BÁO CÁO NGHIÊN CỨU MARKETING – Tài liệu text – Kiến Thức Cho Người lao Động Việt Nam

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU MARKETING

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.15 MB, 19 trang )

Bạn đang đọc: BÁO CÁO NGHIÊN CỨU MARKETING – Tài liệu text

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU
MARKETING
1 MỤC LỤC
MỤC LỤC
1.1 PHẦN GIỚI THIỆU
1.1.1 LÝ DO THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU NÀY
Thị trường đồ chơi trẻ em Việt Nam hiện nay hoàn toàn đã nhường sân cho đồ chơi
ngoại nhập. Trong đó đồ chơi trẻ em do Trung Quốc sản xuất chiếm 80% thị phần, bên cạnh đó
là những thương hiệu ngoại khác, đồ chơi nội địa chỉ chiếm 1% ít ỏi. Trong bối cảnh đó, nhóm
chúng tôi muốn thực hiện một cuộc nghiên cứu để tìm hiểu xem hành vi của người tiêu dùng
như thế nào đối với đồ chơi trẻ em. Từ đó tìm ra những hướng đi, giải pháp cải tiến chất lượng
sản phẩm đồ chơi nội địa nhằm mong muốn vực dậy thị phần vốn nằm trong tay những đối thủ
cạnh tranh nước ngoài bấy lâu nay.
1.1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.1.2.1 MỤC TIÊU CHÍNH
i. Hình thành “bức tranh” tổng thể về hành vi của người tiêu dùng đối với sản phẩm đồ chơi
trẻ em, gồm những mục nhỏ sau:
• Xác định ra nhóm các yếu tố (đặc tính) của đồ chơi mà khách hàng quan tâm nhất khi
lựa chọn sản phẩm này cho con, em mình
• Xác định tần suất mua sản phẩm này của người tiêu dùng
• Xác định nơi chốn người tiêu dùng hay mua sản phẩm
• Xác định mức chi tiêu của họ cho sản phẩm
• Xác định thái độ của họ đối với sản phẩm nội địa
• Mong muốn của họ về sản phẩm nội địa
1.1.3 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1.1.3.1 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này được thực hiện tại các quận nội thành thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể các
quận:
• Quận 1
• Quận 2
• Quận 3

• Quận 9
• Quận Bình Thạnh
• Quận Tân Bình
• Quận Phú Nhuận
1.1.3.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này tập trung vào các hộ gia đình thuộc vào nhóm B, C (thu nhập từ
4.500.000 đồng đến 15.000.000 đồng/tháng)
1
, có trẻ em (con ruột hay con, cháu có liên quan
đến gia đình) thuộc độ tuổi từ 18 tháng cho đến 13 tuổi.
Đối tượng chính mà nghiên cứu khảo sát chính là các bà mẹ, người thân thuộc của trẻ,
đã từng mua sản phẩm đồ chơi trẻ em vào mục đích cho con em họ sử dụng. Nghiên cứu không
tập trung vào nhóm khách hàng mua để biếu tặng.
1.1.4 NỘI DUNG BÁO CÁO
• TẦN SUẤT MUA SẮM (CỦA PHỤ HUYNH)
• NƠI CHỐN MUA SẮM
• MỨC CHI TIÊU CHO SẢN PHẨM
• TIÊU CHÍ LỰA CHỌN SẢN PHẨM
• NHẬN THỨC
• MONG MUỐN TƯƠNG LAI ĐỐI VỚI ĐỒ CHƠI VIỆT
1.2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
1.2.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
MÔ HÌNH nghiên cứu mô tả, nhằm vẽ ra một bức tranh về hành vi của người tiêu
dùng khi mua đồ chơi cho con em họ. Mô hình này tập trung lọc ra thông tin như những yếu tố
của sản phẩm mà người tiêu dùng thường hay quan tâm nhất, tần suất mua sắm, mức chi tiêu
cho sản phẩm, nhận thức của người tiêu dùng…
Nghiên cứu được thực hiện qua hai bước:
 Bước thứ nhất là phỏng vấn nhóm điển hình, dùng mô hình Focus Group, chọn ra 10
khách hàng tiêu biểu để làm rõ những thông tin liệt kê ở trên (tần suất, mức chi tiêu,
yếu tố của sản phẩm…) để đưa vào bản câu hỏi. Tham khảo 10 vị khách hàng tiêu biểu

này là một lựa chọn khôn ngoan trước khi áp dụng ra thực tế.
