Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở tỉnh ninh – Tài liệu text

Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở tỉnh ninh bình

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.06 MB, 84 trang )

..

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện và hoàn thành khóa luận này em đã nhận được rất
nhiều sự giúp đỡ, quan tâm tạo điều kiện từ mọi phía. Em xin chân thành cảm ơn
sâu sắc đến:
– Thầy giáo Th.s Lê Thanh Tùng, giảng viên khoa văn hóa du lịch trường
Đại Học Dân Lập Hải Phịng đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong quá trình
lựa chọn, thực hiện đề tài, giúp đỡ em trong q trình làm khóa luận này.
– Xin gửi lời cảm ơn tới các nghệ nhân, thợ thủ cơng tại ba làng nghề chế
tác cói Kim Sơn, Thêu ren Văn Lâm, chế tác đá Ninh Vân đã không ngần ngại
bớt chút thời gian chia sẻ ý kiến và cung cấp thông tin, số liệu tạo điều kiện cho
em hồn thành bài khóa luận này.
– Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong khoa văn hóa du
lịch, bộ mơn văn hóa du lịch cùng gia đình, bạn bè đã ln quan tâm, động viên
em trong suốt q trình làm khóa luận.
– Cuối cùng, em xin được gửi lời cảm ơn đến các cơ chú anh chị trong sở
văn hóa Du lịch và sở Cơng thương Ninh Bình đã giúp đỡ, cung cấp thơng tin,
số liệu cho em làm khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng, ngày 15 tháng 06 năm 2010
Sinh viên

Trần Thị Kim Cúc

MỤC LỤC
Nội dung

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………….. 1
1.Lí do chọn đề tài ………………………………………………………………………………………………….. 1
2.Mục đích và nhiệm vụ của đề tài: ………………………………………………………………………. 2
3.Phương pháp nghiên cứu …………………………………………………………………………………….. 3
4.Phạm vi nghiên cứu …………………………………………………………………………………………….. 3
5.Bố cục ……………………………………………………………………………………………………………….. 3
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ VÀ LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG NINH BÌNH ……………………………………………………………………….. 4
1.1. Làng nghề và làng nghề truyền thống ………………………………………………………… 4
1.1.1. Khái niệm làng nghề …………………………………………………………………………………….. 4
1.1.2. Khái niệm làng nghề truyền thống ………………………………………………………………. 5
1.2. Du lịch làng nghề truyền thống …………………………………………………………………… 6
1.3. Điều kiện phát triển du lịch làng nghề truyền thống ……………………………….. 7
1.4. Mối quan hệ giữa việc phát triển du lịch và các làng nghề truyền thống 8
1.5. Làng nghề truyền thống Việt Nam ……………………………………………………………. 10
1.6. Tiểu kết ………………………………………………………………………………………………………….. 14
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TỈNH
NINH BÌNH …………………………………………………………………………………………………………. 15
2.1. Tiềm năng du lịch Ninh Bình …………………………………………………………………….. 15
2.2. Làng nghề truyền thống tỉnh Ninh Bình ………………………………………………….. 20
2.2.1. Quá trình hình thành các làng nghề truyền thống Ninh Bình …………………… 20
2.2.2. Giới thiệu chung về làng nghề truyền thống Ninh Bình…………………………… 23
2.2.3. Thực trạng phát triển làng nghề và du lịch làng nghề truyền thống Ninh
Bình
………………………………………………………………………………………………. 25
2.2.4. Các tiêu chí đánh giá chung: ……………………………………………………………………… 29
2.3. Thực trạng làng nghề và du lịch tại các làng nghề tiêu biểu …………………. 31
2.3.1. Làng mỹ nghệ cói Kim Sơn:………………………………………………………………………. 31

2.3.2. Làng thêu ren Văn Lâm- Ninh Hải ……………………………………………………………. 39
2.3.3. Làng chạm khắc đá Ninh Vân ……………………………………………………………………. 48
2.4. Nhận xét chung …………………………………………………………………………………………….. 56
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG NINH BÌNH ……………………………………………………………………… 58
3.1. Mục tiêu và định hƣớng phát triển …………………………………………………………… 58
3.1.1. Định Hướng ………………………………………………………………………………………………… 58
3.1.2. Mục Tiêu …………………………………………………………………………………………………….. 59
3.1.3. Chỉ tiêu cụ thể …………………………………………………………………………………………….. 59
3.2. Định hƣớng chung về phát triển làng nghề và du lịch làng nghề truyền
thống Ninh Bình ……………………………………………………………………………………. 60
3.2.1. Đẩy mạnh công tác bảo tồn làng nghề truyền thống ………………………………… 60
3.2.2. Đầu tư xây dựng phát triển làng nghề và du lịch làng nghề truyền thống
Ninh Bình ……………………………………………………………………………………………………………… 61
3.2.3. Đầu tư để xây dựng, cải tạo, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật
chất kĩ thuật phục vụ phát triển làng nghề và du lịch làng nghề ………………………… 61
3.2.4. Đa dạng hóa sản phẩm du lịch làng nghề ………………………………………………….. 62
3.2.5. Tăng cường hoạt động quảng bá, quảng cáo cho du lịch làng nghề truyền
thống
……………………………………………………………………………………………………………… 63
3.2.6. Phát triển nguồn nhân lực tại các làng nghề truyền thống ……………………….. 65
3.3. Giải pháp chung cho các làng nghề …………………………………………………………… 66
KẾT LUẬN ………………………………………………………………………………………….. 71
1. Kết luận
2. Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phiếu điều tra về tính hấp dẫn của làng nghề đối với khách du lịch
Khoảng cách từ các làng nghề đến trung tâm cung cấp khách

Một số chương trình du lịch hấp dẫn du khách

Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở Ninh Bình
(Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân)

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Việt Nam là một đất nước nhiệt đới khí hậu ơn hòa, con người chất phác,
thiên nhiên ưu đãi với nhiều loài động thực vật quý đa dạng về chủng loại,
phong phú về số lượng. Nền kinh tế nước ta chủ yếu là sản xuất nơng nghiệp, cư
dân Việt Nam có nhiều thời gian rảnh rỗi ngồi thời vụ chính. Vốn cần cù chịu
thương chịu khó và có đơi bàn tay tài hoa, ngay từ xa xưa người việt cổ đã biết
tận dụng những nguyên liệu sẵn có ấy để tạo ra nhiều sản phẩm thủ cơng có giá
trị sử dụng cao, mang đậm tính nghệ thuật phục vục cho đời sống hàng ngày.
Trong khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về sản phẩm
thủ cơng ngày càng cao, yêu cầu các sản phẩm đó giá cả phù hợp, bền, đẹp lại
không gây tác dụng phụ cho con người, thân thiện với mơi trường. Vì vậy đã có
rất nhiều người chuyển sang làm nghề thủ cơng, họ truyền nghề cho nhau dần
dần hình thành các làng nghề. Làng nghề chính là một nét đặc trưng của nông
thôn Việt Nam. Khắp mọi miền trên tổ quốc đâu đâu cũng có làng nghề thủ
cơng, mỗi làng nghề lại sản xuất một mặt hàng thủ công truyền thống khác nhau,
mang tính đơn nhất. Ta có thể kể ra đây những làng nghề nổi tiếng như: Làng
gốm Bát Tràng (Hà Nội); làng gốm Chu Đậu, làng thêu Xuân Nẻo (Hải Dương);
làng tranh Đông Hồ, làng gỗ Đồng Kị (Bắc Ninh),…
Du khách đến với Ninh Bình khơng chỉ biết đến các địa danh du lịch nổi
tiếng như: khu du lịch sinh thái Tràng An, Tam Cốc- Bích Động, nhà thờ đá
Phát Diệm…mà cịn biết đến một số làng nghề thủ cơng truyền thống nổi tiếng
như: làng thêu ren Văn Lâm – Ninh Hải, chế tác cói Kim Sơn, chế tác đá mỹ
nghệ Ninh Vân, nghề mộc Ninh Phong, nem chua Yên Mạc,…

Ninh Bình là một tỉnh khơng nhiều làng nghề như Hà Nội hay Bắc
Ninh… Nhưng làng nghề ở đây mang một phong thái riêng. Theo thống kê của
sở văn hóa thể thao du lịch Ninh Bình thì tỉnh có tất cả 60 làng nghề, trong đó có
36 làng nghề được ủy ban nhân dân tỉnh công nhận là làng nghề thủ công truyền
Sinh Viên: Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP

1

Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở Ninh Bình
(Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân)

thống. Sản phẩm thủ công truyền thống của Ninh Bình đa dạng về mẫu mã và
phong phú về chủng loại.
Đó là các sản phẩm độc đáo có một khơng hai của các làng nghề: Chế tác
cói Kim Sơn; thêu ren Văn Lâm; chế tác đá Ninh Vân; nghề mộc ở Ninh
Phong…
Bên cạnh đó Ninh Bình có vị trí địa lý thuận lợi, về địa hình có thể xem
Ninh Bình tựa như một “Miền Bắc Việt Nam thu nhỏ”. Bởi vì địa bàn tỉnh có
hầu hết các vùng: đồi núi, bán sơn địa, đồng bằng, duyên hải và biển. Sự phong
phú đa dạng về địa hình là cơ sở, điều kiện để hình thành, phát triển cả một hệ
thống “Địa kinh tế” và “Địa văn hóa” từ lâu đời, tạo nên vị thế địa quan trọng và
đặc biệt cho sự phát triển các làng nghề thủ công truyền thống.
Xuất phát từ những lí do trên tơi đã lựa chọn và xây dựng đề tài: “Làng
nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở tỉnh Ninh
Bình” nhằm tìm hiểu về các làng nghề truyền thống ở Ninh Bình, phản ánh thực
trạng sản xuất hàng thủ công ở các làng nghề và ý nghĩa đối với việc phát triển
du lịch, đánh giá tiềm năng phát triển du lịch của làng nghề để từ đó đưa ra các
giải pháp nhằm bảo tồn, duy trì và phát triển các làng nghề truyền thống, dựa
vào những lợi thế có sẵn để phát triển du lịch làng nghề truyền thống Ninh Bình.

2.

Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:
a. Mục đích
– Lựa chọn và xây dựng đề tài: “Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối

với vấn đề phát triển du lịch ở tỉnh Ninh Bình” người viết nhằm mục đích tơn
vinh những giá trị và vai trị của làng nghề truyền thống, nét tinh hoa văn hóa
của dân tộc.
– Phản ánh chân thực và khách quan về thực trạng hoạt động sản xuất thủ
công và phát triển du lịch làng nghề truyền thống ở Ninh Bình.

Tìm ra các giải pháp nhằm bảo tồn và thúc đẩy các làng nghề phát

triển, đẩy mạnh hoạt động du lịch của làng nghề truyền thống Ninh Bình trong
thời gian tới.
Sinh Viên: Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP

2

Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở Ninh Bình
(Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân)

b. Nhiệm vụ
– Tổng quan những vấn đề về làng nghề truyền thống Việt Nam và du lịch
làng nghề truyền thống.
– Chọn lọc các phương pháp đánh giá tài nguyên du lịch làng nghề để áp
dụng đánh giá làng nghề truyền thống ở Ninh Bình.

– Trên cơ sở đó thấy được thực trạng, tiềm năng du lịch làng nghề truyền
thống và đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của du lịch làng nghề
truyền thống ở Ninh Bình.
3.

Phƣơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu và xây dựng đề tài là một nghiên cứu khoa học đòi hỏi chính

xác cao, phải dựa trên một cơ sở lí luận nhất định. Để xây dựng và hoàn thành
đề tài người viết đã dựa trên những phương pháp nghiên cứu sau:
– Phương pháp khảo sát thực địa và thu thập tài liệu
– Phương pháp bản đồ, biểu đồ
– Phương pháp thống kê phân tích tổng hợp
4.

Phạm vi nghiên cứu

– Nghiên cứu những nét cơ bản chung về 60 làng nghề và 36 làng nghề truyền thống.
– Nghiên cứu về ba làng nghề (chiếu cói Kim Sơn, thêu ren Văn Lâm, chế tác đá
mỹ nghệ Ninh Vân) có những sản phẩm mang đầy đủ nét văn hóa truyền thống
và khả năng phục vụ khai thác du lịch.
– Khảo sát, nêu thuật, phân tích sản phẩm của ba làng.
5.

Bố cục
Ngồi phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phục lục khóa luận được

chia làm 3 chương:
– Chương I: Cơ sở lí luận về làng nghề truyền thống và du lịch làng nghề
truyền thống.

– Chương II: Thực trạng làng nghề truyền thống Ninh Bình.
– Chương III: Một số giải pháp phát triển du lịch làng nghề truyền thống
Ninh Bình.
Sinh Viên: Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP

3

Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở Ninh Bình
(Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân)

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ VÀ LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG NINH BÌNH
1.1. Làng nghề và làng nghề truyền thống
1.1.1. Khái niệm làng nghề
Từ xa xưa do đặc thù nền sản xuất nơng nghiệp địi hỏi phải có nhiều lao
động tham gia đã khiến cư dân Việt cổ sống quần tụ lại với nhau thành từng cụm
dân cư đơng đúc, dần hình thành nên làng xã. Trong từng làng xã đã có cư dân
sản xuất các mặt hàng thủ công, lâu dần lan truyền ra cả làng,xã tạo nên những
làng nghề và truyền nghề từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đề tài làng nghề truyền
thống là đề tài rất thú vị, đã có rất nhiều nhà văn hóa nghiên cứu về đề tài này.
Theo Tiến sĩ Phạm Côn Sơn trong cuốn “Làng nghề truyền thống Việt
Nam” thì làng nghề được định nghĩa như sau: “làng nghề là một đơn vị hành
chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là nơi quần cư đơng người, sinh hoạt có tổ chức,
kỉ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là làng sống
chuyên nghề mà cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát
triển công ăn việc làm. Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập
thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa
phương”.[1, tr9]
Xét theo góc độ kinh tế, trong cuốn: “Bảo tồn và phát triển các làng nghề

truyền thống trong q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa” Tiến sĩ Dƣơng Bá
Phƣợng cho rằng: “Làng nghề là làng ở nơng thơn có một hoặc một số nghề thủ
công tách hẳn ra khỏi thủ công nghiệp và kinh doanh độc lập. Thu thập từ các
làng nghề đó chiếm tỉ trọng cao trong tổng giá trị toàn làng.”[3, tr13]
Làng nghề theo cách phân loại về thời gian gồm có: làng nghề truyền
thống và làng nghề mới. khóa luận chỉ đi sâu tìm hiểu định nghĩa làng nghề
truyền thống vì có nhiều ý nghĩa trong phát triển du lịch.

