Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp – Tài liệu text
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (118.74 KB, 13 trang )
Bạn đang đọc: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp – Tài liệu text
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
A. PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là tổng hợp các yếu tố các điều kiện bên ngoài có
tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Môi trường kinh doanh của doah nghiệp bao gồm môi trường vĩ mô và môi trường vi mô.
Môi trường vi mô là môi trường hay lực lượng có tác động trực tiếp đến bản thân công ty,
doanh nghiệp hay khả năng phục vụ khách hàng của nó, như là: marketing, đối thủ cạnh
tranh, nhà cung ứng hay khách hàng.
Môi trường vĩ mô được hiểu là những lực lương trên bình diện xã hội rộng lớn có tác động
đến môi trường vi mô.Nó bao gồm các yếu tố chính trị và luật pháp, kinh tế, kĩ thuật công
nghệ, tự nhiên, văn hóa, xã hội. Ngoài ra còn có môi trường quốc tế cũng tác động rất lớn
đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Phân tích môi trường kinh doanh chính là xem xét sự tác động của môi trường khác nhau
đến hoạt động của doanh nghiệp để từ đó tìm ra những cơ hội và thách thức.
I. Tác động của môi trường vĩ mô đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1. Nhân tố chính trị và pháp luật
Một đất nước có tình hình chính trị không ổn sẽ ảnh hường rất lớn
đến các lực lượng lao động. Tình hình đầu tư của nước ngoài.
Chính trị pháp luật tạo ra cơ hội nhưng cũng tạo ra thách thức đối
với doanh nghiệp thông qua các thành tố của nó, đó là sự ổn định
về đường lối, hệ thống pháp luật, tạo lập các tập đoàn kinh tế, xây
dựng các ông trình tầm cỡ quốc gia…
Sự ổn định về chính trị thể hiện rõ nhất trong chủ trương đường
lối quan điểm thống nhất của đảng. Sự ổn định về chính trị luôn
tạo thuận lợi, hấp dẫn cho các chiến lược của doanh nghiệp trong
nước và các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Đường lối quản lí kinh tế đổi mới định hướng XHCN nền kinh tế
mở cửa tạo điều kiện cho việc giao lưu trao đổi lẫn nhau nhằm tìm
kiếm cơ hội đầu tư tạo nên sự phát triển trong kinh doanh với hiệu
quả cao.
Tạo các tập đoàn kinh tế lớn mạnh chứng tỏ nhà nước là người
tiêu dùng lớn nhất tạo thị trường thuận lợi nhất là các nghành
kinh tế kĩ thuật.thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư.
Hệ thống pháp luật chi phối đến tất cả quá trình hoạt động của
doanh nghiệp. Nó thể hiện qua các bộ luật, các chuẩn mực, nghị
định. Để điều chỉnh hành vi kinh doanh của doanh nghiệp giúp các
doanh nghiệp đi đúng hướng.Hệ thống pháp luật đồng bộ chặt
chẽ tạo môi trường kinh doanh thuận lợi.Ổn định phát tiển kinh tế
xã hội, tự do kinh doanh, làm chủ kinh doanh và đảm bảo nguyên
tắc bình đẳng trong kinh doanh và đôi bên cùng có lợi trong kinh
doanh.
Cơ chế điều hành của nhà nước đảm bảo cho các bộ luật ban ra
được thực hiện. Và việc điều hành tốt của nhà nước sẽ tạo môi
trường kinh doanh thuận lợi.
Bên cạnh những cơ hội thì chế độ luật pháp cũng tạo ra những
khó khăn cho doanh nghiệp nếu hẹ thống luật ban ra không kín kẽ
tạo nhiều lỗ hổng việc thực hiện luật không đồng bộ sẽ tạo ra tâm
lí dè chừng cho các nhà đầu tư.
2. Nhân tố kinh tế
Nhân tố kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, nó bao gôm các nhân tố như: lạm phát, tỉ giá hối đoái, lãi suất
ngân hàng, tiền tệ,tỷ lệ thất nghiệp…
Tốc đọ tăng trưởng hay suy giảm của nền kinh tế đều ảnh hưởng đến
doanh nghiệp cụ thể như sau:
Nếu nền kinh tế đang ở trong giai đoạn hung thịnh thì nó sẽ tạo cơ
hội thuận lợi cho các chiến lược đầu tư của nghành, của doanh
nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa. Ngược lại nếu nền
kinh tế suy thoái sẽ tạo ra các nguy cơ cho chiến lược đầu tư,
phát triển của nghành.
Mức lãi suất ngân hàng cao hay thấp sẽ ảnh hưởng đến việc huy
động vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp. Nếu mức lãi suất
hợp lí thì các danh nghiệp sẽ gửi tiền vào ngân hàng và cho các
đối tác vay mượn. ngược lại, nếu mức lãi suất ngân hầng quá cao
hay quá thấp sẽ ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của doanh
nghiệp.
Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái: Việc tăng giảm giá trị của
đồng tiền vừa tạo thời cơ vừa tạo thách thức cho doanh nghiệp
trong kinh doanh.
Tỷ lệ lạm phát: Nếu tỷ lệ lạm phát tang làm giảm giá trị của đồng
tiền, ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế việc sử dụng vốn của
doanh nghiệp. Ngược lại nếu tỷ lệ lạm phát giảm sẽ đảm bảo
được giá trị đồng tiền thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
Ngoài ra tỉ lệ lạm phát còn ảnh hưởng đến tỷ lệ thất ngiệp trong xã
hôi.
Khủng hoảng thừa thiếu hàng hóa sẽ ảnh hưởng đến chiến lược
kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu khủng hoảng thừa làm dư
thừa hàng hóa, cung lớn hơn cầu, hàng hóa sản xuất ra nhiều
không bán được bị ứ đọng. làm giá giảm gây thiệt hại cho nền
kinh tế và cho doanh nghiệp. Ngược lại khủng hoảng thiếu hàng
hóa làm cho khan hiếm hàng hóa, cung nhỏ hơn cầu, khan hiếm
hàng hóa làm giá tang gây khó khăn cho hoạt động của một số
ngành.
3. Nhân tố khoa học kĩ thuật
Khoa học kĩ thuật luôn giữ vị trí trung tâm ảnh hưởng sâu sắc toàn
diện đến hoạt động của doanh nghiệp.Nó tạo ra lợi thế cạnh tranh
trên thị trường cho doah nghiệp.
Nhờ có khoa học kĩ thuật ngày càng tiên tiến mà doanh nghiệp
các chiến lược kinh doanh dài hạn của mình một cách hiệu quả
hơn khẳng định vị thế của mình trên thương trường. Đồng thời
thông qua khoa học kĩ thuật trình độ quản lí kĩ thuật của danh
nghiệp được nâng cao.
Các công nghệ mới xuất hiện trên thi trường có thể là thời cơ cho
doanh nghiệp này nhưng lại là khó khăn cho doanh nghiệp
khác.Mức độ ảnh hưởng của khoa học công nghệ giữa nghành
này và nghành khác có sự khác nhau.
Sự ảnh hưởng của khoa học kĩ thuật không chỉ đối với ngành sản
xuất mà còn tác động mạnh mẽ đến thông tinh kinh tế, xã hội, giá
cả trên thị trường và thông tin trong quản trị chiến lược.
Thị trường công nghệ và chuyển giao công nghệ: Sự biến đồi về
cung cầu công nghệ và sự mua bán công nghệ có thể là cơ hội
cho nghành có dư nguồn lực, trình độ quản lí và tay nghề cao.
nhưng lại là nguy cơ cho những doanh nghiệp không có đủ điều
kiện thiết yếu.
4. Nhân tố tự nhiên
Nhân tố này ảnh hưởng khá lớn đến các nghành kinh tế kĩ thuật và các
doanh nghiệp thông qua các nhân tố như: lũ lụt, hạn hán, thiên tai, mất
mùa, dich bệnh, môi trường, tài nguyên thiên nhiên.
Môi trường sinh thái tốt xấu đều ảnh hưởng đến hoạt động chiến
lược của nghành và đờ sống văn hóa xã hội
Các loại tài nguyên như: Sắt, thép, vàng, chì, dầu mỏ …. Đều là
những yếu tố đầu vào ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất kinh
doanh của nghành. Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi
sẽ dẫn đến lãng phí và thiếu hụt tài nguyên, điều này là trở ngại
rất lớn cho những nghành có đầu vào phụ thuộc vào tự nhiên.
Không chỉ có tài nguyên thiên nhiên mà các yếu tố như khí hậu,
thời tiết cũng ảnh hưởng không nhỏ tới các doanh nghiệp đặc biệt
là những nghành như trồng hoa, giày dép, chăn nuôi,may mặc,
trồng trọt, lương thực thực phẩm, giao thông vận tải.
5. Nhân tố văn hóa xã hội
Nhân tố này tác động đến doanh nghiệp thông qua các nhân tố: Trình độ,
dân trí, tỷ lệ kết hôn, tỷ lệ sinh đẻ, tỷ lên tang dân số, phong cách, lối
sống, chuẩn mực đạo đức, giải trí, sử dụng lao động nữ, phong tục tập
quán, văn hóa, hiệp hội người tiêu dùng
Trình độ dân trí càng cao ảnh hưởng càng lớn đến chiến lược kinh
doanh của doanh nghiệp bởi vì lúc đó yêu cầu về mẫu mã, chất
lượng, màu sắc, kiểu dáng, thẩm mĩ mà người tiêu dùng đòi hỏi
ngày càng cao.
Tỷ lệ kết hôn, sinh đẻ, tang dân số có hợp lí hay không đều ảnh
hưởng đến thị trường, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa của doanh
nghiệp. và từ đó ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của doanh
nghiệp.
Lối sống, chuẩn mực sống, đạo đức phong cách sống nếu lành
mạnh sẽ tạo ra tính tích cực trong tiêu dùng hàng hóa, nếu ngược
lại thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường hàng hóa, ảnh hưởng
xấu và cản trở đến phát triển sản xuất.
Vai trò của người phụ nữ ngày càng lớn, điều này ảnh hưởng đến
quyết định tiêu dùng của gia đình. Và tỉ lệ lao động nữ trong
doanh nghiệp cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lao động và
kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. vd như trong nghành du
lich, tiếp viên hàng không, ngân hàng, dệt may…. Thì lao động nữ
chiếm 1 tỷ lệ lớn.
Phong tục tập quán: Nước ta có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc
có nền văn hóa riêng, phong cách tiêu dùng rất khác nhau vì vậy
doah nghiệp phải quan tâm đến yếu tố này để đưa ra chiến lược
phát triển kinh doanh cho phù hợp.
Tôn giáo: có tín ngưỡng riêng và họ thường têu dùng những hàng
hóa mang tính đặc thù như: vàng mã, hương, chuông, trống,…
Phục vụ cho tín ngưỡng của họ. doanh nghiệp cần phải quan tâm
đến nhân tố này trong việc phát triển sản xuất kinh doanh.