 Bước thứ hai: Sau khi lọc ra được những thông tin cần thiết rồi thì sẽ tiến hành khảo
sát trên diện rộng (dùng mô hình CROSS-SECTIONAL), xuyên suốt các quận nội
thành, nhằm xác định từng thông tin đã nêu ở hướng thứ nhất. Bên cạnh đó cũng sẽ
1 Xem Phụ lục 1. Những thông tin bổ trợ cho nghiên cứu
nắm được thông tin về mức độ quan tâm sản phẩm nội địa của khách hàng là bao nhiêu
phần trăm.
1.2.2 XÁC ĐỊNH DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
1.2.2.1 MỤC TIÊU DỮ LIỆU
Nhằm xác định hành vi mua sắm và sử dụng sản phẩm đồ chơi trẻ em của người tiêu
dùng. Hành vi này thể hiện qua tần suất mua sắm, mức chi tiêu cho sản phẩm, đặc tính sản
phẩm…
1.2.2.2 LOẠI DỮ LIỆU
 Dữ liệu về đối tượng khách hàng (người mua, người sử dụng), độ tuổi, thu nhập…(SỰ
KIỆN – MÔ TẢ)
 Dữ liệu xã hội chung về thói quen tiêu dùng (SỰ KIỆN – MÔ TẢ)
 Dữ liệu về sự nhận thức về mức độ nguy hại của đồ chơi Trung Quốc (KIẾN THỨC –
MÔ TẢ)
 Dữ liệu về sự hiểu biết chừng mực về đồ chơi trẻ em khi hướng dẫn cho con em mình
sử dụng (KIẾN THỨC)
 Dữ liệu về định kiến của khách hàng về sản phẩm TQ nói chung, và đồ chơi trẻ em nói
riêng (DƯ LUẬN)
 Hành vi của khách hàng đối diện với sản phẩm? (quan sát, ngắm nhìn, phớt lờ, tỷ
mỷ…) (SỰ KIỆN)
1.2.2.3 NGUỒN DỮ LIỆU
1.2.2.3.1 DỮ LIỆU THỨ CẤP
 Các ấn phẩm nghiên cứu về thị trường Việt Nam của AC Nielson;
 Nghiên cứu xã hội của TNS Vietnam;
 Các báo cáo thống kê hàng tháng, hàng năm về dân cư, mật độ, mức sống… của
Tổng cục Thống kê Viet Nam;

 Các bài báo, bài viết về hành vi khách hàng của các website quốc tế;
 Báo cáo về thu nhập, chỉ số phát triển nói chung của tổ chức WB, WTO…;
 Bài báo, phóng sự của các tờ báo trong nước: Tuổi trẻ, Thanh niên, Người Lao
động, SGTT…
1.2.2.3.2 DỮ LIỆU SƠ CẤP
 Kết quả điều tra, khảo sát nhóm về hiểu biết của NTD về đồ chơi;
 Kết quả phỏng vấn nhỏ một số khách hàng khi mua đồ chơi;
 Kết quả thu thập được qua quan sát sơ bộ ban đầu
1.2.2.3.3 PHƯƠNG THỨC THU THẬP:
 Đối với dữ liệu thứ cấp: thu thập qua các nguồn nói trên chủ yếu thông qua mạng
internet
 Đối với dữ liệu sơ cấp:
o Khảo sát Focus Group: phỏng vấn, trao đổi trực tiếp; trước đó dùng email,
hoặc điện thoại để liên hệ nhóm khách hàng đến dự buổi thảo luận.
