù nhỏ nhất của
ta. Nhất cử nhất động đều nói lên sự có mặt của Thiên Chúa. Thế mà ta lại tìm
kiếm Thiên Chúa! Và mỉa mai thay lắm khi không gặp được Ngài. Có khác gì con cá
dưới biển tìm nước hoài mà vẫn không thấy nước, không gặp được nước!

Mặc dù Thánh Kinh luôn
luôn có những câu xác đinh rõ nơi Thiên Chúa hiện diện, như: «Nào anh em chẳng
biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong
anh em sao? … Đền thờ ấy chính là anh em» (1Cr 3,16-17; x.1Cr 6,19; 2Cr 6,16;
Ep 2,20-22), nhưng truyền thống Kitô giáo dường như quá nhấn mạnh đến sự hiện
diện của Thiên Chúa trong giáo đường, trong các bí tích, đến nỗi các Kitô hữu
không mấy lưu tâm đến sự hiện diện của Thiên Chúa nơi chính mình, nơi tha nhân.
Nói đến sự hiện diện của Thiên Chúa thì người ta thường nghĩ ngay đến nhà thờ,
đến phép Thánh Thể, không mấy ai nghĩ đến Thiên Chúa ngự ngay trong mình, trong
những người chung quanh. Kinh Thánh dường như không ưa việc đinh vi Thiên Chúa
một cách lệ thuộc và hạn đinh vào không gian vật chất như thế. Nhiều chỗ trong
Kinh Thánh khẳng đinh: «Thiên Chúa, Đấng tạo dựng vũ trụ và muôn loài trong đó,
Đấng làm Chúa tể trời đất, không ngự trong những đền thờ do tay con người làm
nên» (Cv 17,24; x. Cv 7,28; Dt 9,11-12; Is 66,1-2). Chính Đức Giêsu, để trả lời
cho câu hỏi: phải gặp gỡ Thiên Chúa và thờ phượng Ngài ở đâu, đã nói: «Đã đến
giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại
Giêrusalem. Các người thờ Đấng các người không biết… Nhưng giờ đã đến
– và chính là lúc này đây – giờ những người thờ phượng đích
thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí (2) và sự thật, vì Chúa
Cha tìm kiếm những người thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và
những người thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật» (Ga
4,21.23-24; x. Ga 2,21). Vì thế, thánh Phaolô khuyến kích ta tôn vinh, thờ
phượng, gặp gỡ Thiên Chúa ngay trong con người của ta: «Thân xác anh em là đền
thờ của Thánh Thần. Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là chính Thánh Thần của
Thiên Chúa đã ban cho anh em. Anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh
em» (1Cr 6,20b). Quả thật, không có nơi nào ta dễ gặp gỡ Thiên Chúa cho bằng
ngay bản thân ta. Cho dầu Ngài cũng hiện diện trong vũ trụ vạn vật hay những
nơi khác, nhưng nơi gặp gỡ Ngài lý tưởng nhất vẫn là bản thân ta. Có gặp được
Thiên Chúa nơi bản thân mình, thì mới gặp được Ngài ở những nơi khác. Chính
thánh Âu-Tinh thú nhận: «Con đã tìm Chúa ở ngoài con, nên con đã không gặp được
Chúa của lòng con» (3),  và «Con
đã yêu Chúa quá muộn, … Chính Chúa vẫn ở trong con, còn con thì lại ở ngoài con»
(4).