Sinh Viên: Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP

4

Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở Ninh Bình
(Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân)

1.1.2 Khái niệm làng nghề truyền thống
Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về làng nghề truyền
thống, nhưng ta có thể hiểu làng nghề truyền thống là làng cổ truyền làm nghề
thủ công truyền thống. Theo Giáo sƣ Trần Quốc Vƣợng thì làng nghề là:
“Làng nghề là làng ấy, tuy có trồng trọt theo lối thủ nông và chăn nuôi
(gà, lợn, trâu,…) làm một số nghề phụ khác (thêu, đan lát,…) song đã nổi trội
một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ cơng chun nghiệp hay
bán chun nghiệp, có ơng trùm, ông phó cả cùng một số thợ và phó nhỏ đã
chun tâm, có quy trình cơng nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất
nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra những
hàng thủ cơng, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm
hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với thị trường là vùng rộng xung quanh với thị
trường đô thị, thủ đô và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước
ngồi.”[8,tr12]

Làng nghề ở đây khơng nhất thiết là tất cả mọi người dân trong làng đều
sản xuất thủ cơng, người thợ thủ cơng cũng có thể là người nông dân làm thêm
nghề phụ trong lúc nông nhàn. Tuy nhiên do u cầu về tính chun mơn hóa
cao đã tạo ra những người thợ thủ công chuyên nghiệp, chuyên sản xuất hàng
thủ công truyền thống ngay tại quê hương của mình. Nghiên cứu một làng nghề
thủ cơng truyền thống là phải quan tâm đến nhiều mặt, tính hệ thống, tồn diện
của làng nghề thủ cơng truyền thống đó, trong đó yếu tố quyết định là nghệ nhân
của làng, sản phẩm thủ công, thủ pháp kĩ thuật sản xuất và nghệ thuật.
Làng nghề thủ công truyền thống là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi
quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chun làm nghề mang tính lâu đời,
được truyền đi truyền lại qua các thế hệ, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán
sản phẩm theo kiểu phường hội, hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí là
bán lẻ, họ có cùng tổ nghề, các thành viên ln có ý thức tn theo những hương

Sinh Viên: Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP

5

Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở Ninh Bình
(Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân)

ước, chế độ, gia tộc, cùng phường nghề trong quá trình lịch sử phát triển đã hình
thành nghề ngay trên đơn vị cư vị cư trú của xóm của họ.
Làng nghề thủ cơng truyền thống thường có đại đa số hoặc một số lượng
lớn dân cư làm nghề cổ truyền, thậm chí là 100% dân cư làm nghề thủ cơng
hoặc một vài dịng họ chun làm nghề lâu đời, kiểu cha truyền con nối. Sản
phẩm của họ không những có tính ứng dụng cao mà cịn là những sản phẩm độc
đáo, ấn tượng, tinh xảo.
Ngày nay trong quá trình phát triển của kinh tế xã hội. Làng nghề đã thực

sự thành đơn vị kinh tế tiểu thủ công nghiệp, có vai trị, tác dụng tích cực rất lớn
đối với đời sống kinh tế xã hội.
1.2. Du lịch làng nghề truyền thống
Nhìn chung khái niệm du lịch làng nghề truyền thống vẫn còn khá mới mẻ
ở nước ta. Du lịch làng nghề truyền thống thuộc loại hình du lịch văn hóa.
Du lịch làng nghề truyền thống đang là loại hình du lịch thu hút được sự
quan tâm của nhiều du khách trong và ngoài nước. Xu hướng hiện đại ngày nay
cuộc sống căng thẳng nhiều áp lực, con người quay về với những giá trị văn hóa
truyền thống của dân tộc. Nhu cầu đi du lịch về những miền nông thôn, làng
nghề truyền thống ngày càng cao, vậy du lịch làng nghề truyền thống là gì?
Trước hết phải hiểu thế nào là du lịch văn hóa, vậy du lịch văn hóa là:
Theo Tiến sĩ Trần Nhạn trong: “Du lịch và kinh doanh du lịch” thì:
“ Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà du khách muốn thẩm nhận bề
dày lịch sử, di tích văn hóa, những phong tuc tập qn cịn hiện diện…Bao gồm
hệ thống đình, chùa, nhà thờ, lễ hội, các phong tục tập quán về ăn, ở, mặc, giao
tiếp,…”[2, tr15]
Đối với làng nghề truyền thống thì đó là nơi chứa đựng kho tàng kinh
nghiệm kỹ thuật, bí quyết nghề nghiệp từ việc sử dụng nguyên liệu, kỹ thuật chế
tác đến chủ đề sáng tạo trong việc tạo ra một sản phẩm thủ cơng truyền thống.
Đó chính là phần văn hóa phi vật thể. Ngồi ra làng nghề truyền thống cịn có
Sinh Viên: Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP

6

Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở Ninh Bình
(Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân)

các giá trị văn hóa vật thể khác như: đình, chùa, các di tích có liên quan trực tiếp
đến các làng nghề, các sản phẩm thủ công của làng nghề thủ cơng truyền

thống…
Khách du lịch đến đây chính là để tìm hiểu các giá trị văn hóa đó. Vì vậy mà du
lịch làng nghề truyền thống được xếp vào loại hình du lịch văn hóa. Từ đó ta có
thể hiểu du lịch làng nghề truyền thống như sau:
“Du lịch làng nghề truyền thống là một loại hình du lịch văn hóa mà qua đó
du khách được thẩm nhận các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể có liên quan
mật thiết đến một làng nghề cổ truyền của một dân tộc nào đó”.
1.3. Điều kiện phát triển du lịch làng nghề truyền thống
Xu hướng ngày nay con người đi du lịch hướng về các giá trị văn hóa cổ xưa,
việc phát triển du lịch làng nghề là vơ cùng cần thiết vì nó sẽ mang lại rất nhiều
thuận lợi cho cả hoạt động du lịch và sự phát triển của làng nghề. Phát triển du
lịch làng nghề đem lại lợi nhuận cho địa phương đó, giải quyết được công ăn
việc làm cho một lượng lớn lao động tại chỗ, cải thiện đời sống nhân dân, góp
phần bảo tồn, phát triển các làng nghề thủ công truyền thống, giữ lại những nét
đẹp văn hóa độc đáo có một không hai của dân tộc.
Làng nghề truyền thống là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn vô cùng quý
giá, để phát triển được du lịch làng nghề truyền thống cần có những điều kiện
nhất định.
Trước hết phải có những điều kiện tồn tại và phát triển làng nghề:
– Thuận tiện cho việc giao thương: đây là yếu tố quan trọng để một làng nghề
có thể phát triển vì gần đường giao thông sẽ thuận lợi cho việc vận chuyển,
thông thương giữa làng nghề và các vùng khác.
– Gần nguồn nguyên liệu để có thể liên tục phát triển sản xuất.
– Lao động và tập quán sản xuất của từng vùng.
Muốn du lịch làng nghề truyền thống phát triển cần những điều kiện sau:
– Làng nghề đó phải có sản phẩm độc đáo, đặc trưng.
Sinh Viên: Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP

7

Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở Ninh Bình
(Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân)

– Gần các danh lam thắng cảnh để có thể kết nối tour du lịch.
– Phải có các cơ sở vật chất kĩ thuật, cơ sở hạ tầng phục vụ cho du
lịch.[TLVH 178,tr8]
1.4.

Mối quan hệ giữa việc phát triển du lịch và các làng nghề truyền

thống
Đối với kinh tế xã hội du lịch có nhiều tác động mạnh mẽ, du lịch đóng
vai trị rất quan trọng trong việc phát triển các làng nghề truyền thống:
-Du lịch giúp tạo ra nhiều công ăn việc làm cho dân cư địa phương, thu
hút nguồn lao động từ các vùng lân cận, tăng thêm thu nhập và góp phần cải
thiện đời sống cho nhân dân.
– Góp phần làm tăng doanh thu và tăng doanh số bán sản phẩm thủ công
truyền thống trong các làng nghề thông qua việc bán hàng lưu niệm cho du
khách. Đây cũng là một hình thức xuất khẩu tại chỗ không phải chịu thuế và hạn
chế được rủi ro.
– Du lịch phát triển tạo thêm cơ hội đầu tư cho các làng nghề truyền
thống.
– Tạo cơ hội xuất khẩu sản phẩm thủ công truyền thống tại làng nghề.
– Tăng cường thu nhập ngoại tệ.
– Phân phối lại nguồn thu nhập.
– Tạo cơ hội giao lưu văn hóa bản địa và văn hóa của khách du lịch nước
ngồi.
– Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, chuyển dịch lao động
nông nghiệp sang lĩnh vực dịch vụ.

– Kích thích phát triển cơ sở hạ tầng thơng qua hoạt động du lịch.
– Bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống q báu của làng nghề.
– Khơi phục và phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống đã bị mai
một trong nền kinh tế thị trường và q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
Sinh Viên: Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP

8

Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở Ninh Bình
(Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân)

Du lịch và làng nghề có mối quan hệ qua lại tác động lẫn nhau. Du lịch
góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội làng nghề truyền thống theo hướng
tích cực bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân bản địa
phương. Ngược lại, đối với hoạt động du lịch làng nghề truyền thống cũng có
tác động tích cực. Làng nghề truyền thống là một loại tài nguyên du lịch nhân
văn có khả năng thu hút khách du lịch, làm phong phú thêm tài nguyên du lịch
góp phần vào mục tiêu phát triển chung. Cụ thể là:
– Các làng nghề truyền thống thường ở vùng nông thôn, mỗi làng nghề là
một môi trường văn hóa kinh tế xã hội và cơng nghệ truyền thống lâu đời.
Bên trong làng nghề chứa đựng những nét văn hóa thuần Việt, khơng
gian văn hóa nơng nghiệp cây đa, giếng nước, sân đình, những câu hát dân gian,
cánh cị trắng lũy tre xanh,…Đằng sau lũy tre làng là những mảng màu trầm
mặc, những nét tinh hoa văn hóa của dân tộc, hiền hòa, yên ả khiến cho du
khách ghé thăm đều có cảm giác yên lành thư thái. Có thể nói rằng du lịch làng
nghề truyền thống sẽ là địa chỉ lí tưởng để du khách tham quan tìm hiểu các giá
trị văn hóa, các phong tục tập quán lễ hội…Đặc biệt du khách sẽ không khỏi ngỡ
ngàng khi bắt gặp những sản phẩm thủ công độc đáo và có thể mua những món

đồ lưu niệm tinh tế.
– Ngồi ra làng nghề còn là nơi sản xuất ra những sản phẩm thủ cơng mỹ
nghệ đặc biệt, có giá trị sử dụng và giá trị nghệ thuật cao, đặc trưng cho cả một
dân tộc, địa phương…Du khách đến du lịch làng nghề truyền thống không chỉ
thỏa mãn được nhu cầu được chiêm ngưỡng tìm hiểu các giá trị văn hóa độc đáo
mà cịn có dịp mua sắm cho mình hoặc người thân những món đồ thủ cơng tinh
tế, độc đáo đáp ứng nhu cầu mua sắm lớn của du khách.
– Làng nghề truyền thống là tài nguyên du lịch nhân văn góp phần thu hút số
lượng lớn khách du lịch, làm cho hoạt động du lịch thêm phong phú đa dạng,
nhiều lựa chọn hấp dẫn cho du khách.
– Ngoài ra làng nghề truyền thống cịn làm đa dạng hóa sản phẩm du lịch.
Sinh Viên: Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP

9

Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở Ninh Bình
(Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân)

1.5. Làng nghề truyền thống Việt Nam
* Qúa trình hình thành các làng nghề truyền thống Việt Nam
Việt Nam nằm trong khu vực có điều kiện tự nhiên, khí hậu phù hợp,
động thực vật đa dạng phong phú thuận lợi cho săn bắt hái lượm, nhiều quặng
sắt, thiếc, đồng thuận lợi chế tác đồ thủ công. Việt Nam cịn là đất nước hình
thành nhà nước sớm nhất Đơng Nam Á. Việt Nam có một cộng đồng văn hóa
khá rộng lớn được hình thành vào khoảng nửa đầu thiên niên kỉ thứ hai trước
công nguyên và phát triển rực rỡ vào cuối thế kỉ 15 của Đại Việt.
Các làng nghề truyền thống ở Việt Nam đã được hình thành từ rất sớm,
qua thời gian và các giai đoạn thăng trầm của lịch sử làng nghề truyền thống
Việt Nam vẫn tồn tại và phát triển mạnh mẽ. Có thể tóm tắt sơ lược như sau:

Theo dấu vết khảo sát nghiên cứu các di chỉ khảo cổ, vết tích người Vượn
ở di chỉ khảo cổ núi Đọ (Thanh Hóa) có thể thấy hàng vạn công cụ đồ đá ghè,
đẽo, thô sơ như mảnh tước, rìu tay, nạo,…Chứng tỏ đã có sự chế tác, dùng các
công cụ bằng tre như: gậy, lao, cung tên, thừng bện,…Nghề thủ cơng đã sớm
hình thành và có vai trị nhất định ngay từ thời ngun thủy.
Ngay từ thời văn hóa Phùng Nguyên một nền văn hóa tiền sử thuộc sơ kì
thời đại đồ đồng, cuối thời đại đồ đá mới, cách đây gần 4000 đến 3500 năm
người ta đã tìm thấy nhiều cổ vật. Cư dân Phùng Nguyên đã biết chế tạo đồ gốm
đơn giản và đồ trang sức bằng đá bán q, đã có khn đúc đồng, rìu đá mài
nhỏ, vịm đá, hạt chuỗi đá, chuốt gọt tinh vi. Theo đánh giá của các nhà khảo cổ
học thì dân cư Phùng Nguyên là những người đã định cư ổn định và sống theo
từng cụm dân cư làng xã chặt chẽ và thực sự có những khu vực sản xuất thủ
công, mỹ nghệ. Người ta đã tìm thấy ở di chỉ Phùng Nguyên 1138 chiếc rìu, 59
đục, 3 giáo, 2 mũi nhọn, 7 mũi tên, 1 cưa, 189 bàn mài, 540 vòng tay, 8 khuyên
tai, 34 hạt chuỗi, 3 đồ trang sức và hàng chục vạn mảnh gốm.
Giai đoạn Đồng Đậu (giữa thời đại Đồng Thau) có khn đúc, rìu, mũi
tên bằng đồng có ngạnh,…
Sinh Viên: Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP

10

Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở Ninh Bình
(Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân)

Giai đoạn Gò Mun (thời đại Đồng Thau cường thịnh) vô số công cụ sinh
hoạt được đúc thau phát triển, đặc biệt dấu tích thời kì Đơng Sơn khẳng định
trống đồng Ngọc Lũ và thạp đồng Đào Thịnh (khai quật ở Yên Bái) đã chứng
minh trình độ thủ cơng của thời kì dựng nước thật tinh xảo, điều đó cho thấy
thời kì này đã có sự phân cơng lao động, tổ chức lao động.