6. Môi trường quốc tế chịu ảnh hưởng của các nhân tố như: chính trị thế
giới, luật pháp quốc tế, văn hóa xã hội, kĩ thuật công nghệ.
Chính trị thế giới ảnh hưởng đến doanh nghiệp thông qua các
nhân tố như: chính trị, ngoại giao, đường lối chính trị của các
nước trên trên thế giới.
Chính trị ngoại giao: Ảnh hưởng đặc biệt đến những doanh
nghiệp xuất nhập khẩu thông qua các chính sách mở cửa,
chính sách ngoại thương, hoạt động nền kinh tế, thuận lợi
khó khăn phụ thuộc vào đường lối chính trị ngoại giao nới
rộng hay thu hẹp, cứng rắn hay mềm dẻo của các quốc gia
trên thế giới. việc phân tích tình hình chính trị trên thế giới
giúp nắm bắt các cơ hội và ngăn ngừa các nguy cơ.
VN gia nhập ASEAN tạo môi trường trao đổi hàng hóa, các
yếu tố đầu vào thuận lợi nhưng đồng thời cũng gặp phải
những khó khăn như cạnh tranh chất lượng, giá cả hàng
hóa vì vậy phải tìm ra các giải pháp hữu .
Tự do hóa thương mại trong khu vực ASEAN xóa mỏ hàng
rào thuế quan sẽ là cơ hội cho một số nước nhưng đối với
nước ta lại là khó khăn bởi lẽ khả năng cạnh tranh.
VN gia nhập WTO tạo sự công bằng trong cạnh tranh
không bị đối xử biệt lập thị trường nguyên vật liệu đầu vào
rộng lớn, xuất nhập khẩu được mở rộng tuy nhiên phải đối
đầu với những khó khăn như yêu cầu gắt gao về chất
lượng sản phẩm, vi phạm bản quyền.Đây là vấn đề cần
phải được quan taam giải quyết một cách triệt để và tìm ra
giải pháp phòng ngừa.
Luật pháp và thông lệ quốc tế: Để đạt được hiệu quả trong kinh
doanh, doanh nghiệp cần phải am hiểu luật pháp quốc tế bởi vì:
Mỗi quốc gia có luật pháp riêng, có quan điểm kinh tế
riêng. Do đó, để đạt được hiệu quả kinh tế trong làm ăn thì
nhất thiết phải am hiểu luật pháp của đối tác và cùng quan
điểm kinh tế với đối tác.
Do xu hướng hội nhập kinh tế ngày càng liên kết chặt chẽ
giữa các quốc gia ngày càng tang nên các các hiệp định,
cam kết ngày càng chặt chẽ.Vì vậy, muốn làm ăn với các
khu vực kinh tế ngày thì phải tuân thủ các luật lệ, thông lệ
quốc tế
Nhân tố kinh tế quốc tế
Nhân tố này thường tạo ra thời cơ và gây nên nguy cơ đối với các
nước, các nghành kinh tế-kĩ thuật, các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu.Bao gồm các nhân tố như khủng hoảng kinh tế, bất đồng
quan điểm phát triển kinh tế, chính sách lãi suất….
Khủng hoảng kinh tế (1929-1933) sự bất đồng về quan
điểm phát triển kinh tế của các nước về các vấn đề như:
Khai thác dầu mỏ, đánh bắt hải sản, hàng dệt may, da
giày…đối với nền kinh tế thế giới nói chung và các quốc
gia nói riêng.
Chính sách lãi suất của ngân hàng và quỹ tiền tệ các nước
ảnh hưởng đến tỷ giá đồng tiền các quốc gia.Có thể gây
thuận lợi hoặc khó khăn cho chiến lược kinh tế của mỗi
nước.
Nhân tố kĩ thuật công nghệ
Sự phát triển mạnh của khoa học công nghệ trên thế giới
bắt buộc các nhà kinh tế, các nhà quản trị chiến lược phải
kịp thời nắm bắt và học hỏi để thực hiện chuyển giao công
nghệ đổi mới công nghệ kịp thời để tạo lợi thế cạnh tranh
trên thị trường.
Sự xuất hiện của các sản phẩm mới, sản phẩm thay thế
trên thị trường đã bắt buộc các doanh nghiệp không ngừng
nghiên cứu, tìm tòi ra những sản phẩm mới, mẫu mã, màu
sắc để cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Sản phẩm có hàm lượng chất xám cao: nghành, doanh
nghiệp sản phẩm có hàm lượng chất xám cao thì sẽ có ưu
thế cạnh tranh trên thị trường
Yếu tố văn hóa xã hội tác động mạnh mẽ đến chiến lược cạnh
tranh của các nước thể hiện ở:
hành vi của khách hàng và người tiêu dùng ở trong nước
và ngoài nước, thị trường dễ tính và khó tính.các chiến
lượ kinh doanh của các nước thay đổi để phục vụ khách
hàng cho phù hợp.
Ảnh hưởng đến chiến lược của các nhà quản trị, các nhà
sản xuất kinh doanh trong việc xác dịnh quy mô,phạm vi
của mỗi chiến lược kinh tế xã hôi, và chiến lược phát triển
kinh tế của nhà nước.
7. Nhân tố nhân khẩu
Nhân khẩu tạo ra khách hàng cho doanh nghiệp. Nhân khẩu tác động tới
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các phương diện sau:
Quy mô và tốc độ tăng dân số là nhân tố tác động tới quy mô nhu
cầu. Thông thường quy mô dân số của một quốc gia, của một
vùng, một khu vực, một địa phương càng lớn thì báo hiệu một quy
mô thị trường lớn. Bất kì công ty nào ddeuf bị hấp dẫn bởi những
thị trường có quy mô dân số lớn. Dân số tăng nhanh, chậm hay
giảm sút là chỉ số báo hiệu triển vọng tương ứng của quy mô thị
trường.Đôi khi là cơ hội cho công ty này nhưng lại là bất lợi cho
công ty khác.
Cơ cấu dân số tác động rất lớn đến cơ cấu nhu cầu của các hàng
hóa cụ thể và đến đặc tính nhu cầu. Những tham số điển hình
trong cơ cấu dân số điển hình đặc biệt là trong lĩnh vực hàng tiêu
dùng quan tâm là: giới tính, tuổi tác. Sự biến đổi về cơ cấu giới
tính và tuổi tạo cơ hội cho nhóm hàng này khó khăn cho nhóm
hàng khác là một điều không thể tránh khỏi.
Tình trạng hôn nhân và gia đình cũng là vấn đề doanh nghiệp cần
chú ý. Các khía cạnh liên quan đến gia đình như: tuổi kết hôn, tuổi
sinh con đầu long, quy mô gia đình, số lượng gia đình, số lượng
con sinh được của 1 gia đình đều tác động lớn đều tác động đến
trạng thái và tính chất của thị trường. Trong những năm qua Việt
Nam nới lỏng về quan niệm số con, đã có nguy cơ làm bùng phats
tỷ lệ tăng dân số. Đây là cơ hội cho các công ty sản xuất hàng tiêu
dùng trẻ em, dịch vụ sinh sản của những bà mẹ có độ tuổi cao
hơn cũng gia tăng. Xu hướng những người độc than tăng lên gắn
liền với xã hội hiện đại, cũng là xu hướng đáng quan tâm của
công ty
Tốc độ đô thị hóa: Tôc độ và trào lưu muốn trở thành dân cư đô
thị và miễn cưỡng trở thành dân cư đô thị của xã hội việt Nam
trong những năm đổi mới vừa qua đang trở thành cơ hội kinh
doanh phát đạt cho nhều nghành.
II. Tác động của môi trường vi mô đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
1. Đối thủ cạnh tranh.
Khi tham gia kinh doanh dù là 1 đoạn thị trường duy nhất công ty
cũng có thể gặp phải những đối thủ cạnh tranh. Vì quy mô thị trường
có hạn nên các đối thủ luôn tìm ra những độc chiêu để giành khách
hàng. Do mỗi đốii thủ cạnh tranh có 1 cách thu hút cách hàng riêng
nên khách hàng có rất nhiều sự lựa chọn khác nhau của các sản
phẩm cạnh tranh. Vì vậy trước những chiến lược thu hút khách hàng
của đối thủ cạnh tranh doanh nghiệp phải nắm bắt theo dõi kịp thời
đối sách của đối thủ cạnh tranh.
Đối thủ cạnh tranh là những doanh nghiệp, những công ty sản xuất,
kinh doanh những hàng hóa dich vụ có tên gọi giống nhau.đây là sự
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng nghành.đối thủ cạnh tranh
còn là những hàng hóa, dịch vụ có khả năng thay thế nhau trong việc
thõa mãn nhu cầu, mong muốn của khách hàng.
Có 4 loại đối thủ cạnh tranh sau:
Cạnh tranh mong muốn: Đây là loại đối thủ cạnh tranh thể hiện những
khát vọng của người tiêu dùng, muốn thõa mãn những nhu cầu, mong
muốn khác nhau trên cơ sở một quỹ mua sắm nhất định. Nếu số tiền
dùng để thỏa mãn nhu cầu mong muốn này thì không còn để thõa
mãn nhu cầu mong muốn khác. Hoặc số tiền mua sắm hàng hóa này
nhiều thì số tiền dành để mua sắm hàng hóa khác ít đi. Cách thức
phân bổ ngân sách mua sắm này khi trở thành phổ biến thì sẽ trở
thành cơ hội cho nghành này nhưng lại gây khó khăn cho nghành
khác. Cho nên, với loại đối thủ cạnh tranh mong muốn thông tin về
quỹ mua sắm được phân bổ theo xu hướng nào cho những mong
muốn khác nhau là hết sức quan trọng đối với những chiến lược đầu
tư tham gia thị trường của công ty.
Đối thủ cạnh tranh là những loại hàng hóa khác nhau, cùng thõa mãn
1 nhu cầu, mong muốn nhất định. Đó chính là những loại hàng hóa
khác nhau có khả năng thay thế cho nhau trong tiêu dùng để thõa
mãn một nhu cầu mong muốn không giống nhau. Đây là sự cạnh
tranh giữa các ngành hàng khác nhau.Tính chất, mức độ cạnh tranh
giũa các nghành hàng này do những đặc thù về tính hữu ích, công
dụng của hàng hóa tạo ra là chính. Các nhà quản trị phải quan tâm tới
vắn đề này bởi xu hướng lựa chọn của người tiêu dùng sẽ tạo ra cơ
hội hay đe dọa cho các nghành hàng khác nhau. Khi tham gia vào
một nghành hàng cụ thể, các nhà quản trị của mỗi công ty cần xác
định rõ những nghành hàng nào có khả năng thay thế và do đó là đối
thủ cạnh tranh của công ty. Mỗi nghành hàng có sức hấp dẫn như thế
nào trong việc chi phố tới quyết định của người tiêu dùng.