o Khảo sát về sự hiểu biết của KH về đồ chơi: chủ yếu là phỏng vấn ngẫu
nhiên một vài khách hàng; dùng bảng câu hỏi để phỏng vấn; phỏng vấn trực
tiếp, không dùng điện thoại/email
o Khảo sát về mức độ nhận thức nguy hiểm tiềm ẩn trong đồ chơi: dùng
bảng câu hỏi để thăm dò là chính; kết hợp với phỏng vấn một vài khách
hàng, người bán hàng (tiểu thương ở các shop, cửa hàng bán lẻ, đại lý…)
o Khảo sát những yếu tố mà phụ huynh của trẻ thường lựa chọn khi mua
đồ chơi cho chúng (mô hình CROSS-SECTIONAL): dùng bảng câu hỏi
thăm dò
1.2.3 PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU
Tổng thể chọn mẫu: các hộ gia đình trong địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Tiêu chuẩn chọn mẫu: các hộ gia đình có mức thu nhập từ lớp B,C (nghiên cứu của
AC Nielson) và có con nhỏ từ 18 tháng (1,5 tuổi) – 13 tuổi
Nghiên cứu này không sử dụng phương pháp lấy mẫu xác suất, vì ta đã biết cơ hội
được chọn vào mẫu xác suất là ngang nhau, điều đó có nghĩa là tất cả các hộ dân trên địa bàn
TP.HCM đều có thể được chọn, ngay cả hộ gia đình không có con phù hợp theo tiêu chuẩn

trên. Do đó, việc có thể xảy ra phần tử không đúng theo tiêu chuẩn chọn vào mẫu sẽ làm mất
thời gian, chi phí nghiên cứu.
Phương pháp được chọn là phương pháp lấy mẫu phi xác suất. Ở đây, để phù hợp
với tiêu chuẩn chọn mẫu trên, nhóm dùng phương pháp lấy mẫu phán đoán và lấy theo tỉ lệ.
Trước hết sẽ điểm qua những yếu tố thuận lợi, bất lợi của 2 phương pháp này:
NHÂN TỐ ĐƯỢC XEM XÉT LẤY MẪU PHI XÁC SUẤT
PHÁN ĐOÁN TỶ LỆ
1. Đo lường mục tiêu
s.số…
Không Không
2. Hiệu quả của mẫu – –
3. Danh sách tổng thể Không Không
4. Kiểm tra dạng chệch… Không Có
5. Phí tổn của mẫu trong
tổng thể
Thấp Trung bình
6. Tần số sử dụng trong
marketing
Trung bình Cao
Theo bảng đánh giá trên thì rõ ràng hai phương pháp này đem lại được kết quả khả thi
hơn với chi phí cho nghiên cứu vừa phải. Cả hai phương pháp này không đòi hỏi danh sách
tổng thể, hạn chế được việc tìm mua danh bạ, danh sách khách hàng vốn rất đa dạng và thời
gian tiêu tốn cho việc này. Tuy nhiên, phỏng vấn viên của nhóm phải đến từng khu vực, từng
quận để chọn mẫu. Công việc này sẽ phải tốn thời gian đi lại nhưng việc phán đoán và chọn
mẫu đúng theo tiêu chuẩn sẽ ít sai sót hơn, điều đó đồng nghĩa chúng ta không phải mất thời
gian khắc phục sai sót đó.
Đối với hộ gia đình có mức thu nhập nhóm B,C: sử dụng phương pháp phán đoán để
chọn ra (dựa vào mặt tiền nhà, kiểu nhà lầu, trệt; cách bày trí đồ đạc; cách ăn mặc chủ nhà;
hoặc dựa vào cách ăn mặc, đi đứng của khách hàng mà ta muốn phỏng vấn…)
Sau khi chọn ra được mỗi quận một số hộ gia đình thuộc nhóm B,C (10 hộ/quận),

Xem thêm: Các Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Luận Văn

tiếp tục chọn ra trong số hộ gia đình đó có con nhỏ theo nhóm tuổi trên, rồi ghi vào bảng tỷ lệ.