<![if !supportEmptyParas]> <![endif]>

CÓ GẶP THIÊN CHÚA NƠI BẢN
THÂN, MỚI GẶP ĐƯỢC NGÀI Ở NƠI KHÁC

Thiên Chúa hiện diện
khắp nơi, nên có thể gặp được Thiên Chúa ở bất cứ nơi nào, tuy nhiên, vẫn có
những nơi Ngài hiện diện cách đặc biệt, với mật độ cao, hiện diện một cách «đặc
sệt». Nếu nói tới sự hiện diện vật chất của Thiên Chúa, thì phải nói tới phép
Thánh Thể. Vì là hiện diện vật chất, nên sự hiện diện ấy lệ thuộc vào không
gian và thời gian. Muốn gặp Ngài một cách vật chất, ta phải đến những nơi có
Thánh Thể: nhà thờ, nhà nguyện…

Con người gồm cả thể
chất lâãn tâm linh, nên sự gặp gỡ đầy đủ vẫn phải có đủ hai mặt ấy. Nhưng dẫu
sao, giữa hai mặt ấy, gặp gỡ tâm linh vẫn quan trọng hơn rất nhiều. Vì việc gặp
gỡ thể chất chỉ có ý nghĩa khi đã có sự gặp gỡ tâm linh. Vì nếu chỉ gặp gỡ về
mặt thể chất thì không phải là gặp gỡ thật sự. Đó là trường hợp «vô duyên đối
diện bất tương phùng» (5), giống như bọn kinh sư Do Thái gặp và chất
vấn Chúa Giêsu, nhưng hai bên không thật sự «gặp gỡ» nhau. Như vậy, nếu không
có sự gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh, thì có gặp gỡ bằng thể chất, dù là hằng
ngày, cũng vô ích. Do đó, điều quan trọng là gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh và
trong tâm linh của ta, chứ không phải gặp gỡ bằng thể chất như chúng ta đã từng
quá chú trọng mà coi nhẹ sự gặp gỡ tâm linh. Thật vậy, người ta có thể rước
Thánh Thể hằng ngày mà không hề gặp gỡ Thiên Chúa, chỉ vì người ta đã không gặp
gỡ Ngài bằng tâm linh, là cách gặp gỡ mà Chúa Giêsu muốn nói đến khi tiếp xúc
với người phụ nữ Samari về nơi thờ phượng và gặp gỡ Thiên Chúa. Chỉ sau khi gặp
gỡ Thiên Chúa trong tâm linh, người ta mới có thể gặp gỡ Ngài ở bất cứ nơi nào
khác: trong phép Thánh Thể, trong thiên nhiên, trong vạn vật.

<![if !supportEmptyParas]> <![endif]>

GẶP GỠ THIÊN CHÚA QUA CÁC
BÍ TÍCH

Tuy nhiên, chúng ta
không nên coi nhẹ sự gặp gỡ Thiên Chúa qua các bí tích, nhất là qua phép Thánh
Thể, vì con người có thể chất, và vì thể chất ảnh hưởng rất mạnh đến tinh thần
hay tâm linh. Nếu không có sự gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh, thì gặp gỡ qua
thể chất là vô ích. Nhưng nếu chỉ gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh thì chưa đủ
đối với con người có hồn có xác. Nếu đã gặp gỡ trên bình diện tâm linh, thì sự
gặp gỡ về thể chất sẽ làm cho sự gặp gỡ đó thắm thiết lên gấp bội và ích lợi
cho con người cũng tăng lên gấp bội. Điều đó tương tự như trong sự gặp gỡ giữa
vợ chồng. Nếu không có sự gặp gỡ bằng tâm hồn, bằng tình yêu chân thật, thì sự
gặp gỡ thể xác sẽ trở thành vô ý nghĩa. Nhưng nếu đã gặp gỡ bằng tâm hồn, bằng
tình yêu chân thật, thì sự gặp gỡ đó đòi hỏi phải có sự gặp gỡ thể xác như một
nhu cầu thiết yếu. Và sự gặp gỡ thể xác ấy sẽ làm cho sự gặp gỡ tinh thần kia
hạnh phúc lên gấp bội. Và phải gặp gỡ trên cả hai bình diện đó thì đôi vợ chồng
mới đúng nghĩa là vợ chồng… Cũng vậy, có gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh trước
thì việc gặp gỡ Ngài qua thể chất mới có ý nghĩa. Vì thế, Giáo Hội buộc những
ai lãnh bí tích Thánh Thể hay các bí tích khác (trừ rửa tội và giải tội) phải
chuẩn bi trước, và điều quan trọng là phải sạch tội trọng… Đó là một hình thức
Giáo Hội buộc người tín hữu phải gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh trước đã,
trước khi gặp gỡ Ngài qua những dấu chỉ hữu hình vật chất. Nhưng đáng tiếc là
nhiều tín hữu đã hiểu sự đòi hỏi chuẩn bi trước này một cách quá thô thiển và
ngây ngô, nên đã không nếm được «mùi vi tuyệt vời» và hưởng những ơn ích dồi
dào do sự gặp gỡ Đức Kitô qua thể chất. Các bí tích khác cũng vậy.