Đến giai đoạn Lí, Trần, Lê nghề thủ công phát triển rực rỡ cực thịnh với
sự phát triển của nghề đồ gốm, sáng tạo ra nhiều loại men gốm đẹp, quý hiếm có
giá trị nghệ thuật cao. Cùng với đó là nhiều cơng trình kiến trúc nghệ thuật, cung
điện, cơng trình tơn giáo,…
Thời Lí tập trung nhiều thợ thủ công giỏi với nhiều sáng tạo độc đáo.
Thời Lí là thời đại phục hưng đất nước. Rất nhiều làng nghề phát triển như làng
thêu, làng mộc, làng điêu khắc,…Nhiều vùng đất thông thương, giao lưu với
nhau nên kinh tế phát triển. Thời Lí có nhiều nghệ nhân tài hoa với nhiều thành
tựu về nghề thủ công mỹ nghệ. Được như vậy là do thời Lí có chế độ công
tượng tập trung nhiều thợ giỏi về Thăng Long chuyên xây dựng chùa chiền,
cung điện, nhà nước chăm lo cho đời sống của thợ thủ công nên yên tâm sáng
tạo.
Văn hóa thời Trần là sự tiếp nối văn hóa thời Lí nhưng sang đến thời Trần
do chiến tranh liên miên nên nhân dân không thể an cư lạc nghiệp, thợ thủ cơng
ít có cơ hội sáng tạo, nghệ thuật sản xuất thủ công không thể phát triển mạnh
như thời Lí.
Đến thời Lê các nghề thủ cơng vẫn tiếp tục phát triển, có nhiều thợ thủ
cơng giỏi, các sản phẩm thủ công cũng đạt được đến độ tinh xảo. Đặc biệt là
nghệ thuật điêu khắc chạm lộng.
Thời Nguyễn do chiến tranh nhiều nên nền kinh tế suy sụp, nhân dân
không được sống yên ổn, các thợ thủ công giỏi khơng phát huy được vì vậy mà
thời này nghề thủ công không thể phát triển được.

Sinh Viên: Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP

11

Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở Ninh Bình
(Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân)

Từ khi thực dân Pháp xâm lược nghề thủ công một lần nữa tàn lụi, thực
dân Pháp đã biến Việt Nam thành thị trường tiêu thụ của chúng. Hàng hóa tư
bản Pháp như: đường, rượu, giấy, vải…Tràn ngập thị trường Việt Nam, giá rẻ,
chất lượng tốt lại nhiều mẫu mã mới nên phần lớn hàng thủ công của nước ta
không cạnh tranh được. Nhiều nghề thủ công đã bị phá sản như: kéo sợi, tơ lụa,
dệt vải,…Nhiều thợ thủ công phải bỏ nghề, tuy vậy một số nghề thủ cơng vẫn
phát triển vì máy móc tư bản khơng thể thay thế được bàn tay tài hoa khéo léo
của người nghệ nhân như các nghề mộc, gốm, khảm trai, mây tre đan,
thêu,…Vẫn phát triển ngoài ý muốn của thực dân Pháp.
Từ năm 1954 sau khi hịa bình lập lại, ngành thủ cơng nghiệp nước ta
bước sang thời kì mới, là giai đoạn được nhà nước khuyến khích, nhiều ngành
nghề thủ cơng được phát triển, có một số ngành nghề đã thất truyền nay được
khôi phục và tiếp tục phát triển. Cũng trong thời kì này đã bắt đầu có sự xuất
hiện của các nhóm và hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp mới được thành lập. Lúc
này không chỉ có “làng nghề” nữa mà cịn xuất hiện cả “hợp tác xã nghề thủ
công”. Và đến ngày mùng 6 tháng 6 năm 1961 đại hội đầu tiên của những người
thợ thủ cơng tồn miền Bắc được tổ chức, thơng qua điều lệ và bầu ban chủ
nhiệm trung ương lãnh đạo tồn ngành. Từ đó ngành tiểu thủ cơng nghiệp đã có
vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân.
Ngày nay khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển hiện đại hơn ngành
tiểu thủ công nghiệp vẫn đang có những đóng góp tích cực khơng nhỏ vào tổng
thể tăng trưởng chung của nền kinh tế. Các ngành nghề thủ cơng truyền thống
vẫn đang từng ngày từng giờ góp phần cải thiện đời sống nhân dân, góp phần
đắc lực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Lịch sử hình thành và phát triển
Làng nghề Việt Nam, làng nghề thủ công, làng nghề truyền thống, hoặc
làng nghề cổ truyền,…thường được gọi ngắn gọn là làng nghề, là những làng mà

Sinh Viên: Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP

12

Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở Ninh Bình
(Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân)

tại đó hầu hết dân cư tập trung vào làm một nghề duy nhất nào đó; nghề của họ
làm thường có tính chun sâu cao và mang lại nguồn thu nhập cho dân làng.
Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng năm trước
đây, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nơng thơn Việt Nam, việc
hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề ban đầu được cư dân tranh thủ
làm lúc nông nhà, những lúc không phải là mùa vụ chính.
Bởi lẽ trước đây kinh tế của người Việt cổ chủ yếu sống dựa vào việc
trồng lúa nước mà nghề làm lúa khơng phải lúc nào cũng có việc. Thông thường
chỉ những ngày đầu vụ, hay những ngày cuối vụ thì người nơng dân mới có việc
làm nhiều, vất vả như: cày bừa, cấy, làm cỏ (đầu vụ) cho đến gặt lúa, phơi
khơ…cịn những ngày cịn lại thì nhà nơng rất nhàn hạ, rất ít việc để làm. Từ đó
nhiều người đã bắt đầu tìm kiếm thêm cơng việc phụ để làm nhằm mục đích ban
đầu là cải thiện bữa ăn và những nhu cầu thiết yếu hàng ngày về sau là tăng
thêm thu nhập cho gia đình.
Theo thời gian, nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trị to lớn của nó,
mang lại lợi ích thiết thực cho cư dân. Như việc làm ra các đồ dùng bằng mây,
tre, lụa,…phục vụ sinh hoạt hay đồ sắt, đồ đồng phục vụ sản xuất. Nghề phụ từ
chỗ chỉ phục vụ nhu cầu riêng đã trở thành hàng hóa để trao đổi, đã mang lại lợi
ích kinh tế to lớn cho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ vào các vụ lúa. Từ
chỗ một vài nhà trong làng làm, nhiều gia đình khác cũng làm theo, nghề từ đó
mà lan rộng ra phát triển trong cả làng, hay nhiều làng gần nhau.
Và cũng chính nhờ những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem lại
mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa. Nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát

triển mạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp với
làng thì dần dần bị mai một. Từ đó bắt đầu hình thành nên những làng nghề
chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó, như làng gốm, làng làm chiếu, làng
làm lụa, làng làm đồ đồng,…

Sinh Viên: Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP

13

Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở Ninh Bình
(Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân)

Những phát hiện về khảo cổ học, những cứ liệu lịch sử đã chứng minh
được các làng nghề Việt Nam đã ra đời từ hàng ngàn năm trước đây, các làng
nghề thường tập trung chủ yếu ở các vùng châu thổ lớn như châu thổ sông
Hồng, tại Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định…
1.6. Tiểu kết
Du lịch làng nghề truyền thống là một loại hình du lịch văn hóa hấp dẫn,
góp phần làm phong phú cho sản phẩm du lịch. Đi du lịch làng nghề truyền
thống con người sẽ luôn được thư thái nghỉ ngơi đắm mình trong một khơng
gian mang đậm chất nơng thơn trong lành. Du lịch làng nghề truyền thống có vai
trị vơ cùng to lớn đối với các làng nghề, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông
thôn Việt Nam, cải thiện đời sống nhân dân Việt Nam tại các vùng nơng thơn
cịn lạc hậu. Các làng nghề truyền thống cũng có tác động tích cực trở lại hoạt
động du lịch. Các giá trị văn hóa tại các làng nghề truyền thống chính là hạt
nhân để khai thác phục vụ cho hoạt động du lịch phát triển sản phẩm độc đáo.
Trong tương lai du lịch làng nghề truyền thống sẽ ngày càng phát triển mạnh mẽ
hơn nữa để đáp ứng nhu cầu đi du lịch ngày càng cao của khách du lịch trong và
ngoài nước. Tuy nhiên phát triển du lịch làng nghề truyền thống phải có quy

hoạch tổng thể, theo hướng phát triển du lịch bền vững, khai thác đi đơi với bảo
tồn mơi trường văn hóa xã hội, mơi trường tự nhiên để không làm mai một đi
các giá trị văn hóa, giữ cho mơi trường tự nhiên trong sạch, mơi trường xã hội
ổn định, văn minh. Bởi vì làng nghề truyền thống là sự kết tinh những nét đẹp
dân tộc thuần phác, chứa đựng cả suy nghĩ, tình cảm lối sống ông cha ngàn đời
truyền lại.

Sinh Viên: Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP

14

Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở Ninh Bình
(Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân)

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TỈNH
NINH BÌNH
2.1. Tiềm năng du lịch Ninh Bình
“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”.
Ninh bình là vùng đất “địa linh” nên thời nào cũng sản sinh ra “nhân
kiệt”. Ninh Bình là vùng đất giàu tiềm năng du lịch, nơi có nhiều các tài nguyên
du lịch tự nhiên được biết đến với khu Tam Cốc- Bích Động được ví như “Hạ
Long trên cạn”. Hay tài nguyên du lịch nhân văn như : Đền thờ hai vị vua Đinh
Tiên Hoàng và Lê Đại Hành, được biết mới đây nhất là khu tâm linh chùa Bái
Đính- ngơi chùa đạt được nhiều kỷ lục Việt Nam.
*Vị trí địa lý:
Ninh Bình là tỉnh ở cực nam của đồng bằng bắc bộ, có ba đường quốc lộ
chính (1A, 10, 12A) và đường sắt xuyên Bắc- Nam chạy qua, tạo cho Ninh Bình
là cầu nối giữa hai miền nam bắc, giữa các tỉnh miền núi Tây Bắc với các tỉnh

miền xuôi, giữa các tỉnh duyên hải Bắc Bộ với Hải Phòng. Nằm ở cực Nam của
đồng bằng châu thổ sông Hồng, Ninh Bình là một cửa ngõ từ miền Bắc vào
miền Trung và miền Nam đất nước, được bao bọc bởi những dãy núi đá vôi, tạo
nên nhiều danh lam thắng cảnh kì thú với những dịng sơng thơ mộng, những hồ
nước mênh mơng, tất cả như đang thầm thì câu chuyện muôn đời của non nước.
Nơi đây vừa là gạch nối, vừa là ngã ba của ba nền văn hóa lớn: sơng Hồng- sơng
Mã- Hịa Bình.
Tỉnh Ninh Bình nằm ở cực Nam đồng bằng Bắc bộ, có tọa độ địa lý 190
50′ đến 200 27′ vĩ độ Bắc, 1050 32′ đến 1060 27′ kinh độ Đông, cách thủ đô Hà
Nội 93km về phía Nam. Dãy núi Tam Điệp chạy theo hướng Tây Bắc- Đông
Nam, làm ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa. Phía Đơng