Đối thủ cạnh tranh là các kiểu hàng hóa khác nhau trong cùng một
nghành hàng (loại hàng). Những sản phẩm, hàng hóa khác nhau này
cố thể do các doanh nghiệp khác nhau sản xuất hoặc cũng có thể do
một doanh nghiệp sản xuất. Các nhà quản trị cần chủ động xử lí các
mối quan hệ này nếu như hàng hóa, dịch vụ do 1 doanh nghiệp sản
xuất. Nhưng nếu chúng được sản xuất ở những doanh nghiệp khác
nhau thì tính cạnh tranh giữa chúng sẽ trở nên gay gắt hơn.Một quyết
định của một chủ thể nào đó đối với một kiểu hàng hóa nhất định do
họ sản xuất ra có thể làm dich chuyển nhu cầu quyết định mua sắm
của người tieu dùng từ kiểu hàng hóa này sang kiểu hàng hóa khác.
Đối thủ cạnh tranh là những kiểu dạng hàng hóa khác nhau cùng thõa
mãn một mong muốn cụ thể như nhau, nhưng có nhãn hiệu khác
nhau.Việc đưa ra quyết định marketing liên quan đến nhãn hiệu này
sẽ ảnh hường đến quyết định mua sắm của khách hàng mục tiêu đối
với nhãn hiệu khác.
Như vậy doanh ngiệp khi đưa ra các quyết định đối với sản
phẩm,hàng hóa của mình thì trước hết phải nhận diện đầy đủ cả 4
loại đối thủ cạnh tranh trên, đồng thời phải phân tích kĩ lưỡng những
thay đổi trong quyết định mua hàng của khách hàng liên quan đến sự
thay đổi trong các quyết định của đối thủ cạnh tranh.
2. Công chúng trực tiếp.
Những lực lượng này có thể biểu hiện sự quan tâm, ủng hộ, thiện cảm…
khác nhau đối với công ty. Là một nhóm bất kì quan tâm thực sự hay có thể
sẽ quan tâm hoặc có thể có khả năng đạt tới những mục tiêu mà doanh
nghiệp đặt ra.
Lực lượng này có thể tạo thuận lợi hoặc có thể gây khó khăn cho
doanh nghiệp trong nỗ lực marketing để đáp ứng thị trường.
Công chúng trực tiếp được chia làm 3 mức độ:
Công chúng tích cực là những nhóm quan tâm đến công ty
đến công ty với thái độ thiện chí.
Công chúng tìm kiếm là nhóm chưa quan tâm nên doanh
nghiệp đang tìm kiếm sự quan tâm của họ.
Công chúng không mong muốn là nhóm có thể tẩy chay công
ty.
Các công ty trực tiếp tác động đến hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp là:
Giới tài chính như: Nhóm này sẽ đưa những thông tin có lợi
hoặc bất lợi cho công ty.
Các cơ quan nhà nước như: cục vệ sinh an toàn thực phẩm,
Bộ tài nguyên môi trường, Bộ văn hóa thông tin, bộ tư pháp.
Tùy theo chức năng mà những cơ quan này ảnh hưởng tới
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông ua việc ảnh
hưởng trực tiếp đến bộ phận marketing.
Các tổ chức quần chúng cũng ảnh hưởng đến doanh nghiệp
như các tổ chức: tổ chức bảo vệ người tiêu dùng, tổ chức bảo
vệ môi trường…
3. Khách hàng
Khách hàng là thị trường của doanh nghiệp đồng thời khách hàng là một yếu
tố quan trọng chi phối đến hoạt động marketing của doanh nghiệp. mỗi sự
biến đổi về nhu cầu, về quyết định mua sắm của khách hàng đều buộc doanh
nghiệp phải xem xét đến các chiến lược của mình.Có 5 loại khách hàng tạo
nên 5 loại thị trường.
Thị trường người tiêu dùng: Các cá nhân, hộ gia đình, nhóm người
tập thể mua hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cho đời sống của họ.
Thị trường các nhà sản xuất: là các cá nhân, tổ chức kinh tế, doanh
nghiệp mua hàng hóa dịch vụ của công ty về để tiêu thụ cho sản xuất.
Thị trường nhà buôn bán trung gian: là các cá nhân tổ chức mua hàng
hóa dịch vụ của công ty về để bán lại kiếm lời.
Thị trường các cơ quan nhà nước và các tổ chức khác: khách hàng
này mua hàng hóa dich vụ của công ty về để phục vụ cho tiêu dùng
chung hoặc chuyển giao nó cho tổ chức hoặc người khác cần. Các
viện, trường đại học, các tổ chức nhân đạo…
Thị trường quốc tế bao gồm các khách hàng nước ngoài. Họ là người
tiêu dùng, hoặc là bán buôn trung gian, là nhà sản xuất, là các cơ
quan nhà nước.
Mỗi loại khách hàng trên có hành vi mua sắm khác nhau nên sự tác
động của khách hàng tới các doanh nghiệp là không giống nhau.
Doanh nghiệp phải nghiên cứu kĩ từng khách hàng, thị trường để có
thể đáp ứng họ một cách tốt nhất.
B. PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG KINH DOANH
Phân tich thị trường là quá trình phân tích các thông tin về các yếu tố cấu thành thị
trường nhằm tìm hiểu quy luật vận động và các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường
trên cơ sở đó đề xuất ra các chiến lược kinh doanh.
Ta tiến hành phân tích thị trường tập trung chủ yếu vào 3 nhân tố sau:
• Xác định thái độ người tiêu dùng
• Xác định kết cấu thị trường và thị trường và thị trường mục tiêu
• Phân tích các hướng tăng trưởng và thâm nhập thị trường
I. Xác định thái độ người tiêu dùng
Cần phải tìm hiểu trước thị trường người tiêu dùng và hành vi mua sắm của
người
tiêu dùng thì mới có thể xây dựng được những kế hoạch Marketing có căn
cứ.
Hành vi của người mua chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố chủ yếu: Văn
hóa, xã hội, cá nhân, và tâm lý. Tất cả những yếu tố này đều cho ta những
căn cứđể biết cách tiếp cận và phục vụ người mua một cách hiệu quả hơn.
Những người làm Marketing phải nghiên cứu những mong muốn, nhận thức,
sở thích và các hành vi lựa chọn và mua sắm của những khách hàng mục
tiêu. Việc nghiên cứu như vậy sẽ cho ta những gợi ý để phát triển sản phẩm
mới, tính năng của sản phẩm, xác định giá cả, các kênh,để phục vụ tốt hơn
đối với người tiêu dùng.Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng
bao gồm: Văn hóa, Nền văn hóa Xã hội, nhóm tham khảo cá nhân, tuổi và
giai đoạn của chu kì sống, tâml lí, nhánh văn hóa, nghề nghiệp, động cơ
người mua, hoàn cảnh kinh tế, nhận thức, lối sống, hiểu biết.
Văn hóa
Nền văn hóa là yếu tố quyết định cơ bản nhất những mong muốn và hành
vi của một người. Một đứa trẻ khi lớn lên sẽ tích luỹđược một số những
giá trị, nhận thức, sở thích và hành vi thông qua gia đình của nó và
những định chế then chốt khác.
Mỗi nền văn hóa đều có những nhánh văn hóa nhỏ hơn tạo
nên những đặc điểm đặc thù hơn và mức độ hòa nhập với xã hội cho
những thành viên của nó. Các nhánh văn hóa tạo nên những khúc
thị trường quan trọng, và những người làm Marketing thường thiết
kế các sản phẩm và chương trình Marketing theo các nhu cầu của chúng.
Tầng lớp xã hội
Các tầng lớp xã hội là những bộ phận tương đối đồng nhất và bền vững
trong xã hội, được xếp theo theo thứ bậc và gồm những thành viên có
chung những giá trị, mỗi quan tâm và hành vi.
Tầng lớp thượng lưu Tầng lớp thượng lưu lớp trên, sống bằng
tài sản thừa kế và lớp trên (dưới 1%) có những gia đình
nổi tiếng. Họ đóng góp những khoản tiền lớn cho công việc
từ thiện, tổ chức những buổi vũ hội. Họ thường hay mua và mặc
những đồ thủ cựu, không quan tâm đến chuyện phô trương. Tuy
họ là một nhóm nhỏ, song họ vẫn là một nhóm tham khảo đối với
những người khác trong chừng mực các quyết định của họ
được những người khác trong xã hội bắt chước.
Tầng lớp thượng lưu Tầng lớp thượng lưu lớp dưới là những
người có thu nhập lớp dưới (khoảng 2%) cao hay giàu có
nhờ tài năng xuất chúng trong nghề nghiệp chuyên môn hay
kinh doanh.Họ là những người tích cực tham gia các hoạt động xã
hôi. Và họ thường mua những thứ để chứng tỏ địa vị cuả bản than
và con cái và thường là những thứ đắt tiền, hàng hóa xa xỉ.
. Tầng lớp trung lưu lớp Những người trung lưu lớp trên
không có địa vị gia đình giàu có gì đặc biệt. Họ chủ yếu quan tâm
đến danh vọng. Họ thường là những người kinh doanh hoặc cán
bộ công ty. Những người này thích nói về trình độ văn hóa. Họ là
thị trường tốt cho nhà ở, quần áo đẹp, đồ gỗ và thiết bị tốt.
. Tầng lớp trung lưu Tầng lớp trung lưu là những người công
nhân cổ trắng và xanh có mức lương trung bình, sống ở khu khá
hơn của thành phố. Họ thường mua những sản phẩm phổ biến để
theo kịp xu hướng phát triển của xã hội. Họ thường quan tâm đến
ô tô, thời trang và quan tâm đến những nhãn hiệu tốt hơn, một
ngôi nhà đẹp hơn hàng xóm. Họ thường tin tưởng và chi nhiều
cho con cái và hướng chúng vào đại học
Tầng lớp công nhân Tầng lớp công nhân gồm những công
nhân cổ xanh có mức lương trung bình có lối sống theo lối sống
của tầng lớp công nhân, bất kể thu nhập, trình độ hay công
việc.Họ sử dụng những đồ dùng không quá xa xỉ và chi tiêu ở
mức tiếp kiệm.
Tầng lớp hạ lưu lớp Tầng lớp hạ lưu lớp trên là những người
đi làm, không sung túc, mức sống của họ cao hơn người nghèo
khổ một chút. Họ làm những công việc phổ thông, lương thấp.
Tầng lớp này thường được học hành không đầy đủ. Họ chủ yếu
tiêu dùng những hàng hóa thiết yếu và không nghĩ đến những thứ
xa hoa, giải trí đắt tiền.
Tầng lớp hạ lưu lớp Tầng lớp hạ lưu lớp dưới là những người
hưởng trợ cấp, bị nghèo túng không có việc làm. Phần lớn họ
trông chờ vào trợ cấp xã hội. Tầng lớp này thường chỉ mong
muốn được ăn uống đầy đủ.
