Công tác nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng tham mưu của các cơ quan Trung ương – Tin tức, đọc báo, sự kiện

Công tác nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng tham mưu của các cơ quan Trung ương

15/08/2021 | 4054

15/08/2021 |4054

1. Nghiên cứu khoa học (NCKH) là một hoạt động xã hội, hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết để phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới. Thông qua quá trình tìm hiểu, quan sát và thí nghiệm dựa vào các dữ liệu, tài liệu đã được thu thập, NCKH  nhằm tìm hiểu về các kiến thức mới, sáng tạo phương pháp và phương tiện kĩ thuật mới để cải tạo thế giới.

Nghiên cứu khoa học nói chung, gồm các loại hình: Nghiên cứu cơ bản giúp phát hiện ra bản chất và quy luật của sự vật, hiện tượng có trong tự nhiên, xã hội và con người. Nghiên cứu ứng dụng giúp giải thích được những vấn đề, sự vật, hiện tượng nhằm giúp hình thành nguyên lý công nghệ, sản phẩm, dịch vụ mới và áp dụng chúng vào hoạt động sản xuất và trong đời sống… Nghiên cứu triển khai chủ yếu vận dụng những quy luật có được từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng đưa ra những hình mẫu mang tính chất khả thi. Nghiên cứu thăm dò nhằm thăm dò xã hội giúp tìm kiếm xác định ra các phương hướng nghiên cứu.

Nghiên cứu khoa học là một hoạt động không thể thiếu đối với con người và mọi tổ chức.C.Mác nhấn mạnh: “Tri thức xã hội phổ biến  đã chuyển hóa đến mức độ nào đó thành lực lượng sản xuất trực tiếp”[1], “Phát minh trở thành một nghề đặc biệt và đối với nghề đó thì việc vận dụng khoa học vào nền sản xuất trực tiếp tự nó trở thành một trong những yếu tố có tính chất quyết định và kích thích”[2]. NCKH sẽ giúp mọi người chủ động hơn, hình thành tư duy mới, phát hiện và giải quyết vấn đề một cách tốt nhất. Một công trình NCKH thành công sẽ tạo điều kiện tăng cường về nhận thức của con người, giúp tăng trưởng kinh tế,mở mang trí thức, trình độ văn hóa…

Đặc điểm của nghiên cứu khoa học là có: Tính phát hiện mới, không có sự lặp lại của các thí nghiệm, cách lý giải và kết luận cũ… Đặc điểm này đòi hỏi NCKH phải có sự sáng tạo và tư duy nhạy bén. Tính thông tin, kết quả của quá trình người NCKH thực hiện và xử lý về thông tin sao cho nó mang giá trị hữu ích phục vụ con người, cho tổ chức. Tính tin cậy, kết quả NCKH đều phải được kiểm chứng lại nhiều lần vì nó phải được thực hiện bởi nhiều người, trong nhiều điều kiện khác nhau… Kết quả NCKH cần phải đủ độ tin cậy để kết luận về bản chất của sự vật và hiện tượng. Tính khách quan, đó là sự trung thực, tôn trọng hiện thực khách quan, chính xác, không được nhận định vội vàng. Tính hiệu quả, mọi NCKH là góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội quốc phòng, an ninh, đối ngoại… Nghiên cứu khoa học cần phải tính toán và cân nhắc thận trọng; mạnh dạn chọn vấn đề, đề tài chưa có ai nghiên cứu, dũng cảm chấp nhận khó khăn, thậm chí có rủi ro, mất thời gian, tốn kém, thất bại nên nó cần có sự dũng cảm và mạo hiểm…

2. Đánh giá về hoạt động NCKH ở nước ta 5 năm qua, Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII khẳng định: “Hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ được nâng lên, tạo chuyển biến tích cực cho hoạt động đổi mới và khởi nghiệp sáng tạo. Quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ có bước đổi mới. Một số cơ chế, chính sách về phát triển, quản lý khoa học và công nghệ, nhất là cơ chế, chính sách quản lý nguồn vốn đầu tư, tài chính bước đầu phát huy tác dụng”[3].