Sinh Viên: Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP

15

Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở Ninh Bình
(Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân)

và Đơng Bắc có sơng Đáy bao quanh, là ranh giới tự nhiên với hai tỉnh Hà Nam
và Nam Định, phía Bắc là tỉnh Hịa Bình, phía Nam là biển Đơng.
Ninh Bình có diện tích tự nhiên 1.389,1km2, với chiều dài bờ biển 18km,
dân số 936.262 người. Toàn tỉnh có 62.000ha đất sản xuất nơng nghiệp, trong đó
đất canh tác 47.000ha; đất lâm nghiệp có rừng 29.000ha và trên 6.000ha diện
tích đất đồi, núi đá.
Ninh Bình có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi tiếp nối giao lưu kinh tế
và văn hóa giữa lưu vực sơng Hồng với lưu vực sông Mã, giữa vùng đồng bằng
Bắc bộ với vùng núi Tây Bắc của Tổ quốc. Trên địa bàn tỉnh có Quốc lộ 1A,
Quốc lộ 10; 12A, 12B và đường sắt Bắc – Nam chạy qua cùng hệ thống sơng

ngịi dày đặc như: sơng Đáy, sơng Hồng Long, sông Càn, sông Vạc, sông
Vân,…tạo thành mạng lưới giao thông thủy, bộ rất thuận tiện cho giao lưu, phát
triển kinh tế trong và ngồi tỉnh.
Trên bình diện tổng thể về kinh tế, Ninh Bình nằm gần địa bàn kinh tế
trọng điểm phía Bắc với tuyến hành lang Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh. Và
về lĩnh vực du lịch, tỉnh Ninh Bình cũng ở liền kề tam giác tăng trưởng du lịch
Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh, sự phát triển du lịch Ninh Bình nằm trong
tổng thể phát triển du lịch của cả nước sẽ tạo đà hình thành một tứ giác tăng
trưởng du lịch mới: Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh- Ninh Bình qua quốc lộ
1A, quốc lộ 10 và các sân bay Cát Bi, hệ thống cảng biển, cảng sơng đáp ứng
nhu cầu vận chuyển khách đến Ninh Bình.
Thủ đô Hà Nội là điểm đến, là một trong những đầu mối du lịch Việt
Nam. Ninh Bình cách thủ đơ Hà Nội 93km, có ưu thế rõ rệt về nhiều mặt, có ưu
thế về vùng phụ cận, khơng gian và thời gian nên khơng bị tính mùa vụ trong du
lịch. Sức ép đô thị mạnh mẽ của Hà Nội và các vùng phụ cận (như Bắc Ninh,
Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc…) đang tạo cho Ninh Bình một lợi thế: du
lịch cuối tuần. Ninh Bình như một điểm mới đầy tiềm năng phát triển.
*Tiềm năng du lịch
Sinh Viên: Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP

16

Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở Ninh Bình
(Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân)

Tài nguyên du lịch của Ninh Bình (tự nhiên, nhân văn) tương đối phong
phú, đa dạng bao gồm cả núi, hồ, rừng, các di tích lịch sử văn hóa nổi
tiếng,…Đây là một lợi thế quan trọng, tạo tiền đề phát triển nhiều loại hình du
lịch, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành du lịch Ninh Bình trong những

năm tới.
Tài nguyên du lịch Ninh Bình được phân bố tương đối tập trung ở một
số khu vực chính như: Hoa Lư, Gia Viễn, Nho Quan, Phát Diệm,… và mới đây
nhất là khu du lịch sinh thái Tràng An. Những khu vực này có sự kết hợp giữa
tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn. Đây là đặc điểm thuận lợi cho
việc hình thành những khu du lịch trọng điểm, có sức hấp dẫn thu hút du khách
trong và ngồi nước.
Với vị trí địa lý thuận lợi tạo cho Ninh Bình dồi dào cả về tài nguyên du
lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Ninh Bình nổi tiếng với nhiều hang
động kỳ thú như: Tam Cốc, Bích Động, động Thiên Tơn, động Hoa Sơn, động
Bàn Long, động Tam Giao, động Mã Tiên…Bích Động thời phong kiến đã được
mệnh danh là “Nam thiên đệ nhị động” (động đẹp thứ nhì dưới trời Nam, sau
Hương Tích- Hà Tây). Địch Lộng là “Nam thiên đệ tam động” (động đẹp thứ ba
dưới trời Nam). Ở phía nam thành phố Ninh Bình có quả núi giống hình một
cánh diều bay gọi là núi Cánh Diều, lại có hình như một người thiếu nữ nằm
ngửa nhìn trời gọi là Ngọc Mỹ Nhân (người con gái đẹp như ngọc). Đất Ninh
Bình khơng chỉ là “địa linh” mà còn là nơi “nhân kiệt”. “Địa linh” ấy đã tạo nên
những “nhân kiệt” như anh hùng dân tộc Đinh Bộ Lĩnh, các danh tướng Đinh
Điền,Nguyễn Bặc,Trịnh Tú, Lưu Cơ, hoàng hậu Dương Vân Nga, Quốc sư
Nguyễn Minh Khơng, nhà thơ Trương Hán Siêu…cịn biết bao danh tướng, danh
nhân, danh sỹ sinh ra trên dải đất này! Thời nào Ninh Bình cũng có nhân tài.
Ninh Bình là vùng đất có nhiều di tích, danh lam thắng cảnh nổi tiếng của
đất nước, hòa quyện cùng bản sắc văn hóa, tạo cho tỉnh Ninh Bình các thế mạnh
để phát triển du lịch. Tiêu biểu như Cố đô Hoa Lư, vùng đất là kinh đô nước Đại
Sinh Viên: Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP

17

Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở Ninh Bình

(Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân)

Việt thế kỷ thứ 10- nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên của nước ta gắn liền
với ba vương triều: Đinh- Tiền Lê- Lý, với ba vị anh hùng dân tộc: Vua Đinh
Tiên Hoàng, Vua Lê Đại Hành, Vua Lý Thái Tổ.
Xung quanh vùng đất Cố đô Hoa Lư cịn có những di tích, những danh
lam thắng cảnh thơ mộng, hấp dẫn đó là khu Tam Cốc- Bích Động được mệnh
danh là “vịnh Hạ Long trên cạn” của Việt Nam. Tam Cốc đẹp nổi tiếng và Bích
Động được mệnh danh là “Nam thiên đệ nhị động”. Đền Thái Vi là nơi in đậm
dấu tích của hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, nơi thờ bốn đời vua nhà
Trần. Cách đó khơng xa, khu hang động sinh thái Tràng An, nơi hội tụ nhiều
nhất các động nước trên diện tích hàng ngàn hec-ta, với 31 thung, 50 hang động
xuyên thủy, có phủ Khống, phủ Đột, đền Nội Lâm nổi tiếng. Chùa Bái Đính,
ngơi chùa lớn nhất ở nước ta, có diện tích 700ha với vẻ đẹp hồnh tráng của
chùa Tam Thế. Chùa Bái Đính đã được trung tâm sách kỷ lục Việt Nam cấp
bằng xác nhận kỷ lục: “Đại hội đồng chuông lớn nhất Việt Nam” (phá kỷ lục
Việt Nam- quả chuông nặng 36 tấn), “Pho tượng phật Thích Ca bằng đồng cao
và nặng nhất Việt Nam” (pho tượng đồng nặng 100 tấn); “Ngơi chùa có bộ
tượng Tam Thế bằng đồng lớn nhất Việt Nam” (mỗi pho tượng nặng 50 tấn);
“ngơi chùa có giếng lớn nhất Việt Nam” (giếng Ngọc có đường kính gần 30m).
Tỉnh Ninh Bình có hơn 800 di tích các loại đã được kiểm kê, 78 di tích
lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh được xếp hạng cấp quốc gia và 99 di
tích được xếp hạng cấp tỉnh. Con số đó phản ánh sự phong phú của di sản, là
tiềm năng, tài nguyên du lịch, điển hình như đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng ở xã
Gia Phương, đền thờ Trương Hán Siêu, đền thờ Nguyễn Cơng Trứ, nhà thờ đá
Phát Diệm,…
Ninh Bình cũng là nơi cịn lưu giữ nhiều nghề thủ cơng truyền thống,
trong thời kì kinh tế du lịch phát triển thì đây là những sản phẩm có giá trị cao
để phát triển dịch vụ du lịch. Tiêu điểm như làng nghề chạm khắc đá Ninh Vân,
thêu ren Văn Lâm, mỹ nghệ cói Kim Sơn.

Sinh Viên: Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP

18

Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở Ninh Bình
(Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân)

Về lễ hội, Ninh Bình cũng là tỉnh có nhiều tiềm năng. Theo thống kê cả
tỉnh có 74 lễ hội truyền thống và nhiều hội làng mang đậm yếu tố dân gian, đậm
đà văn hóa vùng châu thổ sông Hồng. Những lễ hội lớn như lễ hội Trường Yên,
lễ hội đền Thái Vi, lẽ hội chùa Bái Đính,…
Về văn hóa ẩm thực, từ lâu, Ninh Bình đã nổi tiếng với bún mọc Kim
Sơn, rượu Lai Thành, tái dê, ngọc dương tửu, cá rô tổng Trường (Hoa Lư), nem
chua Yên Mạc, cá chuối nướng Vân Long, nhất hưởng thiên kim (cơm cháy),
rượu cần Nho Quan…Các món ăn đặc sản trên cũng là tài nguyên du lịch có giá trị.
Có thể nói, trên phạm vi cả nước, ít có địa phương nào có được những lợi
thế về du lịch như Ninh Bình. Ninh Bình tự hào có Vân Long- khu bảo tồn thiên
nhiên sinh thái đất ngập nước lớn nhất đồng bằng Bắc bộ với hơn 30 loài động
vật và thực vật quý hiếm ghi vào sách đỏ Việt Nam. Dục Thúy Sơn (núi Non
Nước) còn được mệnh danh là “núi thơ”- có lẽ khơng có ngọn núi nào trên đất
nước ta lại được khắc nhiều thơ như vậy. Hay vườn quốc gia Cúc Phương- vườn
quốc gia đầu tiên của Việt Nam, đây là một bảo tàng thiên nhiên rộng lớn; một
vườn bách thảo, bách thú ngoạn mục; có cây chị ngàn năm tuổi; có động người
xưa, nơi sinh sống của người Việt cổ. Rồi suối khoáng Kênh Gà, nơi có mỏ
nước khống q mang nhiều giá trị y học đang được đầu tư khai thác phục vụ
việc chăm sóc sức khỏe của con người…Tất cả những giá trị đặc sắc ấy đang
hiện hữu tại Ninh Bình và nó trở thành những điểm nhấn của du lịch Ninh bình,
tạo nên một Ninh Bình non nước hữu tình.
Với tài nguyên du lịch đa dạng và phong phú, Ninh Bình có nhiều tiềm

năng để phát triển các loại hình du lịch tham quan nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái,
du lịch văn hóa- tín ngưỡng tâm linh, du lịch thể thao mạo hiểm, du lịch vui chơi
giải trí, du lịch khảo cứu và sưu tầm, du lịch hội nghị, hội thảo…
Hiện nay, Ninh Bình có 7 khu du lịch chính là : khu du lịch sinh thái
Tràng An- Tam Cốc Bích Động- Cố đô Hoa Lư; khu du lịch trung tâm thành
phố Ninh Bình, khu du lịch vườn quốc gia Cúc Phương- Kỳ Phú- hồ Đồng
Sinh Viên: Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP

19

Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở Ninh Bình
(Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân)

Chương; khu du lịch suối nước nóng Kênh Gà- động Vân Trình- khu bảo tồn đất
ngập nước Vân Long- chùa Địch Lộng- động Hoa Lư; khu du lịch thị xã Tam
Điệp- phòng tuyến Tam Điệp- Biện Sơn; khu du lịch hồ Yên Thắng- hồ Đồng
Thái- động Mã Tiên; khu du lịch vùng ven biển Kim Sơn.
Với vị trí địa lý thuận lợi và giàu tiềm năng tài nguyên du lịch, cùng với
những chính sách phù hợp với cơ chế mở cửa, hội nhập, tiềm năng du lịch Ninh
Bình đang được đánh thức để trở thành nguồn lực quan trọng cho sự phát triển
trong thời kỳ mới, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế của tỉnh và
sự phát triển du lịch của cả nước.
2.2. Làng nghề truyền thống tỉnh Ninh Bình
2.2.1. Quá trình hình thành các làng nghề truyền thống Ninh Bình
Giống như nhiều tỉnh ở đồng bằng sông Hồng, trong lịch sử phát triển
kinh tế của Ninh Bình, bên cạnh các hoạt động nơng nghiệp truyền thống các
ngành nghề tiểu thủ công nghiệp cũng được hình thành và phát triển từ rất sớm.
Từ thế kỉ thứ IX, X ở Ninh Bình đã có các nghề thủ cơng khá phát triển như sản
xuất gạch, ngói trang trí, chế tác xây dựng, sản xuất bát đĩa và đồ gốm sứ tráng

men, nghề rèn, mộc, đúc đồng, đan lát, chạm khắc đá mỹ nghệ,…Thế kỉ XIII đã
có các nghề dệt lụa, thêu ren với các sản phẩm thủ công tinh xảo, độc đáo. Một
số nghề và làng nghề thủ công từ xưa đã nổi tiếng như: chạm khắc đá mỹ nghệ ở
Ninh Vân, thêu ren Văn Lâm- Ninh Hải, dệt lụa ở La Mai, Tri Hối, nghề mộc ở
Phúc Lộc (Ninh Phong- Hoa Lư), nghề dệt ở Nộn Khê, nghề mộc Cơi Trì (huyện
n Mơ), đan cót ở Gia Tân, đan thuyền ở Gia Trung, Gia Tiến; sản xuất gạch
ngói trang trí ở Trường n ( huyện Hoa Lư),…
Cho đến thế kỉ XIX, các ngành nghề thủ cơng ở Ninh Bình đã phát triển
khá đa dạng của các nghề đan lát ( nong, nia, rổ, rá, thúng, mủng, đan mành, đan
rèm, két võng,…), các nghề sản xuất nông cụ (cày, bừa, cuốc, thuổng, liềm hái,
bện dây thừng, đan lưới, vó, nơm, riu, gầu tát nước, đóng cối xay thóc), sản xuất
chum, vại, chạm khắc gỗ, làm hàng mã và đồ thờ cúng; các nghề thợ mộc, thợ
Sinh Viên: Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP

20

Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở Ninh Bình
(Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân)

xây, chế biến nông sản, thực phẩm (làm bún, bánh, bánh đa, miến dong, nấu
đường mật, sản xuất nước mắm,…). Đặc biệt là có sự phát triển mạnh của các
nghề kéo sợi, dệt vải, xe đay, làm hàng chiếu, cói.
Đến thời Pháp thuộc, nhất là cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, các ngành
nghề thủ công ở Ninh Bình vẫn tiếp tục phát triển. Nhiều mặt hàng thủ cơng đã
trở thành hàng hóa được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường trong cả nước. Một số
ngành nghề mới được hình thành như may mặc, sản xuất bánh kẹo, làm hàng
sáo, kéo sợi bông, gai, ép dầu thầu dầu,…Vào những năm 1930, vùng Kim Sơn
và các xã phía nam của huyện Yên Khánh đã trở thành trung tâm của các mặt
hàng chiếu, cói, với nhiều làng nghề chuyên về các mặt hàng này như: Phụng