Nếu người nào chỉ
bằng lòng với việc gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh, không đếm xỉa gì đến việc
gặp gỡ Thiên Chúa qua bí tích, thì việc gặp gỡ bằng tâm linh đó chưa hẳn đã là
một sự gặp gỡ đích thật. Thật thế, có cặp vợ chồng nào yêu thương nhau thực sự
– tức đã gặp gỡ về tinh thần – mà lại không có nhu cầu gặp gỡ
về thể chất? Trong tám cái khổ của Khổ Đế Phật Giáo (6), có một nỗi
khổ rất lớn là «ái biệt ly khổ», nghĩa là nỗi đau khổ do yêu thương nhau mà
phải sống xa cách nhau. Vì thế, khi đã thực sự gặp gỡ Thiên Chúa bằng tâm linh
rồi mà không được gặp Ngài qua thể chất, thì chắc chắn đó phải là một nỗi khổ,
vì tình yêu chưa được thỏa mãn. Đấy là lý do khiến các thánh say sưa quì hàng
giờ trước Thánh Thể Chúa. Gặp gỡ tâm linh càng đậm đà sâu thẳm bao nhiêu, thì
gặp gỡ qua bí tích càng là một nhu cầu cấp bách, càng có ý nghĩa và càng sinh
hoa trái bấy nhiêu.

<![if !supportEmptyParas]> <![endif]>

QUÁ TRÌNH NỘI TÂM HÓA
THIÊN CHÚA

Quá trình tìm hiểu,
gặp gỡ và sống với Thiên Chúa càng đi vào chiều sâu, thì vi trí của Thiên Chúa
đối với tâm hồn con người càng gần gũi hơn, càng đi vào nội tâm con người hơn.

     Khởi
đầu, người ta quan niệm Thiên Chúa hoàn toàn ở ngoài con người, sự độc lập về
mặt hữu thể giữa Thiên Chúa và con người rất lớn: Thiên Chúa là một thực tại
siêu việt hoàn toàn bên ngoài con người.

     Dần
dần con người khám phá ra rằng Thiên Chúa cũng ở ngay trong bản thân mình,
trong tâm hồn mình, nhưng sự kết hợp chưa đi đến độ thắm thiết. Thiên Chúa ở
trong con người, nhưng Thiên Chúa và con người vẫn có thể không gặp nhau, vì
tương đối vẫn còn khá độc lập với nhau.

     Đến
thánh Phaolô, Ngài đã cảm nghiệm được chính Thiên Chúa sống và hoạt động qua
con người mình. Sự kết hợp giữa hai hữu thể đã đi đến độ thâm sâu: con người
cảm thấy bản ngã của mình như tan biến đâu mất, chỉ còn có Thiên Chúa chiếm
hoàn toàn con người mình, đến độ: «Tôi sống nhưng không còn là tôi sống, mà là
Đức Kitô sống trong tôi» (Gl 2,20. X. Rm 8,10-11). Thiên Chúa và con người tuy
là hai hữu thể khác biệt, nhưng đi đến chỗ kết hiệp với nhau rất mật thiết.

     Đến
thánh Âu-Tinh: «Thiên Chúa còn thân mật với tôi hơn cả chính tôi thân mật với
tôi nữa» (7): Thiên Chúa trở thành cái gì căn bản nhất, thâm sâu
nhất trong tôi, hơn cả chính bản ngã của tôi.