Tuy nhiên trước sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học và công nghệ, Đại hội XIII đã thẳng thắn chỉ ra những khuyết điểm chủ yếu “Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách về phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ còn hạn chế, thiếu thể chế về tài chính, chuyển giao, ứng dụng, phát triển khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ cao; thiếu giải pháp đồng bộ và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và địa phương. Cơ chế và chính sách cán bộ trong hoạt động khoa học và công nghệ còn nặng về hành chính hoá, chưa tạo được môi trường thuận lợi để phát huy sức sáng tạo, thu hút nhân tài. Đầu tư cho khoa học và công nghệ còn thấp, hiệu quả chưa cao,  năng lực sáng tạo của các nhà khoa học chưa được phát huy. Chưa có chính sách hợp lý về vay vốn, thuế, hỗ trợ phát triển, tạo động lực để doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ. Hệ thống thông tin, thống kê khoa học và công nghệ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phục vụ việc xây dựng các chiến lược, chính sách. Bảo hộ sở hữu trí tuệ chưa đạt yêu cầu; chưa gắn kết chặt chẽ giữa khoa học tự nhiên, khoa học – công nghệ và khoa học xã hội – nhân văn, khoa học lý luận chính trị để phục vụ phát triển nhanh và bền vững đất nước”[4].

3. Tính đến ngày 31/12/2020, Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương có 35 đảng bộ cấp trên cơ sở, 29 đảng bộ cơ sở, trong đó có 1.099 tổ chức cơ sở đảng (560 đảng bộ cơ sở, 539 chi bộ cơ sở), 5.485 chi bộ trực thuộc với 81.196 đảng viên. Đảng uỷ Khối là cấp uỷ trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương, chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp và thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Ngoài chức năng lãnh đạo các tổ chức đảng trực thuộc hoạt động theo Quyết định số 98-QĐ/TW, ngày 22/10/2007 của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương thì Đảng ủy Khối còn có trách nhiệm lãnh đạo các tổ chức đảng trong các cơ quan Trung ương (thuộc khối) phối hợp với lãnh đạo cơ quan, đơn vị và các cơ quan liên quan tiến hành NCKH nhằm phát huy vai trò hạt nhân chính trị lãnh đạo cán bộ, đảng viên và người lao động trong cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh gắn với xây dựng cơ quan và đoàn thể ở các cơ quan, đơn vị trong Đảng bộ Khối vững mạnh.

Thực tiễn cho thấy, hoạt động NCKH muốn có hiệu quả phụ thuộc vào 3 yếu tố: hệ thống tổ chức, đội ngũ cán bộ và cơ chế, phương thức vận hành của tổ chức đó. Công tác NCKH của Đảng bộ Khối có đủ các loại hình từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, triển khai đến cả nghiên cứu thăm dò. Đảng bộ Khối lãnh đạo các cơ quan Trung ương nghiên cứu NCKH theo các định hướng lớn; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ với các quan điểm mà Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã đưa ra: “Tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”[5]. Chú trọng phát triển đồng bộ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị.

Theo tinh thần của Đại hội XIII, các đảng bộ trong Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ thể chế, chính sách ứng dụng, phát triển khoa học và công nghệ, cơ cấu lại các chương trình nghiên cứu khoa học và công nghệ theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, lấy phục vụ hiệu quả sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc làm mục tiêu. Rà soát, sắp xếp lại hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ gắn với đổi mới toàn diện chính sách nhân lực khoa học và công nghệ. Tăng cường đầu tư phát triển khoa học và công nghệ theo cơ chế thị trường trên cơ sở huy động hợp lý nguồn lực từ Nhà nước, doanh nghiệp và các cá nhân. Hỗ trợ, khuyến khích các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu phát triển, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ. Chuyển đổi cơ chế đầu tư, quản lý tài chính khoa học và công nghệ theo nguyên tắc đặt hàng, dựa vào kết quả, hiệu quả cuối cùng. Các ngành, các cấp có trách nhiệm trong việc thúc đẩy phát triển và ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào lĩnh vực mình phụ trách. Ưu tiên chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, con người. Phát triển hạ tầng số và bảo đảm an ninh mạng, tạo điều kiện cho người dân và các doanh nghiệp thuận lợi, an toàn tiếp cận nguồn tài nguyên số, xây dựng cơ sở dữ liệu lớn. Tháo gỡ kịp thời những vướng mắc, thực hiện tốt các chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, trọng dụng và đãi ngộ đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ, nhất là chuyên gia đầu ngành, nhân tài trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.