Công, Quyết Trung, Bồng Hải (tổng Bồng Hải huyện Yên Khánh), các làng
Dưỡng Điềm (tổng Hồi Thuận), Dũng Thúy, Như Sơn (tổng Chất Thành), Đồng
Đắc, Thủ Trung, Hướng Đạo, Trì Chính, Vĩnh Hạ (tổng Tự Tân) huyện Kim
Sơn…Các mặt hàng chiếu, cói ở đây được bán cả Nam Định, Phủ Lý, Hà Nội và
được các nhà buôn mang lên tận các tỉnh trung du miền núi như Hịa Bình, Lạng
Sơn, Bắc Giang, Phú Thọ…
Thời Pháp thuộc, ở Ninh Bình bắt đầu có sự xuất hiện một số cơ sở công
nghiệp của các chủ người Pháp và người Việt như: cơ sở phát điện ở thị xã Ninh
Bình, xí nghiệp khai thác than đá ở Đầm Đùn (huyện Nho Quan), các cơ sở khai
thác đá, khai thác than nâu ở Đồng Giao (thị xã Tam Điệp), khai thác đá ở Hệ
Dưỡng (huyện Hoa Lư), xưởng nung vơi Đinh Tráng, Đinh Hịe ở thị xã Ninh
Bình, một số xưởng sản xuất gạch, ngói ở n Mơ, các xưởng chiếu cói Lâm tề,
Xương Lợi, Hai Vỡi ở Kim sơn,…Một số đồn điền của người Pháp ở Nho Quan,
Tam Điệp có các cơ sở sản xuất cà phê, chè, ép dầu. Đến những năm đầu của thế
kỉ XX, cơ sở khai thác than đá ở Đầm Đùn của người Pháp đã khai thác ở mỏ
này 600- 700 nghìn tấn; cơ sở khai thác than nâu ở Đồng Giao, từ nam 1905 đến
năm 1938, đã khai thác trên 150 nghìn tấn. Những năm 1930, xưởng cói Xương
Lợi ở Phát Diệm huyện Kim Sơn có tới 300 cơng nhân sản xuất.
Sinh Viên: Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP

21

Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đối với vấn đề phát triển du lịch ở Ninh Bình
(Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng: Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân)

Tuy vậy, cho đến trước cách mạng tháng 8 năm 1945, hầu hết các cơ sở ở
Ninh bình vẫn chỉ là các xưởng có quy mơ sản xuất nhỏ, công nghiệp sản xuất
thủ công, dựa chủ yếu vào bóc lột sức lao động của nhân cơng. Và khi cách
mạng tháng 8 thành cơng ở Ninh Bình (ngày 24/8/1945), thì hầu hết các cơ sở

cơng nghiệp của người Pháp và nhiều cơ sở của các chủ người Việt đã khơng
cịn hoạt động.
Sau cách mạng tháng 8, cùng với việc xây dựng nền kinh tế mới, chính
quyền cách mạng và nhân dân Ninh bình cũng bắt đầu quá trình xây dựng và
phát triển nền công nghiệp của tỉnh. Để phục vụ sản xuất và đời sống của nhân
dân, đồng thời chuẩn bị cho công cuộc kháng chiến kiến quốc, tỉnh đã chú trọng
đến phát triển tiểu thủ công nghiệp, phục hồi một số cơ sở công nghiệp như: nhà
máy điện và các xưởng sản xuất bánh kẹo ở thị xã Ninh bình; mỏ than Đầm
Đùn, các xưởng dệt, xưởng sản xuất thuốc lá ở Nho Quan, sản xuất đá ở Hệ
dưỡng (Hoa Lư), sản xuất gạch ở Yên Từ (huyện n Mơ); các xưởng dệt
chiếu, cói ở n Khánh, Kim Sơn,…Cũng trong thời gian này, nhiều cơ sở công
nghiệp mới được hình thành như: mỏ than Quyết Thắng ở Nho Quan; xưởng
giấy ở Lũ Đồng, Lê Xá, xưởng may mặc ở thị trấn Me (huyện Gia Viễn); xí
nghiệp in, xí nghiệp dược ở Hoa Lư; các xưởng quân giới quân khu III (ở động
Bàn Long, Trung Trữ, Trường Yên), xưởng quân giới quân khu IV (ở Nho
Quan), phân xưởng sản xuất quân giới của bộ quốc phòng, xưởng quân giới của
tỉnh và hàng chục xưởng cơ khí nhỏ sản xuất nông cụ thuyền sắt và phương tiện
vận tải ở huyện Nho Quan, Yên Khánh, Yên Mô,…Mặc dù phần lớn các cơ sở
cơng nghiệp mới được thành lập có quy mơ nhỏ, điều kiện sản xuất cịn nhiều
khó khăn song đã có những đóng góp quan trọng phục vụ đời sống, sản xuất của
nhân dân và phục vụ cho công cuộc kháng chiến.
Đầu những năm 1950, khi chiến sự ở Ninh Bình ngày một lan rộng và
trở nên quyết liệt gây khó khăn trở ngại lớn cho các cở sở cơng nghiệp, tiểu thủ
cơng nghiệp và các cơ sở nói chung trên địa bàn tỉnh, song nhiều cơ sở công
Sinh Viên: Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP

22

PHẦN MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………….. 11. Lí do chọn đề tài ………………………………………………………………………………………………….. 12. Mục đích và trách nhiệm của đề tài : ………………………………………………………………………. 23. Phương pháp nghiên cứu và điều tra …………………………………………………………………………………….. 34. Phạm vi nghiên cứu và điều tra …………………………………………………………………………………………….. 35. Bố cục ……………………………………………………………………………………………………………….. 3CH ƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ VÀ LÀNG NGHỀTRUYỀN THỐNG NINH BÌNH ……………………………………………………………………….. 41.1. Làng nghề và làng nghề truyền thống ………………………………………………………… 41.1.1. Khái niệm làng nghề …………………………………………………………………………………….. 41.1.2. Khái niệm làng nghề truyền thống ………………………………………………………………. 51.2. Du lịch làng nghề truyền thống …………………………………………………………………… 61.3. Điều kiện tăng trưởng du lịch làng nghề truyền thống ……………………………….. 71.4. Mối quan hệ giữa việc tăng trưởng du lịch và những làng nghề truyền thống 81.5. Làng nghề truyền thống Nước Ta ……………………………………………………………. 101.6. Tiểu kết ………………………………………………………………………………………………………….. 14CH ƢƠNG 2 : THỰC TRẠNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TỈNHNINH BÌNH …………………………………………………………………………………………………………. 152.1. Tiềm năng du lịch Tỉnh Ninh Bình …………………………………………………………………….. 152.2. Làng nghề truyền thống tỉnh Tỉnh Ninh Bình ………………………………………………….. 202.2.1. Quá trình hình thành những làng nghề truyền thống Tỉnh Ninh Bình …………………… 202.2.2. Giới thiệu chung về làng nghề truyền thống Tỉnh Ninh Bình …………………………… 232.2.3. Thực trạng tăng trưởng làng nghề và du lịch làng nghề truyền thống NinhBình ………………………………………………………………………………………………. 252.2.4. Các tiêu chuẩn nhìn nhận chung : ……………………………………………………………………… 292.3. Thực trạng làng nghề và du lịch tại những làng nghề tiêu biểu vượt trội …………………. 312.3.1. Làng mỹ nghệ cói Kim Sơn : ………………………………………………………………………. 312.3.2. Làng thêu ren Văn Lâm – Ninh Hải ……………………………………………………………. 392.3.3. Làng chạm khắc đá Ninh Vân ……………………………………………………………………. 482.4. Nhận xét chung …………………………………………………………………………………………….. 56CH ƢƠNG 3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀTRUYỀN THỐNG NINH BÌNH ……………………………………………………………………… 583.1. Mục tiêu và định hƣớng tăng trưởng …………………………………………………………… 583.1.1. Định Hướng ………………………………………………………………………………………………… 583.1.2. Mục Tiêu …………………………………………………………………………………………………….. 593.1.3. Chỉ tiêu đơn cử …………………………………………………………………………………………….. 593.2. Định hƣớng chung về tăng trưởng làng nghề và du lịch làng nghề truyềnthống Tỉnh Ninh Bình ……………………………………………………………………………………. 603.2.1. Đẩy mạnh công tác làm việc bảo tồn làng nghề truyền thống ………………………………… 603.2.2. Đầu tư thiết kế xây dựng tăng trưởng làng nghề và du lịch làng nghề truyền thốngNinh Bình ……………………………………………………………………………………………………………… 613.2.3. Đầu tư để thiết kế xây dựng, tái tạo, tăng cấp mạng lưới hệ thống hạ tầng, cơ sở vậtchất kĩ thuật Giao hàng tăng trưởng làng nghề và du lịch làng nghề ………………………… 613.2.4. Đa dạng hóa mẫu sản phẩm du lịch làng nghề ………………………………………………….. 623.2.5. Tăng cường hoạt động giải trí tiếp thị, quảng cáo cho du lịch làng nghề truyềnthống ……………………………………………………………………………………………………………… 633.2.6. Phát triển nguồn nhân lực tại những làng nghề truyền thống ……………………….. 653.3. Giải pháp chung cho những làng nghề …………………………………………………………… 66K ẾT LUẬN ………………………………………………………………………………………….. 711. Kết luận2. Kiến nghịTÀI LIỆU THAM KHẢOPHỤ LỤCPhiếu tìm hiểu về tính mê hoặc của làng nghề so với khách du lịchKhoảng cách từ những làng nghề đến TT cung ứng kháchMột số chương trình du lịch mê hoặc du kháchĐề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa so với yếu tố tăng trưởng du lịch ở Tỉnh Ninh Bình ( Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng : Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân ) PHẦN MỞ ĐẦU1. Lí do chọn đề tàiViệt Nam là một quốc gia nhiệt đới gió mùa khí hậu ơn hòa, con người chất phác, vạn vật thiên nhiên khuyễn mãi thêm với nhiều loài động thực vật quý phong phú về chủng loại, nhiều mẫu mã về số lượng. Nền kinh tế tài chính nước ta hầu hết là sản xuất nơng nghiệp, cưdân Nước Ta có nhiều thời hạn rảnh rỗi ngồi thời vụ chính. Vốn chịu khó chịuthương chịu khó và có đơi bàn tay tài hoa, ngay từ thời xưa người việt cổ đã biếttận dụng những nguyên vật liệu sẵn có ấy để tạo ra nhiều mẫu sản phẩm thủ cơng có giátrị sử dụng cao, mang đậm tính thẩm mỹ và nghệ thuật phục vục cho đời sống hàng ngày. Trong khi nền kinh tế tài chính xã hội ngày càng tăng trưởng thì nhu yếu về sản phẩmthủ cơng ngày càng cao, nhu yếu những loại sản phẩm đó Chi tiêu tương thích, bền, đẹp lạikhông gây công dụng phụ cho con người, thân thiện với mơi trường. Vì vậy đã córất nhiều người chuyển sang làm nghề thủ cơng, họ truyền nghề cho nhau dầndần hình thành những làng nghề. Làng nghề chính là một nét đặc trưng của nôngthôn Nước Ta. Khắp mọi miền trên tổ quốc đâu đâu cũng có làng nghề thủcơng, mỗi làng nghề lại sản xuất 1 sản phẩm thủ công bằng tay truyền thống khác nhau, mang tính đơn nhất. Ta hoàn toàn có thể kể ra đây những làng nghề nổi tiếng như : Lànggốm Bát Tràng ( TP. Hà Nội ) ; làng gốm Chu Đậu, làng thêu Xuân Nẻo ( Thành Phố Hải Dương ) ; làng tranh Đông Hồ, làng gỗ Đồng Kị ( Thành Phố Bắc Ninh ), … Du khách đến với Tỉnh Ninh Bình khơng chỉ biết đến những địa điểm du lịch nổitiếng như : khu du lịch sinh thái xanh Tràng An, Tam Cốc – Bích Động, nhà thời thánh đáPhát Diệm … mà cịn biết đến 1 số ít làng nghề thủ cơng truyền thống nổi tiếngnhư : làng thêu ren Văn Lâm – Ninh Hải, chế tác cói Kim Sơn, chế tác đá mỹnghệ Ninh Vân, nghề mộc Ninh Phong, nem chua Yên Mạc, … Tỉnh Ninh Bình là một tỉnh khơng nhiều làng nghề như Thành Phố Hà Nội hay BắcNinh … Nhưng làng nghề ở đây mang một phong thái riêng. Theo thống kê củasở văn hóa truyền thống thể thao du lịch Tỉnh Ninh Bình thì tỉnh có toàn bộ 60 làng nghề, trong đó có36 làng nghề được ủy ban nhân dân tỉnh công nhận là làng nghề thủ công bằng tay truyềnSinh Viên : Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHPĐề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa so với yếu tố tăng trưởng du lịch ở Tỉnh Ninh Bình ( Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng : Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân ) thống. Sản phẩm thủ công bằng tay truyền thống của Tỉnh Ninh Bình phong phú về mẫu mã vàphong phú về chủng loại. Đó là những loại sản phẩm độc lạ có một khơng hai của những làng nghề : Chế táccói Kim Sơn ; thêu ren Văn Lâm ; chế tác đá Ninh Vân ; nghề mộc ở NinhPhong … Bên cạnh đó Tỉnh Ninh Bình có vị trí địa lý thuận tiện, về địa hình hoàn toàn có thể xemNinh Bình tựa như một “ Miền Bắc Nước Ta thu nhỏ ”. Bởi vì địa phận tỉnh cóhầu hết những vùng : đồi núi, bán sơn địa, đồng bằng, duyên hải và biển. Sự phongphú phong phú về địa hình là cơ sở, điều kiện kèm theo để hình thành, tăng trưởng cả một hệthống “ Địa kinh tế tài chính ” và “ Địa văn hóa truyền thống ” từ truyền kiếp, tạo nên vị thế địa quan trọng vàđặc biệt cho sự tăng trưởng những làng nghề thủ công bằng tay truyền thống. Xuất phát từ những lí do trên tơi đã lựa chọn và thiết kế xây dựng đề tài : “ Làngnghề truyền thống và ý nghĩa so với yếu tố tăng trưởng du lịch ở tỉnh NinhBình ” nhằm mục đích tìm hiểu và khám phá về những làng nghề truyền thống ở Tỉnh Ninh Bình, phản ánh thựctrạng sản xuất hàng bằng tay thủ công ở những làng nghề và ý nghĩa so với việc phát triểndu lịch, nhìn nhận tiềm năng tăng trưởng du lịch của làng nghề để từ đó đưa ra cácgiải pháp nhằm mục đích bảo tồn, duy trì và tăng trưởng những làng nghề truyền thống, dựavào những lợi thế có sẵn để tăng trưởng du lịch làng nghề truyền thống Tỉnh Ninh Bình. 2. Mục đích và trách nhiệm của đề tài : a. Mục đích – Lựa chọn và thiết kế xây dựng đề tài : “ Làng nghề truyền thống và ý nghĩa đốivới yếu tố tăng trưởng du lịch ở tỉnh Tỉnh Ninh Bình ” người viết nhằm mục đích mục tiêu tơnvinh những giá trị và vai trị của làng nghề truyền thống, nét tinh hoa văn hóacủa dân tộc bản địa. – Phản ánh chân thực và khách quan về tình hình hoạt động giải trí sản xuất thủcông và tăng trưởng du lịch làng nghề truyền thống ở Tỉnh Ninh Bình. Tìm ra những giải pháp nhằm mục đích bảo tồn và thôi thúc những làng nghề pháttriển, tăng cường hoạt động giải trí du lịch của làng nghề truyền thống Tỉnh Ninh Bình trongthời gian tới. Sinh Viên : Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHPĐề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa so với yếu tố tăng trưởng du lịch ở Tỉnh Ninh Bình ( Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng : Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân ) b. Nhiệm vụ – Tổng quan những yếu tố về làng nghề truyền thống Nước Ta và du lịchlàng nghề truyền thống. – Chọn lọc những chiêu thức nhìn nhận tài nguyên du lịch làng nghề để ápdụng nhìn nhận làng nghề truyền thống ở Tỉnh Ninh Bình. – Trên cơ sở đó thấy được tình hình, tiềm năng du lịch làng nghề truyềnthống và đưa ra những giải pháp nhằm mục đích thôi thúc sự tăng trưởng của du lịch làng nghềtruyền thống ở Tỉnh Ninh Bình. 3. Phƣơng pháp nghiên cứuNghiên cứu và thiết kế xây dựng đề tài là một nghiên cứu và điều tra khoa học đòi hỏi chínhxác cao, phải dựa trên một cơ sở lí luận nhất định. Để thiết kế xây dựng và hoàn thànhđề tài người viết đã dựa trên những giải pháp nghiên cứu và điều tra sau : – Phương pháp khảo sát thực địa và tích lũy tài liệu – Phương pháp map, biểu đồ – Phương pháp thống kê nghiên cứu và phân tích tổng hợp4. Phạm vi điều tra và nghiên cứu – Nghiên cứu những nét cơ bản chung về 60 làng nghề và 36 làng nghề truyền thống. – Nghiên cứu về ba làng nghề ( chiếu cói Kim Sơn, thêu ren Văn Lâm, chế tác đámỹ nghệ Ninh Vân ) có những loại sản phẩm mang không thiếu nét văn hóa truyền thống truyền thốngvà năng lực Giao hàng khai thác du lịch. – Khảo sát, nêu thuật, nghiên cứu và phân tích loại sản phẩm của ba làng. 5. Bố cụcNgồi phần mở màn, Kết luận, tài liệu tìm hiểu thêm, phục lục khóa luận đượcchia làm 3 chương : – Chương I : Cơ sở lí luận về làng nghề truyền thống và du lịch làng nghềtruyền thống. – Chương II : Thực trạng làng nghề truyền thống Tỉnh Ninh Bình. – Chương III : Một số giải pháp tăng trưởng du lịch làng nghề truyền thốngNinh Bình. Sinh Viên : Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHPĐề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa so với yếu tố tăng trưởng du lịch ở Tỉnh Ninh Bình ( Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng : Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân ) CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ VÀ LÀNG NGHỀTRUYỀN THỐNG NINH BÌNH1. 1. Làng nghề và làng nghề truyền thống1. 1.1. Khái niệm làng nghềTừ rất lâu rồi do đặc trưng nền sản xuất nơng nghiệp địi hỏi phải có nhiều laođộng tham gia đã khiến dân cư Việt cổ sống quần tụ lại với nhau thành từng cụmdân cư đơng đúc, dần hình thành nên làng xã. Trong từng làng xã đã có cư dânsản xuất những mẫu sản phẩm thủ công bằng tay, lâu dần Viral ra cả làng, xã tạo nên nhữnglàng nghề và truyền nghề từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đề tài làng nghề truyềnthống là đề tài rất mê hoặc, đã có rất nhiều nhà văn hóa điều tra và nghiên cứu về đề tài này. Theo Tiến sĩ Phạm Côn Sơn trong cuốn “ Làng nghề truyền thống ViệtNam ” thì làng nghề được định nghĩa như sau : “ làng nghề là một đơn vị chức năng hànhchính cổ xưa mà cũng có nghĩa là nơi quần cư đơng người, hoạt động và sinh hoạt có tổ chức triển khai, kỉ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là làng sốngchuyên nghề mà cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để pháttriển công ăn việc làm. Cơ sở vững chãi của những làng nghề là sự vừa làm ăn tậpthể, vừa tăng trưởng kinh tế tài chính, vừa giữ gìn truyền thống dân tộc bản địa và những riêng biệt của địaphương ”. [ 1, tr9 ] Xét theo góc nhìn kinh tế tài chính, trong cuốn : “ Bảo tồn và tăng trưởng những làng nghềtruyền thống trong q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa ” Tiến sĩ Dƣơng BáPhƣợng cho rằng : “ Làng nghề là làng ở nơng thơn có một hoặc 1 số ít nghề thủcông tách hẳn ra khỏi thủ công nghiệp và kinh doanh thương mại độc lập. Thu thập từ cáclàng nghề đó chiếm tỉ trọng cao trong tổng giá trị toàn làng. ” [ 3, tr13 ] Làng nghề theo cách phân loại về thời hạn gồm có : làng nghề truyềnthống và làng nghề mới. khóa luận chỉ đi sâu khám phá định nghĩa làng nghềtruyền thống vì có nhiều ý nghĩa trong tăng trưởng du lịch. Sinh Viên : Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHPĐề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa so với yếu tố tăng trưởng du lịch ở Tỉnh Ninh Bình ( Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng : Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân ) 1.1.2 Khái niệm làng nghề truyền thốngHiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về làng nghề truyềnthống, nhưng ta hoàn toàn có thể hiểu làng nghề truyền thống là làng truyền thống làm nghềthủ công truyền thống. Theo Giáo sƣ Trần Quốc Vƣợng thì làng nghề là : “ Làng nghề là làng ấy, tuy có trồng trọt theo lối thủ nông và chăn nuôi ( gà, lợn, trâu, … ) làm 1 số ít nghề phụ khác ( thêu, đan lát, … ) tuy nhiên đã nổi trộimột nghề truyền thống, tinh xảo với một những tầng lớp thợ thủ cơng chun nghiệp haybán chun nghiệp, có ơng trùm, ông phó cả cùng một số ít thợ và phó nhỏ đãchun tâm, có quy trình tiến độ cơng nghệ nhất định “ sinh ư nghệ, tử ư nghệ ”, “ nhấtnghệ tinh, nhất thân vinh ”, sống hầu hết bằng nghề đó và sản xuất ra nhữnghàng thủ cơng, những loại sản phẩm này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩmhàng hóa và có quan hệ tiếp thị với thị trường là vùng rộng xung quanh với thịtrường đô thị, TP. hà Nội và tiến tới lan rộng ra ra cả nước rồi hoàn toàn có thể xuất khẩu ra nướcngồi. ” [ 8, tr12 ] Làng nghề ở đây khơng nhất thiết là toàn bộ mọi người dân trong làng đềusản xuất thủ cơng, người thợ thủ cơng