Gia đình
Các thành viên trong gia đình là nhóm tham khảo có ảnh hưởng
lớn nhất.Có 2 gia đình trong đời sống người mua là:
• Gia đình định hướng: Bố mẹ là người được định hướng
đối với tôn giáo, kinh tế, chính trị, long tự trọng và tình yêu.
Ảnh hưởng của bố mẹ ở gia đình này đối với hành vi mua
của con cái là rất lớn.
• Gia đình riêng: vợ chồng và con cái.
Gia đình là một tổ chức mua hàng tiêu dùng quan trọng
nhất trong xã hội. vì vậy doanh nghiệp nên quan tâm đến
ảnh hường của chồng, vợ, con cái đến việc mua sắm rất
nhiều loại hàng hóa khác nhau. Vấn đề này rất khác nhau
giữa các nước khác nhau và tầng lớp khác nhau.
Các dạng mẫu sản phẩm điển hình:
+ Chồng giữ vai trò chính: Bảo hiểm nhân thọ, ôtô, máy thu
hình
+ Vợ giữ vai trò chính: máy giặt, thảm, đồ gỗ, đồ dùng nhà bếp
+ Vợ chồng giữ vai trò ngang nhau: đi nghỉ, nhà ở, giải trí bên
ngoài
Vai trò và địa vị.
Trong đời mình một người tham gia vào rất nhiều nhóm – gia đình, các
câu lạc bộ, các tổ chức.. Vị trí của người dó trong mỗi nhóm có thể xác
định căn cứ vào vai trò và địa vị của họ.. Người ta lựa chọn những sản
phẩm thể hiện được vai trò và địa vị của mình
Những yếu tố cá nhân.
Những quyết định của người mua cũng chịu ảnh hưởng của những yếu
tố cá nhân., nổi bật nhất là tuổi tác và giai đoạn chu kì sống của người
mua, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế, lối sống nhân cách và tự ý niệm
của người đó. Vì vậy các doanh nghiệp cố gắng xác định những nhóm
nghề có quan tâm trên mức trung bình đến sản phẩm của mình. Doanh
nghiệp có thể chuyên môn hóa sản phẩm và dịch vụ của mình cho những
nhóm nghề nghiệp nhất định.
Hoàn cảnh kinh tế
Việc lựa chon sản phẩm tác động rất nhiều từ hoàn cảnh kinh tế của
người đó. Hoàn cảnh kinh tế của họ bao gồm thu nhập có thể chi tiêu
được, tiết kiệm và tài sản, nợ, khả năng vay mượn, thái độ đối với việc
chi tiêu và tiết kiệm.
Các doanh nghiệp có hàng hóa nhạy cảm phải thường xuyên theo dõi xu
hướng thu nhập cá nhân,số tiền tiết kiệm, lãi suất. Nếu các chỉ số kinh tế
có sự suy thoái tạm thời thì những người làm marketing có thể tiến hành
thiết kế lại, xác định lại vị trí và định giá lại sản phẩm để tiếp tục đảm bảo
giá trị cho khách hàng mục tiêu
Lối sống
Những người xuất thân từ một nhánh văn hóa, tầng lớp xã hội và cùng
nghề nghiệp có thể có những lối sống hoàn toàn khác nhau. Lối sống của
một người được thể hiện trong hoạt động, sự quan tâm và ý kiến của
người đó. Những người làm marketing sẽ tìm kiếm những mối quan hệ
giữa sản phẩm của mình với lối sống.
Nhân cách và ý niệm của bản thân
Mỗi người đều có nhân cách khác biệt và ảnh hưởng đến hành vi của
người đó. Có mối quan hệ chặt chẽ giữa nhân cách với các lựa chọn sản
phẩm và nhãn hiệu.
Những yếu tố tâm lý
Việc mua sắm của con người còn chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố tâm lý
là: Động cơ, nhận thức, tri thức, niềm tin và thái độ
Động cơ: Tại thời điểm nào con người cũng có nhu cầu như đói
khát hay những nhu cầu xuất phát từ yếu tố tâm lí như nhu cầu
được thừa nhận, được khẳng định mình, được kính trọng. Một
nhu cầu sẽ trở thành động cơ khi nó đủ mạnh. Động cơ thôi thúc
con người ta hành động để thõa mãn các nhu cầu.
Nhận thức
Một người có động cơ sẽ luôn sẵn sang hành động nhưng sẽ
hành động như thế nào còn chịu sự ảnh hưởng của nhận thức.
Nhận thức không chỉ pphuj thuộc vào tác nhân vật lý mà còn phụ
thuộc vào quan hệ của nhân tố đó với môi trường xung quanh.
Người làm marketing phải cố gắng thu hút sự chú ý của người tiêu
dùng.
Tri thức dạy cho người làm marketing họ có thể tạo ra được nhu
cầu đối với một sản phẩm bằng cách gắn liền nó với sự thôi thúc
mạnh mẽ, sử dụng những động cơ, tấm gương đảm bảo sự củng
cố tích cực
Những công ty mới tham gia thị trường bằng cách vận dụng
những sự thôi thúc mà đối thủ cạnh tranh đã tạo ra và tạo ra
những kiểu dáng tương tự bởi vì người mua có khuynh hướng
chuyển từ long trung thánh sang nhãn hiệu tương tự hơn là nhữn
nhãn hiệu hác hẳn.
Niềm tin và thái độ: Thông qua hoạt động tri thức người ta có niềm
tin và thái độ. Những yếu tố này ảnh hưởng đến hành vi mua sắm
của con người. Những doanh nghiệp quan tâm đến niềm tin mà
người ta mang trong đầu mình về sản phẩm, dịch vụ của
mình.những niềm tin đó tạo nên những hình ảnh về sản phẩm
cũng như nhãn hiệu và người ta hành động theo hành động đó.
Thái độ của con người cũng rất khó thay đổi vì vậy các doanh
nghiệp nên làm cho sản phẩm của mình phù hợp với những thái
độ sẵn có chứ không nên thay đối thái độ của mọi người.
II. Xác định kết cấu thị trường và thị trường mục tiêu
Thị trường của một sản phẩm hoặc dịch vụ đều bao gồm 4 bộ phận:
– Thị trường hiện tại của đối thủ cạnh tranh
– Thị trường hiện tại của doanh nghiệp
– Thị trường không tiêu dùng tương đối
Thị trường mục tiêu hiện tại của doanh nghiệp là cơ sở xác định mục tiêu
vừa thể hiện thế và lực của doanh nghiệp trên thị trường mục tiêu vừa
thể hiện tình trạng và mức độ cạnh tranh hiện tại trong ngành
Thị trường hiện tại của các đối thủ cạnh tranh và phần thị trường không
tiêu dùng tương đối hợp thành thị trường tiềm năng, là mục tiêu của các
hướng tăng trưởng thị trường của doanh nghiệp. Quy mô của thị trường
tiềm năng phản ánh khả năng và triển vọng phát triển thị trường của
doanh nghiệp trong tương lai
Để lựa chọn thị trường mục tiêu, các nhà doanh nghiệp thường sử dụng phương pháp lập
bảng so sánh, đánh giá thông qua các tiêu chuẩn và trên cơ sở đó phân loại thị trường và
lựa chọn thị trường mục tiêu. những chỉ tiêu thường được sử dụng để điều tra thị trường và
lựa chọn thị trường mục tiêu là:
– Khả năng sản xuất và cung ứng tại chỗ trên các thị trường hiện tại
– Số cầu của người tiêu dùng đối với sản phẩm này
– Khả năng tiêu thụ của người tiêu dùng
– Thái độ của người tiêu dùng đối với sản phẩm đó
III. Phân tích các hướng tăng trưởng và thâm nhập của thị trường
các bộ phận của thị trường luôn luôn ở thế cân bằng động, thường xuyên chuyển hóa và có
quy mô không cố định. Trong quá trình kinh doanh, quy mô của thị trường mục tiêu cũng
chuyển hóa. Nếu doanh nghiệp làm tốt công tác quản lí tiếp thị quy mô của thị trường mục
tiêu có thể mở rộng, nghĩa là có thể thôn tính phần thị trường của các đối thủ cạnh tranh và
hoặc thâm nhập vào phần thị trường không tiêu dùng tương đối. Ngược lại quy mô thị
trường mục tiêu của doanh nghiệp sẽ bị thu hẹp lại. Do vậy để tồn tại và phát triển việc
nghiên cứu và phân tích các hường thâm nhập thị trường là một việc quan trọng của doanh
nghiệp khi xây dựng và lựa chọn phương án kinh doanh. Quá trình phân tích được tiến
hành theo 3 nội dung:
Phân tích và lựa chọn các hướng tăng trưởng thị trường theo lĩnh vực kinh tế.
Phương pháp phân tích là lập ma trận dựa trên hai yếu tố: vị trí cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thị trường và chu kì đời sống của sản phẩm. Ma trận phân tích có
hình thức sau:
Vị trí cạnh
tranh
Chi phối Phát triển tất yếu
Mạnh
Trung bình Phát triển chọn lọc
Yếu Rút lui
Triển khai Tăng
trưởng
Trưởng
thành
Suy thoái
Đời sống của sản phẩm
Trên ma trận có 3 vùng phát triển: vùng phát triển tất yếu, vùng phát triển chọn lọc và vùng
rút lui. Căn cứ vào kết quả phân tích của doanh nghiệp đối với 2 yếu tố trên và đối chiếu lên
ma trận, doanh nghiệp sẽ xác định được hưởng tăng trưởng thích ứng của sản phẩm
Phân tích các tác động của kết quả đổi mới đến sự thay đổi của nhu cầu thị trường.