 Tiếp tục phát triển thị trường khoa học và công nghệ, hỗ trợ thương mại hoá các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ. Nâng cao hiệu quả hoạt động tiêu chuẩn đo lường chất lượng và sở hữu trí tuệ, thông tin, thống kê khoa học và công nghệ.

Tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ. Đa dạng hoá hợp tác quốc tế, ưu tiên hợp tác với các đối tác chiến lược. Gắn hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ với mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội, quốc phòng và an ninh. Có chính sách hỗ trợ hoạt động giao lưu, trao đổi học thuật quốc tế.

Với các hình thức khác nhau, Đảng bộ Khối tiếp tục động viên, toàn thể cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy NCKH, khơi dậy ý chí, tiềm năng, nguồn lực NCKH cho phát triển. Và để công tác NCKH góp phần nâng cao chất lượng tham mưu của các cơ quan Trung ương (thuộc Khối) trong thời gian tới, Đảng ủy Khối cần định hướng cho các đảng ủy trực thuộc phối hợp với Ban cán sự đảng, đảng đoàn, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị tổ chức NCKH, cụ thể hóa việc triển khai 6 nhiệm vụ trọng tâm mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã nêu ra:

– Một là,NCKH về tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị toàn diện, trong sạch, vững mạnh. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Củng cố niềm tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

– Hai là, NCKH về tập trung kiểm soát đại dịch Covid-19, tiêm chủng đại trà vắcxin Covid-19 cho cộng đồng; phục hồi, phát triển kinh tế – xã hội, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập; phát triển đồng bộ và tạo ra sự liên kết giữa các khu vực, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh; có chính sách hỗ trợ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, nhất là trong nông nghiệp; đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực để phát triển kinh tế nhanh và bền vững; hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là pháp luật về sở hữu trí tuệ và giải quyết các tranh chấp dân sự; khắc phục những điểm nghẽn cản trở sự phát triển của đất nước.

– Ba là, NCKH về giữ vững độc lập, tự chủ, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước.

– Bốn là, NCKH về khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế; có chính sách cụ thể phát triển văn hoá vùng đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam.

– Năm là, NCKH về hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân; đồng thời tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, trước hết là việc thực thi tinh thần “thượng tôn pháp luật”, gương mẫu tuân theo pháp luật, kỷ cương và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa của cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và tổ chức chính trị – xã hội các cấp, của cán bộ, đảng viên; tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc.

– Sáu là, NCKH về quản lý chặt chẽ, sử dụng hợp lý, hiệu quả đất đai, tài nguyên; bảo vệ, cải thiện môi trường; chủ động, tích cực triển khai các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu. Tiếp tục hướng vào ba đột phá chiến lược do Đại hội lần thứ XI và XII của Đảng đã xác định: (1) Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. (2) Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam. (3) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội; chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số.

ThS Bùi Đức Việt

Phó Trưởng ban Dân vận, Thư ký Hội đồng Khoa học Đảng ủy Khối

[1] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.46, phần II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 372.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.46, phần II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 367.

 

[3] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB CTQGST, 2021, Tập 1, Tr 64.

[4] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB CTQGST, 2021, Tập 1, Tr 83.

[5] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB CTQGST, 2021, Tập 1, Tr 140.