Có thể kết hợp cả 2 cách trên cùng một lúc để tránh mất thời gian, và những việc
phát sinh ngoài ý muốn.
1.2.4 XÁC ĐỊNH KÍCH CỠ MẪU
• Xác định sai số cho phép: 300.000 đồng/hộ  e =+/- 300.000
• Xác định hệ số tin cậy: 95%
• Trị số z (95%) = 1.96
• Ước tính độ lệch chuẩn: 1.750.000 đồng
 Lưu ý: khảo sát lấy theo thu nhập nhóm B,C: cao nhất là 15.000.000
đồng, thấp nhất là 4.500.000 đồng, xem chú thích của AC Nielson, trang
77
Kích cỡ mẫu cần khảo sát (n) là 130 hộ
Tức là, ta cần khảo sát ít nhất là 130 hộ để cho giá trị trung bình của tổng thể có sai số là
+/-300.000 đồng, với mức tin cậy là 95%
 Như vậy, dùng phương pháp phán đoán để chọn ra 130 hộ gia đình có
mức thu nhập thuộc nhóm B, C rải trên 12 quận nội thành mà trên đã mô
tả. Nhưng giới hạn về thời gian và chi phí nên nhóm chỉ tập trung vào
các quận đông dân cư, mức mua sắm cao.
BẢNG TÍNH EXCEL
1.2.5 BẢNG CÂU HỎI
1.2.6 SỐ LƯỢNG NHÂN VIÊN ĐI KHẢO SÁT
Số lượng khảo sát viên chính thức của nhóm gồm 8 người, trong đó nhờ hỗ trợ thêm 1
người. Mổi người nhận 20 phiếu đi đến từng quận, cụ thể như sau:
• Văn Anh – Quận Phú Nhuận, quận 3
• Kim Lý – Quận 1
• Chiến Thắng – Quận 9
• Ngọc Anh – Quận 9
• Thúy Quỳnh – Quận Bình Thạnh
• Ngọc Trâm – Quận 2
• Ngọc Thư – Quận 9

• Xuân Hòa
2
– Quận Tân Bình
1.3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1.3.1 PHÂN TÍCH MẪU KHẢO SÁT
Tổng số phiếu phát đi 200, thu về được 170 phiếu. Mẫu nghiên cứu của nhóm khi khảo sát tuân
theo phương pháp chọn mẫu ở trên. Tức là:
• Tổng thể mẫu được chọn: khu vực nội thành TP.HCM
• Tiêu chuẩn lấy mẫu: Hộ gia đình có thu nhập thuộc nhóm B, C; có con, cháu trong độ
tuổi từ 0 – 13 tuổi
KẾT CẤU NHÓM TUỔI TỪ MẪU KHẢO SÁT
2 Nhóm nhờ thêm bạn hỗ trợ
Do tuoi tre em
Frequency Percent Valid Percent
Cumulative
Percent
Valid Dưới 18 tháng tuổi 11 6.5 6.5 6.5
18 tháng – dưới 3 tuổi 26 15.3 15.5 22.0
3 tuổi – dưới 5 tuổi 53 31.2 31.5 53.6
5 tuổi – dưới 7 tuổi 30 17.6 17.9 71.4
7 tuổi – dưới 9 tuổi 24 14.1 14.3 85.7
9 tuổi – dưới 11 tuổi 8 4.7 4.8 90.5
11 tuổi – dưới 13 tuổi 11 6.5 6.5 97.0
Trên 13 tuổi 5 2.9 3.0 100.0
Total 168 98.8 100.0
Missing Khong tra loi 2 1.2
Total 170 100.0
Độ tuổi trẻ em được phân nhóm từ 0 (dưới 18 tháng) cho đến trên 13 tuổi. Trong bảng
phân tích trên thì hộ gia đình có trẻ em từ 3 đến dưới 5 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (31.2%), sau
đó đến nhóm 5 tuổi – dưới 7 tuổi (17,6%), nhóm 18 tháng – dưới 3 tuổi (15.3%), nhóm 7 tuổi –

dưới 9 tuổi (14.1%). Các nhóm còn lại đều chiếm tỷ lệ nhỏ (ít hơn 10%).