Có những kết quả mới làm cho nhu cầu thị trường đối với sản phẩm tăng lên nhưng
cúng có những đổi mới làm cho nhu cầu thị trường không tăng mà còn có xu hướng
giảm đi.do vậy khi triển khai sản xuất đại trà hoặc cải tiến một sản phẩm mới phải
phân tích ảnh hưởng của nó đến nhu cầu thị trường
Phân tích tác động qua lại giữa các sản phẩm để xác định hướng tăng trưởng thị
trường. Thí dụ nếu sản phẩm thay thế đang chiếm ưu thế tăng trưởng là không nên
tiêu dùng lớn nhất tạo thị trường thuận tiện nhất là những nghànhkinh tế kĩ thuật. lôi cuốn sự chăm sóc của những nhà đầu tư. Hệ thống pháp lý chi phối đến tổng thể quy trình hoạt động giải trí củadoanh nghiệp. Nó bộc lộ qua những bộ luật, những chuẩn mực, nghịđịnh. Để kiểm soát và điều chỉnh hành vi kinh doanh thương mại của doanh nghiệp giúp cácdoanh nghiệp đi đúng hướng. Hệ thống pháp lý đồng nhất chặtchẽ tạo thiên nhiên và môi trường kinh doanh thương mại thuận tiện. Ổn định phát tiển kinh tếxã hội, tự do kinh doanh thương mại, làm chủ kinh doanh thương mại và bảo vệ nguyêntắc bình đẳng trong kinh doanh thương mại và đôi bên cùng có lợi trong kinhdoanh. Cơ chế quản lý của nhà nước bảo vệ cho những bộ luật ban rađược thực thi. Và việc điều hành quản lý tốt của nhà nước sẽ tạo môitrường kinh doanh thương mại thuận tiện. Bên cạnh những thời cơ thì chính sách pháp luật cũng tạo ra nhữngkhó khăn cho doanh nghiệp nếu hẹ thống luật ban ra không kín kẽtạo nhiều lỗ hổng việc triển khai luật không đồng điệu sẽ tạo ra tâmlí dè chừng cho những nhà đầu tư. 2. Nhân tố kinh tếNhân tố kinh tế tài chính ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động giải trí kinh doanh thương mại của doanhnghiệp, nó bao gôm những tác nhân như : lạm phát kinh tế, tỉ giá hối đoái, lãi suấtngân hàng, tiền tệ, tỷ suất thất nghiệp … Tốc đọ tăng trưởng hay suy giảm của nền kinh tế tài chính đều ảnh hưởng đếndoanh nghiệp đơn cử như sau : Nếu nền kinh tế tài chính đang ở trong quy trình tiến độ hung thịnh thì nó sẽ tạo cơhội thuận tiện cho những kế hoạch góp vốn đầu tư của nghành, của doanhnghiệp trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm & hàng hóa. trái lại nếu nềnkinh tế suy thoái và khủng hoảng sẽ tạo ra những rủi ro tiềm ẩn cho kế hoạch góp vốn đầu tư, tăng trưởng của nghành. Mức lãi suất vay ngân hàng nhà nước cao hay thấp sẽ ảnh hưởng đến việc huyđộng vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp. Nếu mức lãi suấthợp lí thì những danh nghiệp sẽ gửi tiền vào ngân hàng nhà nước và cho cácđối tác vay mượn. ngược lại, nếu mức lãi suất vay ngân hầng quá caohay quá thấp sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh thương mại của doanhnghiệp. Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái : Việc tăng giảm giá trị củađồng tiền vừa tạo thời cơ vừa tạo thử thách cho doanh nghiệptrong kinh doanh thương mại. Tỷ lệ lạm phát kinh tế : Nếu tỷ suất lạm phát tang làm giảm giá trị của đồngtiền, ảnh hưởng đến hoạt động giải trí kinh tế tài chính việc sử dụng vốn củadoanh nghiệp. Ngược lại nếu tỷ suất lạm phát kinh tế giảm sẽ đảm bảođược giá trị đồng xu tiền thôi thúc sản xuất kinh doanh thương mại tăng trưởng. Ngoài ra tỉ lệ lạm phát kinh tế còn ảnh hưởng đến tỷ suất thất ngiệp trong xãhôi. Khủng hoảng thừa thiếu sản phẩm & hàng hóa sẽ ảnh hưởng đến chiến lượckinh doanh của doanh nghiệp. Nếu khủng hoảng thừa làm dưthừa sản phẩm & hàng hóa, cung lớn hơn cầu, sản phẩm & hàng hóa sản xuất ra nhiềukhông bán được bị ứ đọng. làm giá giảm gây thiệt hại cho nềnkinh tế và cho doanh nghiệp. Ngược lại khủng hoảng thiếu hànghóa làm cho khan hiếm sản phẩm & hàng hóa, cung nhỏ hơn cầu, khan hiếmhàng hóa làm giá tang gây khó khăn vất vả cho hoạt động giải trí của một sốngành. 3. Nhân tố khoa học kĩ thuật Khoa học kĩ thuật luôn giữ vị trí TT ảnh hưởng thâm thúy toàndiện đến hoạt động giải trí của doanh nghiệp. Nó tạo ra lợi thế cạnh tranhtrên thị trường cho doah nghiệp. Nhờ có khoa học kĩ thuật ngày càng tiên tiến và phát triển mà doanh nghiệpcác kế hoạch kinh doanh thương mại dài hạn của mình một cách hiệu quảhơn chứng minh và khẳng định vị thế của mình trên thương trường. Đồng thờithông qua khoa học kĩ thuật trình độ quản lí kĩ thuật của danhnghiệp được nâng cao. Các công nghệ tiên tiến mới Open trên thi trường hoàn toàn có thể là thời cơ chodoanh nghiệp này nhưng lại là khó khăn vất vả cho doanh nghiệpkhác. Mức độ ảnh hưởng của khoa học công nghệ tiên tiến giữa nghànhnày và nghành khác có sự khác nhau. Sự ảnh hưởng của khoa học kĩ thuật không riêng gì so với ngành sảnxuất mà còn tác động ảnh hưởng can đảm và mạnh mẽ đến thông tinh kinh tế tài chính, xã hội, giácả trên thị trường và thông tin trong quản trị kế hoạch. Thị trường công nghệ tiên tiến và chuyển giao công nghệ tiên tiến : Sự biến đồi vềcung cầu công nghệ tiên tiến và sự mua và bán công nghệ tiên tiến hoàn toàn có thể là cơ hộicho nghành có dư nguồn lực, trình độ quản lí và kinh nghiệm tay nghề cao. nhưng lại là rủi ro tiềm ẩn cho những doanh nghiệp không có đủ điềukiện thiết yếu. 4. Nhân tố tự nhiênNhân tố này ảnh hưởng khá lớn đến những nghành kinh tế tài chính kĩ thuật và cácdoanh nghiệp trải qua những tác nhân như : lũ lụt, hạn hán, thiên tai, mấtmùa, dich bệnh, thiên nhiên và môi trường, tài nguyên vạn vật thiên nhiên. Môi trường sinh thái tốt xấu đều ảnh hưởng đến hoạt động giải trí chiếnlược của nghành và đờ sống văn hóa truyền thống xã hội Các loại tài nguyên như : Sắt, thép, vàng, chì, dầu mỏ …. Đều lànhững yếu tố nguồn vào ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất kinhdoanh của nghành. Việc khai thác tài nguyên vạn vật thiên nhiên bừa bãisẽ dẫn đến tiêu tốn lãng phí và thiếu vắng tài nguyên, điều này là trở ngạirất lớn cho những nghành có nguồn vào phụ thuộc vào vào tự nhiên. Không chỉ có tài nguyên vạn vật thiên nhiên mà những yếu tố như khí hậu, thời tiết cũng ảnh hưởng không nhỏ tới những doanh nghiệp đặc biệtlà những nghành như trồng hoa, giày dép, chăn nuôi, may mặc, trồng trọt, lương thực thực phẩm, giao thông vận tải vận tải đường bộ. 5. Nhân tố văn hóa truyền thống xã hộiNhân tố này ảnh hưởng tác động đến doanh nghiệp trải qua những tác nhân : Trình độ, dân trí, tỷ suất kết hôn, tỷ suất sinh đẻ, tỷ lên tang dân số, phong thái, lốisống, chuẩn mực đạo đức, vui chơi, sử dụng lao động nữ, phong tục tậpquán, văn hóa truyền thống, hiệp hội người tiêu dùng Trình độ dân trí càng cao ảnh hưởng càng lớn đến kế hoạch kinhdoanh của doanh nghiệp chính do lúc đó nhu yếu về mẫu mã, chấtlượng, sắc tố, mẫu mã, thẩm mĩ mà người tiêu dùng đòi hỏingày càng cao. Tỷ lệ kết hôn, sinh đẻ, tang dân số có phải chăng hay không đều ảnhhưởng đến thị trường, nhu yếu tiêu thụ sản phẩm & hàng hóa của doanhnghiệp. và từ đó ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh thương mại của doanhnghiệp. Lối sống, chuẩn mực sống, đạo đức phong thái sống nếu lànhmạnh sẽ tạo ra tính tích cực trong tiêu dùng sản phẩm & hàng hóa, nếu ngượclại thì sẽ ảnh hưởng xấu đi đến thị trường sản phẩm & hàng hóa, ảnh hưởngxấu và cản trở đến tăng trưởng sản xuất. Vai trò của người phụ nữ ngày càng lớn, điều này ảnh hưởng đếnquyết định tiêu dùng của mái ấm gia đình. Và tỉ lệ lao động nữ trongdoanh nghiệp cũng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu suất lao động vàkết quả kinh doanh thương mại của doanh nghiệp. vd như trong nghành dulich, tiếp viên hàng không, ngân hàng nhà nước, dệt may …. Thì lao động nữchiếm 1 tỷ suất lớn. Phong tục tập quán : Nước ta có 54 dân tộc bản địa đồng đội, mỗi dân tộccó nền văn hóa truyền thống riêng, phong thái tiêu dùng rất khác nhau vì vậydoah nghiệp phải chăm sóc đến yếu tố này để đưa ra chiến lượcphát triển kinh doanh thương mại cho tương thích. Tôn giáo : có tín ngưỡng riêng và họ thường têu dùng những hànghóa mang tính đặc trưng như : vàng mã, hương, chuông, trống, … Phục vụ cho tín ngưỡng của họ. doanh nghiệp cần phải quan tâmđến tác nhân này trong việc tăng trưởng sản xuất kinh doanh thương mại. 6. Môi trường quốc tế chịu ảnh hưởng của những tác nhân như : chính trị thếgiới, lao lý quốc tế, văn hóa truyền thống xã hội, kĩ thuật công nghệ tiên tiến. Chính trị quốc tế ảnh hưởng đến doanh nghiệp trải qua cácnhân tố như : chính trị, ngoại giao, đường lối chính trị của cácnước trên trên quốc tế. Chính trị ngoại giao : Ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến những doanhnghiệp xuất nhập khẩu trải qua những chủ trương Open, chủ trương ngoại thương, hoạt động giải trí nền kinh tế tài chính, thuận lợikhó khăn nhờ vào vào đường lối chính trị ngoại giao nớirộng hay thu hẹp, cứng rắn hay mềm dẻo của những quốc giatrên quốc tế. việc nghiên cứu và phân tích tình hình chính trị trên thế giớigiúp chớp lấy những thời cơ và ngăn ngừa những rủi ro tiềm ẩn. việt nam gia nhập ASEAN tạo thiên nhiên và môi trường trao đổi sản phẩm & hàng hóa, cácyếu tố nguồn vào thuận tiện nhưng