Đó là quá trình nội
tâm hóa Thiên Chúa của con người. Thiên Chúa không chỉ siêu việt (transcendant)
ngoài con người, mà còn nội tại (immanent) trong chính con người nữa.

<![if !supportEmptyParas]> <![endif]>

HÃY CẢM NGHIỆM THIÊN CHÚA
NGAY TRONG BẢN THÂN MÌNH

Thiên Chúa nội tại
trong ta và là nền tảng của hữu thể ta. Vậy thì còn phải tìm Thiên Chúa ở đâu
nữa!? Vấn đề không còn là tìm kiếm Thiên Chúa, mà chỉ là ý thức và giác ngộ
được Thiên Chúa ở nơi mình và mình đang sống trong Thiên Chúa. Con cá sẽ không
bao giờ tìm thấy nước bao lâu nó chưa biết rằng nó đang sống trong nước và nước
cũng đang có trong nó. Sở dĩ ta không cảm nghiệm được Thiên Chúa đang đầy tràn
chung quanh ta và đầy tràn ngay trong ta, là vì ta đã để cho những biểu hiện
của Thiên Chúa che mất chính Ngài. Cũng như khi coi phim, ta không còn thấy màn
ảnh nữa chỉ vì mắt ta đã tập trung vào hình ảnh đang diễn ra trên màn ảnh (8).
Màn ảnh vẫn đang ở ngay trước mắt ta mà ta không nhìn thấy. Trong khi chiếu
phim, muốn thấy màn ảnh, ta chỉ cần nhìn vào chính những hình ảnh đang thay
đổi, đồng thời dùng trí tuệ để nhận ra cái nền tảng không thay đổi của những
hình ảnh ấy, tức màn ảnh. Màn ảnh và các hình ảnh thay đổi ấy, một cách nào đó,
«tuy hai mà một», nhưng cũng đồng thời cũng «tuy một mà hai». Lìa bỏ tất cả mọi
hình tướng thay đổi của sự vật, ta sẽ nhận ra ngay cái bất biến hiện diện trong
chính những cái thay đổi ấy. Đó là một cách để cảm nghiệm Thiên Chúa, một cách
rất đông phương, luôn luôn bàng bạc trong giáo lý của các tôn giáo đông phương.

Có cảm nghiệm được
Thiên Chúa, ta mới thưởng nếm được Ngài. Nếm được Ngài, ta mới có sức mạnh, trí
tuệ, hạnh phúc và giải thoát. Đáng tiếc thay, rất nhiều Kitô hữu chỉ chú trọng
đến sự hiểu biết, các tín điều về Thiên Chúa mà không tìm cách cảm nghiệm Ngài.
Do đó, đối với những người ấy, trong đời sống thực tế, tin và không tin dường
như chẳng có gì biến đổi, chẳng làm cho người ta nên tốt lành, thánh thiện và
hạnh phúc hơn bao nhiêu. Không gặp gỡ, cảm nghiệm và thưởng nếm Thiên Chúa, đời
sống tâm linh của họ trở nên nghèo nàn, yếu ớt, vì tâm linh họ không có của ăn,
hay không ăn được những lương thực đích thật bổ dưỡng.

<![if !supportEmptyParas]> <![endif]>

ĐỜI SỐNG TÂM LINH

Sự sống chỉ có một,
nhưng được thể hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau: đời sống thực vật, đời sống
động vật, đời sống tình cảm, đời sống trí thức, và cao nhất là đời sống tâm
linh. Con người hơn con vật ở chỗ có đời sống tình cảm và trí thức, nhưng hơn
rất xa con vật ở chỗ có thể có đời sống tâm linh. Mỗi cấp độ của sự sống đều có
những của ăn riêng biệt. Đời sống thực vật và động vật cần những của ăn vật
chất (nước, glucid, protid, lipid, vitamine…). Đời sống tình cảm được nuôi bằng
những cảm xúc, tâm tình. Đời sống trí thức được nuôi bằng kiến thức, kinh
nghiệm, suy tư… Đời sống tâm linh đương nhiên cũng cần của ăn riêng biệt thích
hợp. Vậy, tâm linh sống bằng gì?