Nhóm không chú trọng vào một nhóm tuổi nào cụ thể. Khi đi điều tra, nhóm chủ động
tiếp cận với các phụ huynh có con theo học ở các trường mẫu giáo, mầm non, tiểu học, trung
học cơ sở tương ứng với phân nhóm tuổi trên vì không dễ để khảo sát trực tiếp tại các hộ gia
đình. Do đó, theo những gì thể hiện trên biểu đồ, nhóm tuổi từ 18 tháng tuổi cho đến dưới 9
tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất so với các nhóm còn lại. Đây chính là độ tuổi của trẻ đang theo học ở
các trường mẫu giáo, tiểu học.
• Quận 9 • Quận Q. Bình Thạnh • Quận Tân Bình • Quận Phú Nhuận1. 1.3.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨUNghiên cứu này tập trung chuyên sâu vào những hộ mái ấm gia đình thuộc vào nhóm B, C ( thu nhập từ4. 500.000 đồng đến 15.000.000 đồng / tháng ), có trẻ nhỏ ( con ruột hay con, cháu có liên quanđến mái ấm gia đình ) thuộc độ tuổi từ 18 tháng cho đến 13 tuổi. Đối tượng chính mà nghiên cứu khảo sát chính là những bà mẹ, người thân thuộc của trẻ, đã từng mua loại sản phẩm đồ chơi trẻ nhỏ vào mục tiêu cho con em của mình họ sử dụng. Nghiên cứu khôngtập trung vào nhóm người mua mua để biếu Tặng Kèm. 1.1.4 NỘI DUNG BÁO CÁO • TẦN SUẤT MUA SẮM ( CỦA PHỤ HUYNH ) • NƠI CHỐN MUA SẮM • MỨC CHI TIÊU CHO SẢN PHẨM • TIÊU CHÍ LỰA CHỌN SẢN PHẨM • NHẬN THỨC • MONG MUỐN TƯƠNG LAI ĐỐI VỚI ĐỒ CHƠI VIỆT1. 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN1. 2.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨUMÔ HÌNH nghiên cứu diễn đạt, nhằm mục đích vẽ ra một bức tranh về hành vi của người tiêudùng khi mua đồ chơi cho con trẻ họ. Mô hình này tập trung chuyên sâu lọc ra thông tin như những yếu tốcủa loại sản phẩm mà người tiêu dùng thường hay chăm sóc nhất, tần suất shopping, mức chi tiêucho loại sản phẩm, nhận thức của người tiêu dùng … Nghiên cứu được thực thi qua hai bước :  Bước thứ nhất là phỏng vấn nhóm nổi bật, dùng quy mô Focus Group, chọn ra 10 người mua tiêu biểu vượt trội để làm rõ những thông tin liệt kê ở trên ( tần suất, mức tiêu tốn, yếu tố của mẫu sản phẩm … ) để đưa vào bản câu hỏi. Tham khảo 10 vị người mua tiêu biểunày là một lựa chọn khôn ngoan trước khi vận dụng ra trong thực tiễn.  Bước thứ hai : Sau khi lọc ra được những thông tin thiết yếu rồi thì sẽ triển khai khảosát trên diện rộng ( dùng quy mô CROSS-SECTIONAL ), xuyên suốt những Q. nộithành, nhằm mục đích xác lập từng thông tin đã nêu ở hướng thứ nhất. Bên cạnh đó cũng sẽ1 Xem Phụ lục 1. Những thông tin hỗ trợ cho nghiên cứunắm được thông tin về mức độ chăm sóc loại sản phẩm trong nước của người mua là bao nhiêuphần trăm. 1.2.2 XÁC ĐỊNH DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU1. 