đồng thời cũng gặp phảinhững khó khăn vất vả như cạnh tranh đối đầu chất lượng, giá thành hànghóa vì thế phải tìm ra những giải pháp hữu. Tự do hóa thương mại trong khu vực ASEAN xóa mỏ hàngrào thuế quan sẽ là thời cơ cho một số ít nước nhưng đối vớinước ta lại là khó khăn vất vả bởi lẽ năng lực cạnh tranh đối đầu. việt nam gia nhập WTO tạo sự công minh trong cạnh tranhkhông bị đối xử khác biệt thị trường nguyên vật liệu đầu vàorộng lớn, xuất nhập khẩu được lan rộng ra tuy nhiên phải đốiđầu với những khó khăn vất vả như nhu yếu gắt gao về chấtlượng mẫu sản phẩm, vi phạm bản quyền. Đây là yếu tố cầnphải được quan taam xử lý một cách triệt để và tìm ragiải pháp phòng ngừa. Luật pháp và thông lệ quốc tế : Để đạt được hiệu suất cao trong kinhdoanh, doanh nghiệp cần phải am hiểu lao lý quốc tế do tại : Mỗi vương quốc có pháp luật riêng, có quan điểm kinh tếriêng. Do đó, để đạt được hiệu suất cao kinh tế tài chính trong làm ăn thìnhất thiết phải am hiểu lao lý của đối tác chiến lược và cùng quanđiểm kinh tế tài chính với đối tác chiến lược. Do khuynh hướng hội nhập kinh tế tài chính ngày càng link chặt chẽgiữa những vương quốc ngày càng tang nên những những hiệp định, cam kết ngày càng ngặt nghèo. Vì vậy, muốn làm ăn với cáckhu vực kinh tế tài chính ngày thì phải tuân thủ những luật lệ, thông lệquốc tế Nhân tố kinh tế tài chính quốc tếNhân tố này thường tạo ra thời cơ và gây nên rủi ro tiềm ẩn so với cácnước, những nghành kinh tế-kĩ thuật, những doanh nghiệp xuất nhậpkhẩu. Bao gồm những tác nhân như khủng hoảng kinh tế, bất đồngquan điểm tăng trưởng kinh tế tài chính, chủ trương lãi suất vay …. Khủng hoảng kinh tế tài chính ( 1929 – 1933 ) sự sự không tương đồng về quanđiểm tăng trưởng kinh tế tài chính của những nước về những yếu tố như : Khai thác dầu mỏ, đánh bắt cá món ăn hải sản, hàng dệt may, dagiày … so với nền kinh tế tài chính quốc tế nói chung và những quốcgia nói riêng. Chính sách lãi suất vay của ngân hàng nhà nước và quỹ tiền tệ những nướcảnh hưởng đến tỷ giá đồng xu tiền những vương quốc. Có thể gâythuận lợi hoặc khó khăn vất vả cho kế hoạch kinh tế tài chính của mỗinước. Nhân tố kĩ thuật công nghệSự tăng trưởng mạnh của khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giớibắt buộc những nhà kinh tế tài chính, những nhà quản trị kế hoạch phảikịp thời chớp lấy và học hỏi để triển khai chuyển giao côngnghệ thay đổi công nghệ tiên tiến kịp thời để tạo lợi thế cạnh tranhtrên thị trường. Sự Open của những mẫu sản phẩm mới, loại sản phẩm thay thếtrên thị trường đã bắt buộc những doanh nghiệp không ngừngnghiên cứu, tìm tòi ra những mẫu sản phẩm mới, mẫu mã, màusắc để cạnh tranh đối đầu trên thị trường quốc tế. Sản phẩm có hàm lượng chất xám cao : nghành, doanhnghiệp mẫu sản phẩm có hàm lượng chất xám cao thì sẽ có ưuthế cạnh tranh đối đầu trên thị trường Yếu tố văn hóa truyền thống xã hội tác động ảnh hưởng can đảm và mạnh mẽ đến kế hoạch cạnhtranh của những nước bộc lộ ở : hành vi của người mua và người tiêu dùng ở trong nướcvà ngoài nước, thị trường dễ tính và không dễ chiều. những chiếnlượ kinh doanh thương mại của những nước biến hóa để Giao hàng kháchhàng cho tương thích. Ảnh hưởng đến kế hoạch của những nhà quản trị, những nhàsản xuất kinh doanh thương mại trong việc xác dịnh quy mô, phạm vicủa mỗi kế hoạch kinh tế tài chính xã hôi, và kế hoạch phát triểnkinh tế của nhà nước. 7. Nhân tố nhân khẩuNhân khẩu tạo ra người mua cho doanh nghiệp. Nhân khẩu ảnh hưởng tác động tớihoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trải qua những phương diện sau : Quy mô và vận tốc tăng dân số là tác nhân tác động ảnh hưởng tới quy mô nhucầu. Thông thường quy mô dân số của một vương quốc, của mộtvùng, một khu vực, một địa phương càng lớn thì báo hiệu một quymô thị trường lớn. Bất kì công ty nào ddeuf bị mê hoặc bởi nhữngthị trường có quy mô dân số lớn. Dân số tăng nhanh, chậm haygiảm sút là chỉ số báo hiệu triển vọng tương ứng của quy mô thịtrường. Đôi khi là thời cơ cho công ty này nhưng lại là bất lợi chocông ty khác. Cơ cấu dân số tác động ảnh hưởng rất lớn đến cơ cấu tổ chức nhu yếu của những hànghóa đơn cử và đến đặc tính nhu yếu. Những tham số điển hìnhtrong cơ cấu tổ chức dân số nổi bật đặc biệt quan trọng là trong nghành nghề dịch vụ hàng tiêudùng chăm sóc là : giới tính, tuổi tác. Sự biến đổi về cơ cấu tổ chức giớitính và tuổi tạo thời cơ cho nhóm hàng này khó khăn vất vả cho nhómhàng khác là một điều không hề tránh khỏi. Tình trạng hôn nhân gia đình và mái ấm gia đình cũng là yếu tố doanh nghiệp cầnchú ý. Các góc nhìn tương quan đến mái ấm gia đình như : tuổi kết hôn, tuổisinh con đầu long, quy mô mái ấm gia đình, số lượng mái ấm gia đình, số lượngcon sinh được của 1 mái ấm gia đình đều ảnh hưởng tác động lớn đều ảnh hưởng tác động đếntrạng thái và đặc thù của thị trường. Trong những năm qua ViệtNam thả lỏng về ý niệm số con, đã có rủi ro tiềm ẩn làm bùng phatstỷ lệ tăng dân số. Đây là thời cơ cho những công ty sản xuất hàng tiêudùng trẻ nhỏ, dịch vụ sinh sản của những bà mẹ có độ tuổi caohơn cũng ngày càng tăng. Xu hướng những người độc than tăng lên gắnliền với xã hội văn minh, cũng là xu thế đáng chăm sóc củacông ty Tốc độ đô thị hóa : Tôc độ và trào lưu muốn trở thành dân cư đôthị và miễn cưỡng trở thành dân cư đô thị của xã hội việt Namtrong những năm thay đổi vừa mới qua đang trở thành thời cơ kinhdoanh phát đạt cho nhều nghành. II. Tác động của môi trường tự nhiên vi mô đến tình hình kinh doanh thương mại của doanh nghiệp1. Đối thủ cạnh tranh đối đầu. Khi tham gia kinh doanh thương mại dù là 1 đoạn thị trường duy nhất công tycũng hoàn toàn có thể gặp phải những đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu. Vì quy mô thị trườngcó hạn nên những đối thủ cạnh tranh luôn tìm ra những độc chiêu để giành kháchhàng. Do mỗi đốii thủ cạnh tranh đối đầu có 1 cách lôi cuốn cách hàng riêngnên người mua có rất nhiều sự lựa chọn khác nhau của những sảnphẩm cạnh tranh đối đầu. Vì vậy trước những kế hoạch lôi cuốn khách hàngcủa đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu doanh nghiệp phải chớp lấy theo dõi kịp thờiđối sách của đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu. Đối thủ cạnh tranh đối đầu là những doanh nghiệp, những công ty sản xuất, kinh doanh thương mại những sản phẩm & hàng hóa dich vụ có tên gọi giống nhau. đây là sựcạnh tranh giữa những doanh nghiệp cùng nghành. đối thủ cạnh tranh cạnh tranhcòn là những sản phẩm & hàng hóa, dịch vụ có năng lực sửa chữa thay thế nhau trong việcthõa mãn nhu yếu, mong ước của người mua. Có 4 loại đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu sau : Cạnh tranh mong ước : Đây là loại đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu biểu lộ nhữngkhát vọng của người tiêu dùng, muốn thõa mãn những nhu yếu, mongmuốn khác nhau trên cơ sở một quỹ shopping nhất định. Nếu số tiềndùng để thỏa mãn nhu cầu nhu yếu mong ước này thì không còn để thõamãn nhu yếu mong ước khác. Hoặc số tiền shopping sản phẩm & hàng hóa nàynhiều thì số tiền dành để shopping sản phẩm & hàng hóa khác ít đi. Cách thứcphân bổ ngân sách shopping này khi trở thành phổ cập thì sẽ trởthành thời cơ cho nghành này nhưng lại gây khó khăn vất vả cho nghànhkhác. Cho nên, với loại đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu mong ước thông tin vềquỹ shopping được phân chia theo khuynh hướng nào cho những mongmuốn khác nhau là rất là quan trọng so với những kế hoạch đầutư tham gia thị trường của công ty. Đối thủ cạnh tranh đối đầu là những loại sản phẩm & hàng hóa khác nhau, cùng thõa mãn1 nhu yếu, mong ước nhất định. Đó chính là những loại hàng hóakhác nhau có năng lực thay thế sửa chữa cho nhau trong tiêu dùng để thõamãn một nhu yếu mong ước không giống nhau. Đây là sự cạnhtranh giữa những ngành hàng khác nhau. Tính chất, mức độ cạnh tranhgiũa những nghành hàng này do những đặc trưng về tính hữu dụng, côngdụng của sản phẩm & hàng hóa tạo ra là chính. Các nhà quản trị phải chăm sóc tớivắn đề này bởi xu thế lựa chọn của người tiêu dùng sẽ tạo ra cơhội hay rình rập đe dọa cho những nghành hàng khác nhau. Khi tham gia vàomột nghành hàng đơn cử, những nhà quản trị của mỗi công ty cần xácđịnh rõ những nghành hàng nào có năng lực thay thế sửa chữa và do đó là đốithủ cạnh tranh đối đầu của công ty. Mỗi nghành hàng có sức mê hoặc như thếnào trong việc chi phố tới quyết định hành động của người tiêu dùng. Đối thủ cạnh tranh đối đầu là những kiểu sản phẩm & hàng hóa khác nhau trong cùng mộtnghành hàng ( loại hàng ). Những mẫu sản phẩm, sản phẩm & hàng hóa khác nhau nàycố thể do những doanh nghiệp khác nhau sản xuất hoặc cũng hoàn toàn có thể domột doanh nghiệp sản xuất. Các nhà quản trị cần dữ thế chủ động xử lí cácmối quan hệ này nếu như sản phẩm & hàng hóa, dịch vụ do 1 doanh nghiệp sảnxuất. Nhưng nếu chúng được sản xuất ở những doanh nghiệp