Đời sống tâm linh là
đời sống của linh hồn. Con người khác hẳn con vật ở chỗ có linh hồn, nên chỉ có
những sinh vật từ con người trở lên mới có đời sống tâm linh. Chính nhờ có linh
hồn mà con người là «hình ảnh của Thiên Chúa» (x. St 1,26.27). Thiên Chúa là «Linh»
(thần linh), và linh hồn con người cũng là «linh», con người
giống Thiên Chúa và là hình ảnh của Ngài về mặt này. Nhờ có linh hồn, con người
mới có thể tham dự vào sự sống thần linh của Thiên Chúa, là sự sống Ngài chỉ
ban cho con cái Ngài. Chính nhờ có linh hồn mà tự thâm sâu, con người vẫn tự
nhiên hướng về Ngài, một cách ý thức hoặc vô thức, và chỉ được thỏa mãn khi
nghỉ yên trong Ngài. Có thể nói đời sống tâm linh là đời sống kết hiệp với
Thiên Chúa, khiến ta cảm thấy mình tan hòa trong Ngài, và lúc đó, cái tôi nhỏ
bé hẹp hòi của mình dường như biến mất, khiến ta không còn thấy mình sống nữa,
mình chỉ thấy Thiên Chúa sống trong mình (x. Gl 2,20).

Đời sống tâm linh
không phải là một đời sống mà người ta chỉ có thể quan niệm được mà thôi. Thực
ra, nó phải là một đời sống mà ta có thể cảm nghiệm được (9). Một
người có đời sống tâm linh cao và phong phú có thể cảm nghiệm được linh hồn
mình cũng y như cảm nghiệm được thể xác mình. Và có cảm nghiệm được linh hồn
mình, tâm linh mình, thì mới mong cảm nghiệm được chính Thiên Chúa. Không ai có
thể tự hào mình có đời sống tâm linh dồi dào khi chính mình không cảm nghiệm
được đời sống đó. Cũng như một người có đời sống trí thức dồi dào, thì phải cảm
nghiệm được mình hiểu biết, suy tư, ý thức về chính mình. Hay cũng như một
người có đời sống tình cảm thì phải cảm nghiệm được những nỗi vui buồn, thương
ghét của mình… Vì chúng ta có khả năng biết về mình chứ không vô ý thức như con
vật. Vậy, chẳng lẽ chúng ta có đời sống tâm linh thật sự mà lại không cảm
nghiệm được nó?

<![if !supportEmptyParas]> <![endif]>

ĐỜI SỐNG TÂM LINH PHÁT
TRIỂN THẾ NÀO?

Đời sống tâm linh của
nhiều người chỉ ở dạng «hạt», chưa nảy mầm thành «cây» được, nghĩa là vẫn ở
dạng tiềm năng (in potentia), chứ chưa ở dạng hiện thể (in actu). Hạt đó chính
là cái tôi ý thức của ta, là cái tôi ích kỷ của ta. Cái tôi đó chính là cái hạt
có thể nảy mầm để phát sinh ra đời sống tâm linh. Và bí quyết để làm cho hạt đó
nảy mầm là nó phải «chết» đi, như Đức Giêsu có nói: «Hạt lúa được gieo vào lòng
đất nếu không chết đi, nó vẫn chỉ là hạt lúa, còn nếu chết đi, nó mới sinh được
nhiều hạt khác» (Ga 12,24). Thật vậy, nếu ta không để cho cái tôi ích kỷ của ta
nhỏ bé và chết đi, thì hạt giống tâm linh của ta không thể nảy mầm và phát
triển được. Nếu ta yêu cái tôi của mình quá, chỉ muốn nó được trương phình ra
lấn át cả tha nhân, chắc chắn đời sống tâm linh của ta rất nghèo nàn, què quặt:
«Ai yêu quí mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai coi thường mạng sống mình ở đời
này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời» (Ga 12,25). Giữa Đức Kitô ở trong
tôi
– tức sự sống thần
linh trong tôi – với «cái tôi» của
tôi luôn luôn có sự tỉ lệ nghich với nhau: «Người phải lớn lên, còn tôi phải
nhỏ đi» (Ga 3,30). Nếu tôi coi «cái tôi» của mình lớn quá, ắt nhiên Đức Kitô
trong tôi phải nhỏ đi. Như vậy, cái cản trở đời sống tâm linh của ta nẩy mầm và
phát triển, chính là cái tôi ích kỷ của ta. Làm cho cái tôi đó nhỏ lại, chết
đi, thì Đức Kitô mới sinh ra và «thành hình trong tâm hồn ta» (Gl 4,19).