2.2.1 MỤC TIÊU DỮ LIỆUNhằm xác lập hành vi shopping và sử dụng loại sản phẩm đồ chơi trẻ nhỏ của người tiêudùng. Hành vi này bộc lộ qua tần suất shopping, mức tiêu tốn cho mẫu sản phẩm, đặc tính sảnphẩm … 1.2.2. 2 LOẠI DỮ LIỆU  Dữ liệu về đối tượng người dùng người mua ( người mua, người sử dụng ), độ tuổi, thu nhập … ( SỰKIỆN – MÔ TẢ )  Dữ liệu xã hội chung về thói quen tiêu dùng ( SỰ KIỆN – MÔ TẢ )  Dữ liệu về sự nhận thức về mức độ nguy cơ tiềm ẩn của đồ chơi Trung Quốc ( KIẾN THỨC – MÔ TẢ )  Dữ liệu về sự hiểu biết chừng mực về đồ chơi trẻ nhỏ khi hướng dẫn cho con em của mình mìnhsử dụng ( KIẾN THỨC )  Dữ liệu về định kiến của người mua về loại sản phẩm TQ nói chung, và đồ chơi trẻ nhỏ nóiriêng ( DƯ LUẬN )  Hành vi của người mua đối lập với loại sản phẩm ? ( quan sát, ngắm nhìn, phớt lờ, tỷmỷ … ) ( SỰ KIỆN ) 1.2.2. 3 NGUỒN DỮ LIỆU1. 2.2.3. 1 DỮ LIỆU THỨ CẤP  Các ấn phẩm nghiên cứu về thị trường Nước Ta của AC Nielson ;  Nghiên cứu xã hội của TNS Vietnam ;  Các báo cáo thống kê hàng tháng, hàng năm về dân cư, tỷ lệ, mức sống … củaTổng cục Thống kê Viet Nam ;  Các bài báo, bài viết về hành vi người mua của những website quốc tế ;  Báo cáo về thu nhập, chỉ số tăng trưởng nói chung của tổ chức triển khai WB, WTO … ;  Bài báo, phóng sự của những tờ báo trong nước : Tuổi trẻ, Thanh niên, Người Laođộng, SGTT … 1.2.2. 3.2 DỮ LIỆU SƠ CẤP  Kết quả tìm hiểu, khảo sát nhóm về hiểu biết của NTD về đồ chơi ;  Kết quả phỏng vấn nhỏ một số ít người mua khi mua đồ chơi ;  Kết quả tích lũy được qua quan sát sơ bộ ban đầu1. 2.2.3. 3 PHƯƠNG THỨC THU THẬP :  Đối với tài liệu thứ cấp : tích lũy qua những nguồn nói trên đa phần trải qua mạnginternet  Đối với tài liệu sơ cấp : o Khảo sát Focus Group : phỏng vấn, trao đổi trực tiếp ; trước đó dùng email, hoặc điện thoại thông minh để liên hệ nhóm người mua đến dự buổi tranh luận. o Khảo sát về sự hiểu biết của KH về đồ chơi : hầu hết là phỏng vấn ngẫunhiên một vài người mua ; dùng bảng câu hỏi để phỏng vấn ; phỏng vấn trựctiếp, không dùng điện thoại cảm ứng / emailo Khảo sát về mức độ nhận thức nguy khốn tiềm ẩn trong đồ chơi : dùngbảng câu hỏi để thăm dò là chính ; phối hợp với phỏng vấn một vài kháchhàng, người bán hàng ( tiểu thương nhỏ lẻ ở những shop, shop kinh doanh nhỏ, đại lý … ) o Khảo sát những yếu tố mà cha mẹ của trẻ thường lựa chọn khi muađồ chơi cho chúng ( quy mô CROSS-SECTIONAL ) : dùng bảng câu hỏithăm dò1. 