cũng hoàn toàn có thể là người nông dân làm thêmnghề phụ trong lúc nông nhàn. Tuy nhiên do u cầu về tính chun mơn hóacao đã tạo ra những người thợ thủ công chuyên nghiệp, chuyên sản xuất hàngthủ công truyền thống ngay tại quê nhà của mình. Nghiên cứu một làng nghềthủ cơng truyền thống là phải chăm sóc đến nhiều mặt, tính mạng lưới hệ thống, tồn diệncủa làng nghề thủ cơng truyền thống đó, trong đó yếu tố quyết định hành động là nghệ nhâncủa làng, loại sản phẩm thủ công bằng tay, thủ pháp kĩ thuật sản xuất và nghệ thuật và thẩm mỹ. Làng nghề thủ công truyền thống là TT sản xuất hàng bằng tay thủ công, nơiquy tụ những nghệ nhân và nhiều hộ mái ấm gia đình chun làm nghề mang tính truyền kiếp, được truyền đi truyền lại qua những thế hệ, có sự link tương hỗ trong sản xuất, bánsản phẩm theo kiểu phường hội, mạng lưới hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí còn làbán lẻ, họ có cùng tổ nghề, những thành viên ln có ý thức tn theo những hươngSinh Viên : Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHPĐề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa so với yếu tố tăng trưởng du lịch ở Tỉnh Ninh Bình ( Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng : Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân ) ước, chính sách, gia tộc, cùng phường nghề trong quy trình lịch sử vẻ vang tăng trưởng đã hìnhthành nghề ngay trên đơn vị chức năng cư vị cư trú của xóm của họ. Làng nghề thủ cơng truyền thống thường có đại đa số hoặc một số ít lượnglớn dân cư làm nghề truyền thống, thậm chí còn là 100 % dân cư làm nghề thủ cơnghoặc một vài dịng họ chun làm nghề truyền kiếp, kiểu cha truyền con nối. Sảnphẩm của họ không những có tính ứng dụng cao mà cịn là những mẫu sản phẩm độcđáo, ấn tượng, tinh xảo. Ngày nay trong quy trình tăng trưởng của kinh tế tài chính xã hội. Làng nghề đã thựcsự thành đơn vị chức năng kinh tế tài chính tiểu thủ công nghiệp, có vai trị, công dụng tích cực rất lớnđối với đời sống kinh tế tài chính xã hội. 1.2. Du lịch làng nghề truyền thốngNhìn chung khái niệm du lịch làng nghề truyền thống vẫn còn khá mới mẻở nước ta. Du lịch làng nghề truyền thống thuộc mô hình du lịch văn hóa truyền thống. Du lịch làng nghề truyền thống đang là mô hình du lịch lôi cuốn được sựquan tâm của nhiều hành khách trong và ngoài nước. Xu hướng văn minh ngày naycuộc sống căng thẳng mệt mỏi nhiều áp lực đè nén, con người quay về với những giá trị văn hóatruyền thống của dân tộc bản địa. Nhu cầu đi du lịch về những miền nông thôn, làngnghề truyền thống ngày càng cao, vậy du lịch làng nghề truyền thống là gì ? Trước hết phải hiểu thế nào là du lịch văn hóa truyền thống, vậy du lịch văn hóa truyền thống là : Theo Tiến sĩ Trần Nhạn trong : “ Du lịch và kinh doanh thương mại du lịch ” thì : “ Du lịch văn hóa truyền thống là mô hình du lịch mà hành khách muốn thẩm nhận bềdày lịch sử vẻ vang, di tích lịch sử văn hóa truyền thống, những phong tuc tập qn cịn hiện hữu … Bao gồmhệ thống đình, chùa, nhà thời thánh, tiệc tùng, những phong tục tập quán về ăn, ở, mặc, giaotiếp, … ” [ 2, tr15 ] Đối với làng nghề truyền thống thì đó là nơi tiềm ẩn kho tàng kinhnghiệm kỹ thuật, tuyệt kỹ nghề nghiệp từ việc sử dụng nguyên vật liệu, kỹ thuật chếtác đến chủ đề phát minh sáng tạo trong việc tạo ra một loại sản phẩm thủ cơng truyền thống. Đó chính là phần văn hóa truyền thống phi vật thể. Ngồi ra làng nghề truyền thống cịn cóSinh Viên : Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHPĐề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa so với yếu tố tăng trưởng du lịch ở Tỉnh Ninh Bình ( Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng : Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân ) những giá trị văn hóa truyền thống vật thể khác như : đình, chùa, những di tích lịch sử có tương quan trực tiếpđến những làng nghề, những mẫu sản phẩm thủ công bằng tay của làng nghề thủ cơng truyềnthống … Khách du lịch đến đây chính là để khám phá những giá trị văn hóa truyền thống đó. Vì vậy mà dulịch làng nghề truyền thống được xếp vào mô hình du lịch văn hóa truyền thống. Từ đó ta cóthể hiểu du lịch làng nghề truyền thống như sau : “ Du lịch làng nghề truyền thống là một mô hình du lịch văn hóa truyền thống mà qua đódu khách được thẩm nhận những giá trị văn hóa truyền thống vật thể và phi vật thể có liên quanmật thiết đến một làng nghề truyền thống của một dân tộc bản địa nào đó ”. 1.3. Điều kiện tăng trưởng du lịch làng nghề truyền thốngXu hướng ngày này con người đi du lịch hướng về những giá trị văn hóa truyền thống cổ xưa, việc tăng trưởng du lịch làng nghề là vơ cùng thiết yếu vì nó sẽ mang lại rất nhiềuthuận lợi cho cả hoạt động giải trí du lịch và sự tăng trưởng của làng nghề. Phát triển dulịch làng nghề đem lại doanh thu cho địa phương đó, xử lý được công ănviệc làm cho một lượng lớn lao động tại chỗ, cải tổ đời sống nhân dân, gópphần bảo tồn, tăng trưởng những làng nghề thủ công truyền thống, giữ lại những nétđẹp văn hóa truyền thống độc lạ độc nhất vô nhị của dân tộc bản địa. Làng nghề truyền thống là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn vô cùng quýgiá, để tăng trưởng được du lịch làng nghề truyền thống cần có những điều kiệnnhất định. Trước hết phải có những điều kiện kèm theo sống sót và tăng trưởng làng nghề : – Thuận tiện cho việc giao thương mua bán : đây là yếu tố quan trọng để một làng nghềcó thể tăng trưởng vì gần đường giao thông vận tải sẽ thuận tiện cho việc luân chuyển, thông thương giữa làng nghề và những vùng khác. – Gần nguồn nguyên vật liệu để hoàn toàn có thể liên tục tăng trưởng sản xuất. – Lao động và tập quán sản xuất của từng vùng. Muốn du lịch làng nghề truyền thống tăng trưởng cần những điều kiện kèm theo sau : – Làng nghề đó phải có mẫu sản phẩm độc lạ, đặc trưng. Sinh Viên : Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHPĐề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa so với yếu tố tăng trưởng du lịch ở Tỉnh Ninh Bình ( Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng : Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân ) – Gần những danh lam thắng cảnh để hoàn toàn có thể liên kết tour du lịch. – Phải có những cơ sở vật chất kĩ thuật, hạ tầng Giao hàng cho dulịch. [ TLVH 178, tr8 ] 1.4. Mối quan hệ giữa việc tăng trưởng du lịch và những làng nghề truyềnthốngĐối với kinh tế tài chính xã hội du lịch có nhiều tác động ảnh hưởng can đảm và mạnh mẽ, du lịch đóngvai trị rất quan trọng trong việc tăng trưởng những làng nghề truyền thống : – Du lịch giúp tạo ra nhiều công ăn việc làm cho dân cư địa phương, thuhút nguồn lao động từ những vùng lân cận, tăng thêm thu nhập và góp thêm phần cảithiện đời sống cho nhân dân. – Góp phần làm tăng lệch giá và tăng doanh thu bán mẫu sản phẩm thủ côngtruyền thống trong những làng nghề trải qua việc bán hàng lưu niệm cho dukhách. Đây cũng là một hình thức xuất khẩu tại chỗ không phải chịu thuế và hạnchế được rủi ro đáng tiếc. – Du lịch tăng trưởng tạo thêm thời cơ góp vốn đầu tư cho những làng nghề truyềnthống. – Tạo thời cơ xuất khẩu loại sản phẩm thủ công bằng tay truyền thống tại làng nghề. – Tăng cường thu nhập ngoại tệ. – Phân phối lại nguồn thu nhập. – Tạo thời cơ giao lưu văn hóa truyền thống địa phương và văn hóa truyền thống của khách du lịch nướcngồi. – Góp phần chuyển dời cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính ở nông thôn, vận động và di chuyển lao độngnông nghiệp sang nghành dịch vụ. – Kích thích tăng trưởng hạ tầng thơng qua hoạt động giải trí du lịch. – Bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống truyền thống q báu của làng nghề. – Khơi phục và tăng trưởng những ngành nghề thủ công truyền thống đã bị maimột trong nền kinh tế thị trường và q trình cơng nghiệp hóa, văn minh hóa đấtnước. Sinh Viên : Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHPĐề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa so với yếu tố tăng trưởng du lịch ở Tỉnh Ninh Bình ( Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng : Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân ) Du lịch và làng nghề có mối quan hệ qua lại tác động ảnh hưởng lẫn nhau. Du lịchgóp phần thôi thúc tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội làng nghề truyền thống theo hướngtích cực bền vững và kiên cố, nâng cao chất lượng đời sống cho người dân bản địaphương. Ngược lại, so với hoạt động giải trí du lịch làng nghề truyền thống cũng cótác động tích cực. Làng nghề truyền thống là một loại tài nguyên du lịch nhânvăn có năng lực lôi cuốn khách du lịch, làm đa dạng chủng loại thêm tài nguyên du lịchgóp phần vào tiềm năng tăng trưởng chung. Cụ thể là : – Các làng nghề truyền thống thường ở vùng nông thôn, mỗi làng nghề làmột môi trường tự nhiên văn hóa truyền thống kinh tế tài chính xã hội và cơng nghệ truyền thống truyền kiếp. Bên trong làng nghề tiềm ẩn những nét văn hóa truyền thống thuần Việt, khơnggian văn hóa truyền thống nơng nghiệp cây đa, giếng nước, sân đình, những câu hát dân gian, cánh cị trắng lũy tre xanh, … Đằng sau lũy tre làng là những mảng màu trầmmặc, những nét tinh hoa văn hóa truyền thống của dân tộc bản địa, hiền hòa, yên ả khiến cho dukhách ghé thăm đều có cảm xúc yên lành thư thái. Có thể nói rằng du lịch làngnghề truyền thống sẽ là địa chỉ lí tưởng để hành khách du lịch thăm quan khám phá những giátrị văn hóa truyền thống, những phong tục tập quán tiệc tùng … Đặc biệt hành khách sẽ không khỏi ngỡngàng khi phát hiện những loại sản phẩm bằng tay thủ công độc lạ và hoàn toàn có thể mua những mónđồ lưu niệm tinh xảo. – Ngồi ra làng nghề còn là nơi sản xuất ra những mẫu sản phẩm thủ cơng mỹnghệ đặc biệt quan trọng, có giá trị sử dụng và giá trị thẩm mỹ và nghệ thuật cao, đặc trưng cho cả mộtdân tộc, địa phương … Du khách đến du lịch làng nghề truyền thống không chỉthỏa mãn được nhu yếu được chiêm ngưỡng và thưởng thức khám phá những giá trị văn hóa truyền thống độc đáomà cịn có dịp shopping cho mình hoặc người thân trong gia đình những món đồ thủ cơng tinhtế, độc lạ phân phối nhu yếu shopping lớn của hành khách. – Làng nghề truyền thống là tài nguyên du lịch nhân văn góp thêm phần lôi cuốn sốlượng lớn khách du lịch, làm cho hoạt động giải trí du lịch thêm đa dạng chủng loại phong phú, nhiều lựa chọn mê hoặc cho hành khách. – Ngoài ra làng nghề truyền thống cịn làm đa dạng hóa mẫu sản phẩm du lịch. Sinh Viên : Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHPĐề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa so với yếu tố tăng trưởng du lịch ở Tỉnh Ninh Bình ( Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng : Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân ) 1.5. Làng nghề truyền thống Nước Ta * Qúa trình hình thành những làng nghề truyền thống Việt NamViệt Nam nằm trong khu vực có điều kiện kèm theo tự nhiên, khí hậu tương thích, động thực vật phong phú đa dạng chủng loại thuận tiện cho săn bắt hái lượm, nhiều quặngsắt, thiếc, đồng thuận tiện chế tác đồ bằng tay thủ công. Việt Nam cịn là quốc gia hìnhthành nhà nước sớm nhất Đơng Nam Á. Việt Nam có một cộng đồng văn hóakhá to lớn được hình thành vào tầm nửa đầu thiên niên kỉ thứ hai trướccông nguyên và tăng trưởng rực rỡ tỏa nắng vào cuối thế kỉ 15 của Đại Việt. Các làng nghề truyền thống ở Nước Ta đã được hình thành từ rất sớm, qua thời hạn và những tiến trình thăng trầm của lịch sử vẻ vang làng nghề truyền thốngViệt Nam vẫn sống sót và tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ. Có thể tóm tắt sơ lược như sau : Theo dấu vết khảo sát điều tra và nghiên cứu những di chỉ khảo cổ, vết tích người Vượnở di chỉ khảo cổ núi Đọ ( Thanh Hóa ) hoàn toàn có thể thấy hàng vạn công cụ đồ đá ghè, đẽo, thô sơ như mảnh tước, rìu tay, nạo, … Chứng tỏ đã có sự chế tác, dùng cáccông cụ bằng tre như : gậy, lao, cung tên, thừng bện, … Nghề thủ cơng đã sớmhình thành và có vai trị nhất định ngay từ thời ngun thủy. Ngay từ thời văn hóa truyền thống Phùng Nguyên một nền văn hóa truyền thống tiền sử thuộc sơ kìthời đại đồ đồng, cuối thời đại đồ đá mới, cách đây gần 4000 đến 3500 nămngười ta đã tìm thấy nhiều cổ vật. Cư dân Phùng Nguyên đã biết sản xuất đồ gốmđơn giản và đồ trang sức đẹp bằng đá bán q, đã có khn đúc đồng, rìu đá màinhỏ, vịm đá, hạt chuỗi đá, chuốt gọt phức tạp. Theo nhìn nhận của những nhà khảo cổhọc thì dân cư Phùng Nguyên là những người đã định cư không thay đổi và sống theotừng cụm dân cư làng xã ngặt nghèo và thực sự có những khu vực sản xuất thủcông, mỹ nghệ. Người ta đã tìm thấy ở di chỉ Phùng Nguyên 1138 chiếc rìu, 59 đục, 3 giáo, 2 mũi nhọn, 7 mũi tên, 1 cưa, 189 bàn mài, 540 vòng tay, 8 khuyêntai, 34 hạt chuỗi, 3 đồ trang sức đẹp và hàng chục vạn mảnh gốm. Giai đoạn Đồng Đậu ( giữa thời đại Đồng Thau ) có khn đúc, rìu, mũitên bằng đồng có ngạnh, … Sinh Viên : Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP10Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa so với yếu tố tăng trưởng du lịch ở Tỉnh Ninh Bình ( Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng : Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân ) Giai đoạn Gò Mun ( thời đại Đồng Thau cường thịnh ) vô số công cụ sinhhoạt được đúc thau tăng trưởng, đặc biệt quan trọng dấu tích thời kì Đơng Sơn khẳng địnhtrống đồng Ngọc Lũ và thạp đồng Đào Thịnh ( khai thác ở Yên Bái ) đã chứngminh trình độ thủ cơng của thời kì dựng nước thật tinh xảo, điều đó cho thấythời kì này đã có sự phân cơng lao động, tổ chức triển khai lao động. Đến quá trình Lí, Trần, Lê nghề thủ công bằng tay tăng trưởng tỏa nắng rực rỡ cực thịnh vớisự tăng trưởng của nghề đồ gốm, phát minh sáng tạo ra nhiều loại men gốm đẹp, quý và hiếm cógiá trị thẩm mỹ và nghệ thuật cao. Cùng với đó là nhiều cơng trình kiến trúc nghệ thuật và thẩm mỹ, cungđiện, cơng trình tơn giáo, … Thời Lí tập trung chuyên sâu nhiều thợ thủ công giỏi với nhiều phát minh sáng tạo độc lạ. Thời Lí là thời đại phục hưng quốc gia. Rất nhiều làng nghề tăng