khácnhau thì tính cạnh tranh đối đầu giữa chúng sẽ trở nên nóng bức hơn. Một quyếtđịnh của một chủ thể nào đó so với một kiểu sản phẩm & hàng hóa nhất định dohọ sản xuất ra hoàn toàn có thể làm dich chuyển nhu yếu quyết định hành động mua sắmcủa người tieu dùng từ kiểu sản phẩm & hàng hóa này sang kiểu sản phẩm & hàng hóa khác. Đối thủ cạnh tranh đối đầu là những kiểu dạng sản phẩm & hàng hóa khác nhau cùng thõamãn một mong ước đơn cử như nhau, nhưng có thương hiệu khácnhau. Việc đưa ra quyết định hành động marketing tương quan đến thương hiệu nàysẽ ảnh hường đến quyết định hành động shopping của người mua tiềm năng đốivới thương hiệu khác. Như vậy doanh ngiệp khi đưa ra những quyết định hành động so với sảnphẩm, sản phẩm & hàng hóa của mình thì trước hết phải nhận diện không thiếu cả 4 loại đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu trên, đồng thời phải nghiên cứu và phân tích kĩ lưỡng nhữngthay đổi trong quyết định hành động mua hàng của người mua tương quan đến sựthay đổi trong những quyết định hành động của đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu. 2. Công chúng trực tiếp. Những lực lượng này hoàn toàn có thể biểu lộ sự chăm sóc, ủng hộ, thiện cảm … khác nhau so với công ty. Là một nhóm bất kể chăm sóc thực sự hay có thểsẽ chăm sóc hoặc hoàn toàn có thể có năng lực đạt tới những tiềm năng mà doanhnghiệp đặt ra. Lực lượng này hoàn toàn có thể tạo thuận tiện hoặc hoàn toàn có thể gây khó khăn vất vả chodoanh nghiệp trong nỗ lực marketing để phân phối thị trường. Công chúng trực tiếp được chia làm 3 mức độ : Công chúng tích cực là những nhóm chăm sóc đến công tyđến công ty với thái độ thiện chí. Công chúng tìm kiếm là nhóm chưa chăm sóc nên doanhnghiệp đang tìm kiếm sự chăm sóc của họ. Công chúng không mong ước là nhóm hoàn toàn có thể tẩy chay côngty. Các công ty trực tiếp ảnh hưởng tác động đến hoạt động giải trí kinh doanhcủa doanh nghiệp là : Giới kinh tế tài chính như : Nhóm này sẽ đưa những thông tin có lợihoặc bất lợi cho công ty. Các cơ quan nhà nước như : cục vệ sinh bảo đảm an toàn thực phẩm, Bộ tài nguyên môi trường tự nhiên, Bộ văn hóa truyền thống thông tin, bộ tư pháp. Tùy theo tính năng mà những cơ quan này ảnh hưởng tớihoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông ua việc ảnhhưởng trực tiếp đến bộ phận marketing. Các tổ chức triển khai quần chúng cũng ảnh hưởng đến doanh nghiệpnhư những tổ chức triển khai : tổ chức triển khai bảo vệ người tiêu dùng, tổ chức triển khai bảovệ môi trường tự nhiên … 3. Khách hàngKhách hàng là thị trường của doanh nghiệp đồng thời người mua là một yếutố quan trọng chi phối đến hoạt động giải trí marketing của doanh nghiệp. mỗi sựbiến đổi về nhu yếu, về quyết định hành động shopping của người mua đều buộc doanhnghiệp phải xem xét đến những kế hoạch của mình. Có 5 loại người mua tạonên 5 loại thị trường. Thị trường người tiêu dùng : Các cá thể, hộ mái ấm gia đình, nhóm ngườitập thể mua sản phẩm & hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cho đời sống của họ. Thị trường những nhà phân phối : là những cá thể, tổ chức triển khai kinh tế tài chính, doanhnghiệp mua sản phẩm & hàng hóa dịch vụ của công ty về để tiêu thụ cho sản xuất. Thị trường nhà buôn bán trung gian : là những cá thể tổ chức triển khai mua hànghóa dịch vụ của công ty về để bán lại kiếm lời. Thị trường những cơ quan nhà nước và những tổ chức triển khai khác : khách hàngnày mua sản phẩm & hàng hóa dich vụ của công ty về để ship hàng cho tiêu dùngchung hoặc chuyển giao nó cho tổ chức triển khai hoặc người khác cần. Cácviện, trường ĐH, những tổ chức triển khai nhân đạo … Thị trường quốc tế gồm có những người mua quốc tế. Họ là ngườitiêu dùng, hoặc là bán sỉ trung gian, là nhà phân phối, là những cơquan nhà nước. Mỗi loại người mua trên có hành vi shopping khác nhau nên sự tácđộng của người mua tới những doanh nghiệp là không giống nhau. Doanh nghiệp phải nghiên cứu và điều tra kĩ từng người mua, thị trường để cóthể phân phối họ một cách tốt nhất. B. PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG KINH DOANHPhân tich thị trường là quy trình nghiên cứu và phân tích những thông tin về những yếu tố cấu thành thịtrường nhằm mục đích tìm hiểu và khám phá quy luật hoạt động và những yếu tố ảnh hưởng đến thị trườngtrên cơ sở đó đề xuất kiến nghị ra những kế hoạch kinh doanh thương mại. Ta triển khai nghiên cứu và phân tích thị trường tập trung chuyên sâu hầu hết vào 3 tác nhân sau : • Xác định thái độ người tiêu dùng • Xác định cấu trúc thị trường và thị trường và thị trường tiềm năng • Phân tích những hướng tăng trưởng và xâm nhập thị trườngI. Xác định thái độ người tiêu dùngCần phải tìm hiểu và khám phá trước thị trường người tiêu dùng và hành vi shopping củangườitiêu dùng thì mới hoàn toàn có thể thiết kế xây dựng được những kế hoạch Marketing có căncứ. Hành vi của người mua chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố hầu hết : Vănhóa, xã hội, cá thể, và tâm ý. Tất cả những yếu tố này đều cho ta nhữngcăn cứđể biết cách tiếp cận và Giao hàng người mua một cách hiệu suất cao hơn. Những người làm Marketing phải nghiên cứu và điều tra những mong ước, nhận thức, sở trường thích nghi và những hành vi lựa chọn và shopping của những người mua mụctiêu. Việc nghiên cứu và điều tra như vậy sẽ cho ta những gợi ý để tăng trưởng sản phẩmmới, tính năng của mẫu sản phẩm, xác lập Chi tiêu, những kênh, để ship hàng tốt hơnđối với người tiêu dùng. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùngbao gồm : Văn hóa, Nền văn hóa truyền thống Xã hội, nhóm tìm hiểu thêm cá thể, tuổi vàgiai đoạn của chu kì sống, tâml lí, nhánh văn hóa truyền thống, nghề nghiệp, động cơngười mua, thực trạng kinh tế tài chính, nhận thức, lối sống, hiểu biết. Văn hóaNền văn hóa truyền thống là yếu tố quyết định hành động cơ bản nhất những mong ước và hànhvi của một người. Một đứa trẻ khi lớn lên sẽ tích luỹđược một số ít nhữnggiá trị, nhận thức, sở trường thích nghi và hành vi trải qua mái ấm gia đình của nó vànhững định chế then chốt khác. Mỗi nền văn hóa truyền thống đều có những nhánh văn hóa truyền thống nhỏ hơn tạonên những đặc thù đặc trưng hơn và mức độ hòa nhập với xã hội chonhững thành viên của nó. Các nhánh văn hóa truyền thống tạo nên những khúcthị trường quan trọng, và những người làm Marketing thường thiếtkế những mẫu sản phẩm và chương trình Marketing theo những nhu yếu của chúng. Tầng lớp xã hộiCác những tầng lớp xã hội là những bộ phận tương đối giống hệt và bền vữngtrong xã hội, được xếp theo theo thứ bậc và gồm những thành viên cóchung những giá trị, mỗi chăm sóc và hành vi. Tầng lớp thượng lưu Tầng lớp thượng lưu lớp trên, sống bằngtài sản thừa kế và lớp trên ( dưới 1 % ) có những gia đìnhnổi tiếng. Họ góp phần những khoản tiền lớn cho công việctừ thiện, tổ chức triển khai những buổi vũ hội. Họ thường hay mua và mặcnhững đồ thủ cựu, không chăm sóc đến chuyện phô trương. Tuyhọ là một nhóm nhỏ, tuy nhiên họ vẫn là một nhóm tìm hiểu thêm đối vớinhững người khác trong chừng mực những quyết định hành động của họđược những người khác trong xã hội bắt chước. Tầng lớp thượng lưu Tầng lớp thượng lưu lớp dưới là nhữngngười có thu nhập lớp dưới ( khoảng chừng 2 % ) cao hay giàu cónhờ kĩ năng xuất chúng trong nghề nghiệp trình độ haykinh doanh. Họ là những người tích cực tham gia những hoạt động giải trí xãhôi. Và họ thường mua những thứ để chứng tỏ vị thế cuả bản thanvà con cháu và thường là những thứ đắt tiền, sản phẩm & hàng hóa xa xỉ .. Tầng lớp trung lưu lớp Những người trung lưu lớp trênkhông có vị thế mái ấm gia đình phong phú gì đặc biệt quan trọng. Họ hầu hết quan tâmđến danh vọng. Họ thường là những người kinh doanh thương mại hoặc cánbộ công ty. Những người này thích nói về trình độ văn hóa truyền thống. Họ làthị trường tốt cho nhà tại, quần áo đẹp, đồ gỗ và thiết bị tốt .. Tầng lớp trung lưu Tầng lớp trung lưu là những người côngnhân cổ trắng và xanh có mức lương trung bình, sống ở khu kháhơn của thành phố. Họ thường mua những loại sản phẩm thông dụng đểtheo kịp khuynh hướng tăng trưởng của xã hội. Họ thường chăm sóc đếnô tô, thời trang và chăm sóc đến những thương hiệu tốt hơn, mộtngôi nhà đẹp hơn hàng xóm. Họ thường tin yêu và chi nhiềucho con cháu và hướng chúng vào đại họcTầng lớp công nhân Tầng lớp công nhân gồm những côngnhân cổ xanh có mức lương trung bình có lối sống theo lối sốngcủa những tầng lớp công nhân, bất kể thu nhập, trình độ hay côngviệc. Họ sử dụng những vật dụng không quá xa xỉ và tiêu tốn ởmức tiếp kiệm. Tầng lớp hạ lưu lớp Tầng lớp hạ lưu lớp trên là những ngườiđi làm, không sung túc, mức sống của họ cao hơn người nghèokhổ một chút ít. Họ làm những việc làm đại trà phổ thông, lương thấp. Tầng lớp này thường được học tập không rất đầy đủ. Họ chủ yếutiêu dùng những sản phẩm & hàng hóa thiết yếu và không nghĩ đến những thứxa