2.3 PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪUTổng thể chọn mẫu : những hộ mái ấm gia đình trong địa phận thành phố Hồ Chí MinhTiêu chuẩn chọn mẫu : những hộ mái ấm gia đình có mức thu nhập từ lớp B, C ( nghiên cứu củaAC Nielson ) và có con nhỏ từ 18 tháng ( 1,5 tuổi ) – 13 tuổiNghiên cứu này không sử dụng chiêu thức lấy mẫu Tỷ Lệ, vì ta đã biết cơ hộiđược chọn vào mẫu Phần Trăm là ngang nhau, điều đó có nghĩa là toàn bộ những hộ dân trên địa bànTP. HCM đều hoàn toàn có thể được chọn, ngay cả hộ mái ấm gia đình không có con tương thích theo tiêu chuẩntrên. Do đó, việc hoàn toàn có thể xảy ra thành phần không đúng theo tiêu chuẩn chọn vào mẫu sẽ làm mấtthời gian, ngân sách nghiên cứu. Phương pháp được chọn là giải pháp lấy mẫu phi Tỷ Lệ. Ở đây, để phù hợpvới tiêu chuẩn chọn mẫu trên, nhóm dùng giải pháp lấy mẫu phán đoán và lấy theo tỉ lệ. Trước hết sẽ điểm qua những yếu tố thuận tiện, bất lợi của 2 giải pháp này : NHÂN TỐ ĐƯỢC XEM XÉT LẤY MẪU PHI XÁC SUẤTPHÁN ĐOÁN TỶ LỆ1. Đo lường mục tiêus. số … Không Không2. Hiệu quả của mẫu – – 3. Danh sách tổng thể và toàn diện Không Không4. Kiểm tra dạng chệch … Không Có5. Phí tổn của mẫu trongtổng thểThấp Trung bình6. Tần số sử dụng trongmarketingTrung bình CaoTheo bảng nhìn nhận trên thì rõ ràng hai chiêu thức này đem lại được tác dụng khả thihơn với ngân sách cho nghiên cứu vừa phải. Cả hai giải pháp này không yên cầu danh sáchtổng thể, hạn chế được việc tìm mua danh bạ, list người mua vốn rất phong phú và thờigian tiêu tốn cho việc này. Tuy nhiên, phỏng vấn viên của nhóm phải đến từng khu vực, từngquận để chọn mẫu. Công việc này sẽ phải tốn thời hạn đi lại nhưng việc phán đoán và chọnmẫu đúng theo tiêu chuẩn sẽ ít sai sót hơn, điều đó đồng nghĩa tương quan tất cả chúng ta không phải mất thờigian khắc phục sai sót đó. Đối với hộ mái ấm gia đình có mức thu nhập nhóm B, C : sử dụng chiêu thức phán đoán đểchọn ra ( dựa vào mặt tiền nhà, kiểu nhà lầu, trệt ; cách bày trí đồ vật ; cách ăn mặc chủ nhà ; hoặc dựa vào cách ăn mặc, đi đứng của người mua mà ta muốn phỏng vấn … ) Sau khi chọn ra được mỗi Q. một số ít hộ mái ấm gia đình thuộc nhóm B, C ( 10 hộ / Q. ), liên tục chọn ra trong số hộ mái ấm gia đình đó có con nhỏ theo nhóm tuổi trên, rồi ghi vào bảng tỷ suất. Có thể tích hợp cả 2 cách trên cùng một lúc để tránh mất thời hạn, và những việcphát sinh ngoài ý muốn. 1.2.4 XÁC ĐỊNH KÍCH CỠ MẪU • Xác định sai số được cho phép : 300.000 đồng / hộ  e = + / – 300.000 • Xác định thông số đáng tin cậy : 95 % • Trị số z ( 95 % ) = 1.96 • Ước tính độ lệch chuẩn : 1.750.000 đồng  Lưu ý : khảo sát lấy theo thu nhập nhóm B, C : cao nhất là 15.000.000 đồng, thấp nhất là 4.500.000 đồng, xem chú thích của AC Nielson, trang77Kích cỡ mẫu cần khảo sát ( n ) là 130 hộTức là, ta cần