Đó quả là một quá trình giác ngộ và lột xác. Và kể từ đây,
Đức Kitô trở thành của ăn cần thiết nuôi dưỡng đời sống tâm linh của ta.

<![if !supportEmptyParas]> <![endif]>

ĐỨC KITÔ, LƯƠNG THỰC TÂM
LINH

Chúng ta không nên
hiểu Đức Kitô theo kiểu những người đồng làng với Ngài đã hiểu. Họ hiểu Đức
Kitô một cách rất cụ thể và phiến diện: là người có tên Giêsu, con ông Giuse và
bà Maria, cùng sống ở làng Nazarét với họ và như họ (x. Mt 13,55-56). Nếu ta
hiểu Đức Giêsu như thế thì quả không sai, nhưng một Đức Kitô như thế chẳng ích
lợi gì cho ta, giống như Ngài chẳng làm được gì cho dân làng của Ngài khi họ quan
niệm về Ngài như thế. Ta phải thấy Ngài là một thực tại «từ Trời xuống» (Ga
8,23; 6,38), không phải là người «thuộc về thế gian này» (Ga 8,23), nghĩa là
một thực tại tâm linh cần phải được nội tâm hóa nơi mỗi người. Có như thế, Ngài
mới trở thành của ăn nuôi dưỡng đời sống tâm linh được, vì của ăn phải là tâm
linh mới nuôi dưỡng tâm linh được.

Của ăn tâm linh ở
đây, tức Đức Kitô, không phải chỉ là một con người cá biệt nào đó, mà là một vi
Thiên Chúa toàn năng, toàn thiện, đầy yêu thương, đầy sức mạnh. Biến Ngài thành
của ăn, hay «ăn» Ngài, có nghĩa là là nội tâm hóa Ngài, biến Ngài thành tâm
linh của ta, thành nội tâm của ta, thành sự sống của ta, để ta không còn thấy
ta sống, suy nghĩ, nói năng, hành động nữa, mà là thấy Ngài sống, suy nghĩ, nói
năng, hành động trong ta (x. Gl 2,20). Và hành vi «ăn» Ngài ở đây là một hành
vi của ý thức, của trí tuệ, chứ không phải là «nuốt vào bụng». Nghĩa là luôn
luôn ý thức Ngài sống trong ta, đang hành động trong ta, đang biến đổi ta. «Ăn»
Ngài, chính là lấy Ngài làm lẽ sống, để Ngài chiếm trọn «bầu trời ý thức» của
ta.

Và sau một quá trình
được nuôi dưỡng bằng lương thực tâm linh ấy, cái tôi ích kỷ của ta càng ngày
càng được thay thế dần dần bằng «chất Ngài», hay «tính Kitô», đầy yêu thương,
vi tha, phục vụ. Sự sống tự nhiên đầy khiếm khuyết của ta được thay thế dần dần
bằng sự sống siêu nhiên toàn hảo của Ngài. Và ta càng ngày càng được tham dự
vào tính chất toàn năng toàn thiện, vào tình thương và sức mạnh của Ngài. Sự
sống đời đời, theo một nghĩa nào đó, chính là đời sống tâm linh mà Đức Giêsu
hứa ban, phát xuất từ sự «ăn thit và uống máu Ngài», được hiểu theo nghĩa tâm
linh chứ không chỉ được hiểu theo nghĩa thể xác như những người Nazarét thời
xưa đã hiểu.