hoa, vui chơi đắt tiền. Tầng lớp hạ lưu lớp Tầng lớp hạ lưu lớp dưới là những ngườihưởng trợ cấp, bị nghèo túng không có việc làm. Phần lớn họtrông chờ vào trợ cấp xã hội. Tầng lớp này thường chỉ mongmuốn được siêu thị nhà hàng khá đầy đủ. Gia đìnhCác thành viên trong mái ấm gia đình là nhóm tìm hiểu thêm có ảnh hưởnglớn nhất. Có 2 mái ấm gia đình trong đời sống người mua là : • Gia đình xu thế : Bố mẹ là người được định hướngđối với tôn giáo, kinh tế tài chính, chính trị, long tự trọng và tình yêu. Ảnh hưởng của cha mẹ ở mái ấm gia đình này so với hành vi muacủa con cháu là rất lớn. • Gia đình riêng : vợ chồng và con cháu. Gia đình là một tổ chức triển khai mua hàng tiêu dùng quan trọngnhất trong xã hội. vì thế doanh nghiệp nên chăm sóc đếnảnh hường của chồng, vợ, con cháu đến việc shopping rấtnhiều loại sản phẩm & hàng hóa khác nhau. Vấn đề này rất khác nhaugiữa những nước khác nhau và những tầng lớp khác nhau. Các dạng mẫu mẫu sản phẩm nổi bật : + Chồng giữ vai trò chính : Bảo hiểm nhân thọ, ôtô, máy thuhình + Vợ giữ vai trò chính : máy giặt, thảm, đồ gỗ, vật dụng phòng bếp + Vợ chồng giữ vai trò ngang nhau : đi nghỉ, nhà tại, vui chơi bênngoài Vai trò và vị thế. Trong đời mình một người tham gia vào rất nhiều nhóm – mái ấm gia đình, cáccâu lạc bộ, những tổ chức triển khai. . Vị trí của người dó trong mỗi nhóm hoàn toàn có thể xácđịnh địa thế căn cứ vào vai trò và vị thế của họ. . Người ta lựa chọn những sảnphẩm bộc lộ được vai trò và vị thế của mình Những yếu tố cá thể. Những quyết định hành động của người mua cũng chịu ảnh hưởng của những yếutố cá thể., điển hình nổi bật nhất là tuổi tác và tiến trình chu kì sống của ngườimua, nghề nghiệp, thực trạng kinh tế tài chính, lối sống nhân cách và tự ý niệmcủa người đó. Vì vậy những doanh nghiệp nỗ lực xác lập những nhómnghề có chăm sóc trên mức trung bình đến loại sản phẩm của mình. Doanhnghiệp hoàn toàn có thể chuyên môn hóa loại sản phẩm và dịch vụ của mình cho nhữngnhóm nghề nghiệp nhất định. Hoàn cảnh kinh tếViệc lựa chon mẫu sản phẩm tác động ảnh hưởng rất nhiều từ thực trạng kinh tế tài chính củangười đó. Hoàn cảnh kinh tế tài chính của họ gồm có thu nhập hoàn toàn có thể chi tiêuđược, tiết kiệm chi phí và gia tài, nợ, năng lực vay mượn, thái độ so với việcchi tiêu và tiết kiệm chi phí. Các doanh nghiệp có sản phẩm & hàng hóa nhạy cảm phải tiếp tục theo dõi xuhướng thu nhập cá thể, số tiền tiết kiệm chi phí, lãi suất vay. Nếu những chỉ số kinh tếcó sự suy thoái và khủng hoảng trong thời điểm tạm thời thì những người làm marketing hoàn toàn có thể tiến hànhthiết kế lại, xác lập lại vị trí và định giá lại mẫu sản phẩm để liên tục đảm bảogiá trị cho người mua tiềm năng Lối sốngNhững người xuất thân từ một nhánh văn hóa truyền thống, những tầng lớp xã hội và cùngnghề nghiệp hoàn toàn có thể có những lối sống trọn vẹn khác nhau. Lối sống củamột người được biểu lộ trong hoạt động giải trí, sự chăm sóc và quan điểm củangười đó. Những người làm marketing sẽ tìm kiếm những mối quan hệgiữa mẫu sản phẩm của mình với lối sống. Nhân cách và ý niệm của bản thânMỗi người đều có nhân cách độc lạ và ảnh hưởng đến hành vi củangười đó. Có mối quan hệ ngặt nghèo giữa nhân cách với những lựa chọn sảnphẩm và thương hiệu. Những yếu tố tâm lýViệc shopping của con người còn chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố tâm lýlà : Động cơ, nhận thức, tri thức, niềm tin và thái độĐộng cơ : Tại thời gian nào con người cũng có nhu yếu như đóikhát hay những nhu yếu xuất phát từ yếu tố tâm lí như nhu cầuđược thừa nhận, được khẳng định chắc chắn mình, được kính trọng. Mộtnhu cầu sẽ trở thành động cơ khi nó đủ mạnh. Động cơ thôi thúccon người ta hành vi để thõa mãn những nhu yếu. Nhận thứcMột người có động cơ sẽ luôn sẵn sang hành vi nhưng sẽhành động như thế nào còn chịu sự ảnh hưởng của nhận thức. Nhận thức không riêng gì pphuj thuộc vào tác nhân vật lý mà còn phụthuộc vào quan hệ của tác nhân đó với thiên nhiên và môi trường xung quanh. Người làm marketing phải cố gắng nỗ lực lôi cuốn sự quan tâm của người tiêudùng. Tri thức dạy cho người làm marketing họ hoàn toàn có thể tạo ra được nhucầu so với một mẫu sản phẩm bằng cách gắn liền nó với sự thôi thúcmạnh mẽ, sử dụng những động cơ, tấm gương bảo vệ sự củngcố tích cựcNhững công ty mới tham gia thị trường bằng cách vận dụngnhững sự thôi thúc mà đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu đã tạo ra và tạo ranhững mẫu mã tựa như chính do người mua có khuynh hướngchuyển từ long trung thánh sang thương hiệu tựa như hơn là nhữnnhãn hiệu hác hẳn. Niềm tin và thái độ : Thông qua hoạt động giải trí tri thức người ta có niềmtin và thái độ. Những yếu tố này ảnh hưởng đến hành vi mua sắmcủa con người. Những doanh nghiệp chăm sóc đến niềm tin màngười ta mang trong đầu mình về mẫu sản phẩm, dịch vụ củamình. những niềm tin đó tạo nên những hình ảnh về sản phẩmcũng như thương hiệu và người ta hành vi theo hành vi đó. Thái độ của con người cũng rất khó biến hóa vì thế những doanhnghiệp nên làm cho mẫu sản phẩm của mình tương thích với những tháiđộ sẵn có chứ không nên thay đối thái độ của mọi người. II. Xác định cấu trúc thị trường và thị trường mục tiêuThị trường của một loại sản phẩm hoặc dịch vụ đều gồm có 4 bộ phận : – Thị Trường hiện tại của đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu – Thị phần hiện tại của doanh nghiệp – Thị phần không tiêu dùng tương đối Thị trường tiềm năng hiện tại của doanh nghiệp là cơ sở xác lập mục tiêuvừa biểu lộ thế và lực của doanh nghiệp trên thị trường tiềm năng vừathể hiện thực trạng và mức độ cạnh tranh đối đầu hiện tại trong ngành Thị trường hiện tại của những đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu và phần thị trường khôngtiêu dùng tương đối hợp thành thị trường tiềm năng, là tiềm năng của cáchướng tăng trưởng thị trường của doanh nghiệp. Quy mô của thị trườngtiềm năng phản ánh năng lực và triển vọng tăng trưởng thị trường củadoanh nghiệp trong tương laiĐể lựa chọn thị trường tiềm năng, những nhà doanh nghiệp thường sử dụng giải pháp lậpbảng so sánh, nhìn nhận trải qua những tiêu chuẩn và trên cơ sở đó phân loại thị trường vàlựa chọn thị trường tiềm năng. những chỉ tiêu thường được sử dụng để tìm hiểu thị trường vàlựa chọn thị trường tiềm năng là : – Khả năng sản xuất và đáp ứng tại chỗ trên những thị trường hiện tại – Số cầu của người tiêu dùng so với mẫu sản phẩm này – Khả năng tiêu thụ của người tiêu dùng – Thái độ của người tiêu dùng so với loại sản phẩm đóIII. Phân tích những hướng tăng trưởng và xâm nhập của thị trườngcác bộ phận của thị trường luôn luôn ở thế cân đối động, liên tục chuyển hóa và cóquy mô không cố định và thắt chặt. Trong quy trình kinh doanh thương mại, quy mô của thị trường tiềm năng cũngchuyển hóa. Nếu doanh nghiệp làm tốt công tác làm việc quản lí tiếp thị quy mô của thị trường mụctiêu hoàn toàn có thể lan rộng ra, nghĩa là hoàn toàn có thể thôn tính phần thị trường của những đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu vàhoặc xâm nhập vào phần thị trường không tiêu dùng tương đối. Ngược lại quy mô thịtrường tiềm năng của doanh nghiệp sẽ bị thu hẹp lại. Do vậy để sống sót và tăng trưởng việcnghiên cứu và nghiên cứu và phân tích những hường xâm nhập thị trường là một việc quan trọng của doanhnghiệp khi kiến thiết xây dựng và lựa chọn giải pháp kinh doanh thương mại. Quá trình nghiên cứu và phân tích được tiếnhành theo 3 nội dung : Phân tích và lựa chọn những hướng tăng trưởng thị trường theo nghành kinh tế tài chính. Phương pháp nghiên cứu và phân tích là lập ma trận dựa trên hai yếu tố : vị trí cạnh tranh đối đầu củadoanh nghiệp trên thị trường và chu kì đời sống của mẫu sản phẩm. Ma trận nghiên cứu và phân tích cóhình thức sau : Vị trí cạnhtranhChi phối Phát triển tất yếuMạnhTrung bình Phát triển chọn lọcYếu Rút luiTriển khai TăngtrưởngTrưởngthànhSuy thoáiĐời sống của sản phẩmTrên ma trận có 3 vùng tăng trưởng : vùng tăng trưởng tất yếu, vùng tăng trưởng tinh lọc và vùngrút lui. Căn cứ vào tác dụng nghiên cứu và phân tích của doanh nghiệp so với 2 yếu tố trên và so sánh lênma trận, doanh nghiệp sẽ xác lập được hưởng tăng trưởng thích ứng của mẫu sản phẩm Phân tích những ảnh hưởng tác động của tác dụng thay đổi đến sự đổi khác của nhu yếu thị trường. Có những tác dụng mới làm cho nhu yếu thị trường so với loại sản phẩm tăng lên nhưngcúng có những thay đổi làm cho nhu yếu thị trường không tăng mà còn có xu hướnggiảm đi. do vậy khi tiến hành sản xuất đại trà phổ thông hoặc nâng cấp cải tiến một mẫu sản phẩm mới phảiphân tích ảnh hưởng của nó đến nhu yếu thị trường Phân tích tác động ảnh hưởng qua lại giữa những mẫu sản phẩm để xác lập hướng tăng trưởng thịtrường. Thí dụ nếu mẫu sản phẩm sửa chữa thay thế đang chiếm lợi thế tăng trưởng là không nên
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Doanh Nghiệp