khảo sát tối thiểu là 130 hộ để cho giá trị trung bình của tổng thể và toàn diện có sai số là + / – 300.000 đồng, với mức an toàn và đáng tin cậy là 95 %  Như vậy, dùng chiêu thức phán đoán để chọn ra 130 hộ mái ấm gia đình cómức thu nhập thuộc nhóm B, C rải trên 12 Q. nội thành của thành phố mà trên đã môtả. Nhưng số lượng giới hạn về thời hạn và ngân sách nên nhóm chỉ tập trung chuyên sâu vàocác Q. đông dân cư, mức shopping cao. BẢNG TÍNH EXCEL1. 2.5 BẢNG CÂU HỎI1. 2.6 SỐ LƯỢNG NHÂN VIÊN ĐI KHẢO SÁTSố lượng khảo sát viên chính thức của nhóm gồm 8 người, trong đó nhờ tương hỗ thêm 1 người. Mổi người nhận 20 phiếu đi đến từng Q., đơn cử như sau : • Văn Anh – Quận Phú Nhuận, Q. 3 • Kim Lý – Quận 1 • Chiến Thắng – Quận 9 • Ngọc Anh – Quận 9 • Thúy Quỳnh – Quận Quận Bình Thạnh • Ngọc Trâm – Quận 2 • Ngọc Thư – Quận 9 • Xuân Hòa – Quận Tân Bình1. 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU1. 3.1 PHÂN TÍCH MẪU KHẢO SÁTTổng số phiếu phát đi 200, thu về được 170 phiếu. Mẫu nghiên cứu của nhóm khi khảo sát tuântheo giải pháp chọn mẫu ở trên. Tức là : • Tổng thể mẫu được chọn : khu vực nội thành của thành phố TP.HCM • Tiêu chuẩn lấy mẫu : Hộ mái ấm gia đình có thu nhập thuộc nhóm B, C ; có con, cháu trong độtuổi từ 0 – 13 tuổiKẾT CẤU NHÓM TUỔI TỪ MẪU KHẢO SÁT2 Nhóm nhờ thêm bạn hỗ trợDo tuoi tre emFrequency Percent Valid PercentCumulativePercentValid Dưới 18 tháng tuổi 11 6.5 6.5 6.518 tháng – dưới 3 tuổi 26 15.3 15.5 22.03 tuổi – dưới 5 tuổi 53 31.2 31.5 53.65 tuổi – dưới 7 tuổi 30 17.6 17.9 71.47 tuổi – dưới 9 tuổi 24 14.1 14.3 85.79 tuổi – dưới 11 tuổi 8 4.7 4.8 90.511 tuổi – dưới 13 tuổi 11 6.5 6.5 97.0 Trên 13 tuổi 5 2.9 3.0 100.0 Total 168 98.8 100.0 Missing Khong tra loi 2 1.2 Total 170 100.0 Độ tuổi trẻ em được phân nhóm từ 0 ( dưới 18 tháng ) cho đến trên 13 tuổi. Trong bảngphân tích trên thì hộ mái ấm gia đình có trẻ nhỏ từ 3 đến dưới 5 tuổi chiếm tỷ suất cao nhất ( 31.2 % ), sauđó đến nhóm 5 tuổi – dưới 7 tuổi ( 17,6 % ), nhóm 18 tháng – dưới 3 tuổi ( 15.3 % ), nhóm 7 tuổi – dưới 9 tuổi ( 14.1 % ). Các nhóm còn lại đều chiếm tỷ suất nhỏ ( ít hơn 10 % ). Nhóm không chú trọng vào một nhóm tuổi nào đơn cử. Khi đi tìm hiểu, nhóm chủ độngtiếp cận với những cha mẹ có con theo học ở những trường mẫu giáo, mần nin thiếu nhi, tiểu học, trunghọc cơ sở tương ứng với phân nhóm tuổi trên vì không dễ để khảo sát trực tiếp tại những hộ giađình. Do đó, theo những gì biểu lộ trên biểu đồ, nhóm tuổi từ 18 tháng tuổi cho đến dưới 9 tuổi chiếm tỷ suất cao nhất so với những nhóm còn lại. Đây chính là độ tuổi của trẻ đang theo học ởcác trường mẫu giáo, tiểu học .