<![if !supportEmptyParas]> <![endif]>

KẾT LUẬN

Tình yêu được nuôi
dưỡng bằng những gặp gỡ, những tương quan thân mật giữa hai người, bằng sự hy
sinh, bằng những biểu lộ tình yêu qua cử chỉ, ánh mắt, lời nói… Tình yêu sẽ
giảm hay mất đi khi thiếu những «lương thực» đó, hoặc trái lại sẽ tăng lên và
sinh hoa kết trái nếu được nuôi dưỡng đầy đủ bằng những «lương thực» đó. Tương
tự, đời sống tâm linh hay sự sống thần linh cũng phải được nuôi dưỡng bằng «lương
thực» riêng của nó. Sự sống thần linh là sự sống của chính Thiên Chúa và xuất
phát từ chính Thiên Chúa. Vì thế nó phải được nuôi dưỡng bằng chính Thiên Chúa,
hay cụ thể hơn, bằng sự gặp gỡ thân mật với Thiên Chúa. Sự gặp gỡ ấy chính là
bản chất của cầu nguyện. Vì thế, nói một cách khác, cầu nguyện là lương thực
nuôi dưỡng đời sống tâm linh con người.

Nhưng để có thể thật
sự nuôi dưỡng đời sống tâm linh, thì cầu nguyện phải là sự gặp gỡ đích thực với
Thiên Chúa. Nhưng, muốn gặp gỡ Thiên Chúa thì trước hết phải «có duyên» với
Ngài, như tinh thần của câu: «Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối
diện bất tương phùng», nghĩa là ta phải một cách nào đó đồng cảm với Ngài. Khi
nói chuyện với một người đồng cảm với ta, ta cảm thấy có sự gặp gỡ thật sự. Còn
khi nói chuyện với một người quan niệm, suy nghĩ, chủ trương khác hẳn với ta,
ta thấy khó nói chuyện, và nếu cứ cố nói chuyện thì chỉ đi đến cãi lộn, tranh
chấp, chứ không nhất trí với nhau được. Như vậy, «có duyên» hay «đồng cảm» với
Thiên Chúa nghĩa là gì?

Thánh Gioan cho biết:
«Tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương thì đã được Thiên Chúa
sinh ra. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình
yêu» (1 Ga 4,7-8). Thánh nhân cho thấy, chỉ những ai có tình yêu, những ai biết
yêu thương mọi người bằng một tình yêu vi tha, phổ quát, thì mới là người đồng
cảm với Thiên Chúa. Chỉ những người đó mới có thể gặp được Thiên Chúa. Vì thế,
nếu bản chất của cầu nguyện là gặp gỡ Thiên Chúa, thì chỉ những ai biết yêu
thương mới có thể cầu nguyện đúng nghĩa được. Và tình yêu đòi hỏi ta phải ra
khỏi chính mình, bớt quan tâm đến mình, để có khả năng đến với tha nhân, lưu
tâm đến hạnh phúc hay đau khổ của họ, đến những nhu cầu và mong ước của họ, để
làm cho họ nên tốt và hạnh phúc hơn.

Như thế, điều kiện
tiên quyết để có thể cầu nguyện, gặp gỡ Thiên Chúa, và nuôi dưỡng đời sống tâm
linh, là phải có tình yêu. Vì thế, muốn cho đời sống tâm linh của mình vững
mạnh, phải thực tập đức mến, thể hiện những đặc trưng của đức mến trong đời
sống của mình: «Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh
vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận,
không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui mừng khi thấy
điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chiu đựng tất cả»
(1Cr 13,4-7). Không có tình yêu hay đức mến, người ta không thể gặp gỡ Thiên
Chúa, và do đó, không thể phát triển đời sống tâm linh được.

PHẦN GHI CHÚ

NGUYỄN CHÍNH
KẾT