trưởng như làngthêu, làng mộc, làng điêu khắc, … Nhiều vùng đất thông thương, giao lưu vớinhau nên kinh tế tài chính tăng trưởng. Thời Lí có nhiều nghệ nhân tài hoa với nhiều thànhtựu về nghề bằng tay thủ công mỹ nghệ. Được như vậy là do thời Lí có chính sách côngtượng tập trung chuyên sâu nhiều thợ giỏi về Thăng Long chuyên kiến thiết xây dựng chùa chiền, hoàng cung, nhà nước chăm sóc cho đời sống của thợ thủ công nên yên tâm sángtạo. Văn hóa thời Trần là sự tiếp nối văn hóa truyền thống thời Lí nhưng sang đến thời Trầndo cuộc chiến tranh liên miên nên nhân dân không hề định cư lạc nghiệp, thợ thủ cơngít có thời cơ phát minh sáng tạo, nghệ thuật và thẩm mỹ sản xuất bằng tay thủ công không hề tăng trưởng mạnhnhư thời Lí. Đến thời Lê những nghề thủ cơng vẫn liên tục tăng trưởng, có nhiều thợ thủcơng giỏi, những loại sản phẩm bằng tay thủ công cũng đạt được đến độ tinh xảo. Đặc biệt lànghệ thuật điêu khắc chạm lộng. Thời Nguyễn do cuộc chiến tranh nhiều nên nền kinh tế tài chính suy sụp, nhân dânkhông được sống yên ổn, những thợ thủ công giỏi khơng phát huy được vì thế màthời này nghề bằng tay thủ công không hề tăng trưởng được. Sinh Viên : Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP11Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa so với yếu tố tăng trưởng du lịch ở Tỉnh Ninh Bình ( Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng : Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân ) Từ khi thực dân Pháp xâm lược nghề thủ công bằng tay một lần nữa tàn lụi, thựcdân Pháp đã biến Nước Ta thành thị trường tiêu thụ của chúng. Hàng hóa tưbản Pháp như : đường, rượu, giấy, vải … Tràn ngập thị trường Nước Ta, giá rẻ, chất lượng tốt lại nhiều mẫu mã mới nên phần nhiều hàng bằng tay thủ công của nước takhông cạnh tranh đối đầu được. Nhiều nghề thủ công bằng tay đã bị phá sản như : kéo sợi, tơ lụa, dệt vải, … Nhiều thợ thủ công phải bỏ nghề, tuy nhiên một số ít nghề thủ cơng vẫnphát triển vì máy móc tư bản khơng thể sửa chữa thay thế được bàn tay tài hoa khéo léocủa người nghệ nhân như những nghề mộc, gốm, khảm trai, mây tre đan, thêu, … Vẫn tăng trưởng ngoài ý muốn của thực dân Pháp. Từ năm 1954 sau khi hịa bình lập lại, ngành thủ cơng nghiệp nước tabước sang thời kì mới, là quá trình được nhà nước khuyến khích, nhiều ngànhnghề thủ cơng được tăng trưởng, có 1 số ít ngành nghề đã thất truyền nay đượckhôi phục và liên tục tăng trưởng. Cũng trong thời kì này đã mở màn có sự xuấthiện của những nhóm và hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp mới được xây dựng. Lúcnày không chỉ có “ làng nghề ” nữa mà cịn Open cả “ hợp tác xã nghề thủcông ”. Và đến ngày mùng 6 tháng 6 năm 1961 đại hội tiên phong của những ngườithợ thủ cơng tồn miền Bắc được tổ chức triển khai, thơng qua điều lệ và bầu ban chủnhiệm TW chỉ huy tồn ngành. Từ đó ngành tiểu thủ cơng nghiệp đã cóvị trí xứng danh trong nền kinh tế tài chính quốc dân. Ngày nay khi nền kinh tế tài chính xã hội ngày càng tăng trưởng văn minh hơn ngànhtiểu thủ công nghiệp vẫn đang có những góp phần tích cực khơng nhỏ vào tổngthể tăng trưởng chung của nền kinh tế tài chính. Các ngành nghề thủ cơng truyền thốngvẫn đang từng ngày từng giờ góp thêm phần cải tổ đời sống nhân dân, góp phầnđắc lực vào vận động và di chuyển cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính. Lịch sử hình thành và phát triểnLàng nghề Nước Ta, làng nghề thủ công bằng tay, làng nghề truyền thống, hoặclàng nghề truyền thống, … thường được gọi ngắn gọn là làng nghề, là những làng màSinh Viên : Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP12Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa so với yếu tố tăng trưởng du lịch ở Tỉnh Ninh Bình ( Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng : Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân ) tại đó hầu hết dân cư tập trung chuyên sâu vào làm một nghề duy nhất nào đó ; nghề của họlàm thường có tính chun sâu cao và mang lại nguồn thu nhập cho dân làng. Cùng với sự tăng trưởng của nền văn minh nông nghiệp từ hàng năm trướcđây, nhiều nghề bằng tay thủ công cũng đã sinh ra tại những vùng nơng thơn Nước Ta, việchình thành những làng nghề khởi đầu từ những nghề khởi đầu được dân cư tranh thủlàm lúc nông nhà, những lúc không phải là mùa vụ chính. Bởi lẽ trước kia kinh tế tài chính của người Việt cổ đa phần sống dựa vào việctrồng lúa nước mà nghề làm lúa khơng phải khi nào cũng có việc. Thông thườngchỉ những ngày đầu vụ, hay những ngày cuối vụ thì người nơng dân mới có việclàm nhiều, khó khăn vất vả như : cày bừa, cấy, làm cỏ ( đầu vụ ) cho đến gặt lúa, phơikhơ … cịn những ngày cịn lại thì nhà nơng rất nhàn nhã, rất ít việc để làm. Từ đónhiều người đã khởi đầu tìm kiếm thêm cơng việc phụ để làm nhằm mục đích mục tiêu banđầu là cải tổ bữa ăn và những nhu yếu thiết yếu hàng ngày về sau là tăngthêm thu nhập cho mái ấm gia đình. Theo thời hạn, nhiều nghề phụ khởi đầu đã biểu lộ vai trị to lớn của nó, mang lại quyền lợi thiết thực cho dân cư. Như việc làm ra những vật dụng bằng mây, tre, lụa, … Giao hàng hoạt động và sinh hoạt hay đồ sắt, đồ đồng phục vụ sản xuất. Nghề phụ từchỗ chỉ Giao hàng nhu yếu riêng đã trở thành sản phẩm & hàng hóa để trao đổi, đã mang lại lợiích kinh tế tài chính to lớn cho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ vào những vụ lúa. Từchỗ một vài nhà trong làng làm, nhiều mái ấm gia đình khác cũng làm theo, nghề từ đómà lan rộng ra tăng trưởng trong cả làng, hay nhiều làng gần nhau. Và cũng chính nhờ những quyền lợi khác nhau do những nghề thủ công bằng tay đem lạimà trong mỗi làng khởi đầu có sự phân hóa. Nghề đem lại quyền lợi nhiều thì pháttriển mạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu suất cao thấp hay không tương thích vớilàng thì từ từ bị mai một. Từ đó khởi đầu hình thành nên những làng nghềchuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó, như làng gốm, làng làm chiếu, lànglàm lụa, làng làm đồ đồng, … Sinh Viên : Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP13Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa so với yếu tố tăng trưởng du lịch ở Tỉnh Ninh Bình ( Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng : Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân ) Những phát hiện về khảo cổ học, những cứ liệu lịch sử vẻ vang đã chứng minhđược những làng nghề Nước Ta đã sinh ra từ hàng ngàn năm trước đây, những làngnghề thường tập trung chuyên sâu đa phần ở những vùng châu thổ lớn như châu thổ sôngHồng, tại TP.HN, Hà Tây, Thành Phố Bắc Ninh, Tỉnh Thái Bình, Tỉnh Nam Định … 1.6. Tiểu kếtDu lịch làng nghề truyền thống là một mô hình du lịch văn hóa truyền thống mê hoặc, góp thêm phần làm phong phú và đa dạng cho mẫu sản phẩm du lịch. Đi du lịch làng nghề truyềnthống con người sẽ luôn được thư thái nghỉ ngơi đắm mình trong một khơnggian mang đậm chất nơng thơn trong lành. Du lịch làng nghề truyền thống có vaitrị vơ cùng to lớn so với những làng nghề, góp thêm phần làm đổi khác bộ mặt nôngthôn Nước Ta, cải tổ đời sống nhân dân Nước Ta tại những vùng nơng thơncịn lỗi thời. Các làng nghề truyền thống cũng có ảnh hưởng tác động tích cực trở lại hoạtđộng du lịch. Các giá trị văn hóa truyền thống tại những làng nghề truyền thống chính là hạtnhân để khai thác ship hàng cho hoạt động giải trí du lịch tăng trưởng loại sản phẩm độc lạ. Trong tương lai du lịch làng nghề truyền thống sẽ ngày càng tăng trưởng mạnh mẽhơn nữa để phân phối nhu yếu đi du lịch ngày càng cao của khách du lịch trong vàngoài nước. Tuy nhiên tăng trưởng du lịch làng nghề truyền thống phải có quyhoạch tổng thể và toàn diện, theo hướng tăng trưởng du lịch vững chắc, khai thác đi đơi với bảotồn mơi trường văn hóa truyền thống xã hội, mơi trường tự nhiên để không làm mai một đicác giá trị văn hóa truyền thống, giữ cho mơi trường tự nhiên trong sáng, mơi trường xã hộiổn định, văn minh. Bởi vì làng nghề truyền thống là sự kết tinh những nét đẹpdân tộc thuần phác, tiềm ẩn cả tâm lý, tình cảm lối sống ông cha ngàn đờitruyền lại. Sinh Viên : Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP14Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa so với yếu tố tăng trưởng du lịch ở Tỉnh Ninh Bình ( Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng : Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân ) CHƢƠNG 2 : THỰC TRẠNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TỈNHNINH BÌNH2. 1. Tiềm năng du lịch Tỉnh Ninh Bình “ Chẳng thơm cũng thể hoa nhàiDẫu không lịch sự cũng người Tràng An ”. Ninh bình là vùng đất “ địa linh ” nên thời nào cũng sản sinh ra “ nhânkiệt ”. Ninh Bình là vùng đất giàu tiềm năng du lịch, nơi có nhiều những tài nguyêndu lịch tự nhiên được biết đến với khu Tam Cốc – Bích Động được ví như “ HạLong trên cạn ”. Hay tài nguyên du lịch nhân văn như : Đền thờ hai vị vua ĐinhTiên Hoàng và Lê Đại Hành, được biết mới gần đây nhất là khu tâm linh chùa BáiĐính – ngơi chùa đạt được nhiều kỷ lục Nước Ta. * Vị trí địa lý : Tỉnh Ninh Bình là tỉnh ở cực nam của đồng bằng bắc bộ, có ba đường quốc lộchính ( 1A, 10, 12A ) và đường tàu xuyên Bắc – Nam chạy qua, tạo cho Ninh Bìnhlà cầu nối giữa hai miền nam bắc, giữa những tỉnh miền núi Tây Bắc với những tỉnhmiền xuôi, giữa những tỉnh duyên hải Bắc Bộ với Hải Phòng Đất Cảng. Nằm ở cực Nam củađồng bằng châu thổ sông Hồng, Tỉnh Ninh Bình là một cửa ngõ từ miền Bắc vàomiền Trung và miền Nam quốc gia, được phủ bọc bởi những dãy núi đá vôi, tạonên nhiều danh lam thắng cảnh kì thú với những dịng sơng thơ mộng, những hồnước mênh mơng, toàn bộ như đang thầm thì câu truyện muôn đời của non nước. Nơi đây vừa là gạch nối, vừa là ngã ba của ba nền văn hóa truyền thống lớn : sơng Hồng – sơngMã – Hịa Bình. Tỉnh Tỉnh Ninh Bình nằm ở cực Nam đồng bằng Bắc bộ, có tọa độ địa lý 19050 ‘ đến 200 27 ‘ vĩ độ Bắc, 1050 32 ‘ đến 1060 27 ‘ kinh độ Đông, cách Thành Phố Hà Nội HàNội 93 km về phía Nam. Dãy núi Tam Điệp chạy theo hướng Tây Bắc – ĐôngNam, làm ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa. Phía ĐơngSinh Viên : Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP15Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa so với yếu tố tăng trưởng du lịch ở Tỉnh Ninh Bình ( Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng : Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân ) và Đơng Bắc có sơng Đáy bao quanh, là ranh giới tự nhiên với hai tỉnh Hà Namvà Tỉnh Nam Định, phía Bắc là tỉnh Hịa Bình, phía Nam là biển Đơng. Ninh Bình có diện tích quy hoạnh tự nhiên 1.389,1 km2, với chiều dài bờ biển 18 km, dân số 936.262 người. Toàn tỉnh có 62.000 ha đất sản xuất nơng nghiệp, trong đóđất canh tác 47.000 ha ; đất lâm nghiệp có rừng 29.000 ha và trên 6.000 ha diệntích đất đồi, núi đá. Ninh Bình có vị trí kế hoạch quan trọng, là nơi tiếp nối giao lưu kinh tếvà văn hóa truyền thống giữa lưu vực sơng Hồng với lưu vực sông Mã, giữa vùng đồng bằngBắc bộ với vùng núi Tây Bắc của Tổ quốc. Trên địa phận tỉnh có Quốc lộ 1A, Quốc lộ 10 ; 12A, 12B và đường tàu Bắc – Nam chạy qua cùng mạng lưới hệ thống sơngngịi sum sê như : sơng Đáy, sơng Hồng Long, sông Càn, sông Vạc, sôngVân, … tạo thành mạng lưới giao thông vận tải thủy, bộ rất thuận tiện cho giao lưu, pháttriển kinh tế tài chính trong và ngồi tỉnh. Trên bình diện toàn diện và tổng thể về kinh tế tài chính, Tỉnh Ninh Bình nằm gần địa phận kinh tếtrọng điểm phía Bắc với tuyến hiên chạy TP. Hà Nội – TP. Hải Phòng – Quảng Ninh. Vàvề nghành nghề dịch vụ du lịch, tỉnh Tỉnh Ninh Bình cũng ở liền kề tam giác tăng trưởng du lịchHà Nội – Hải Phòng Đất Cảng – Quảng Ninh, sự tăng trưởng du lịch Tỉnh Ninh Bình nằm trongtổng thể tăng trưởng du lịch của cả nước sẽ tạo đà hình thành một tứ giác tăngtrưởng du lịch mới : TP.HN – Hải Phòng Đất Cảng – Quảng Ninh – Tỉnh Ninh Bình qua quốc lộ1A, quốc lộ 10 và những trường bay Cát Bi, mạng lưới hệ thống cảng biển, cảng sơng đáp ứngnhu cầu luân chuyển khách đến Tỉnh Ninh Bình. Thủ đô TP. Hà Nội là điểm đến, là một trong những đầu mối du lịch ViệtNam. Ninh Bình cách thủ đơ TP.HN 93 km, có lợi thế rõ ràng về nhiều mặt, có ưuthế về vùng phụ cận, khơng gian và thời hạn nên khơng bị tính mùa vụ trong dulịch. Sức ép đô thị can đảm và mạnh mẽ của Thành Phố Hà Nội và những vùng phụ cận ( như Thành Phố Bắc Ninh, Thành Phố Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc … ) đang tạo cho Tỉnh Ninh Bình một lợi thế : dulịch cuối tuần. Ninh Bình như một điểm mới đầy tiềm năng tăng trưởng. * Tiềm năng du lịchSinh Viên : Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP16Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa so với yếu tố tăng trưởng du lịch ở Tỉnh Ninh Bình ( Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng : Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân ) Tài nguyên du lịch của Tỉnh Ninh Bình ( tự nhiên, nhân văn ) tương đối phongphú, phong phú gồm có cả núi, hồ, rừng, những di tích lịch sử lịch sử dân tộc văn hóa truyền thống nổitiếng, … Đây là một lợi thế quan trọng, tạo tiền đề tăng trưởng nhiều mô hình dulịch, góp thêm phần đẩy nhanh vận tốc tăng trưởng ngành du lịch Tỉnh Ninh Bình trong nhữngnăm tới. Tài nguyên du lịch Tỉnh Ninh Bình được phân bổ tương đối tập trung chuyên sâu ở mộtsố khu vực chính như : Hoa Lư, Gia Viễn, Nho Quan, Phát Diệm, … và mới đâynhất là khu du lịch sinh thái xanh Tràng An. Những khu vực này có sự tích hợp giữatài nguyên vạn vật thiên nhiên và tài nguyên nhân văn. Đây là đặc thù thuận tiện choviệc hình thành những khu du lịch trọng điểm, có sức mê hoặc lôi cuốn du kháchtrong và ngồi nước. Với vị trí địa lý thuận tiện tạo cho Tỉnh Ninh Bình dồi dào cả về tài nguyên dulịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Ninh Bình nổi tiếng với nhiều hangđộng kỳ thú như : Tam Cốc, Bích Động, động Thiên Tơn, động Hoa Sơn, độngBàn Long, động Tam Giao, động Mã Tiên … Bích Động thời phong kiến đã đượcmệnh danh là “ Nam thiên đệ nhị động ” ( động đẹp thứ nhì dưới trời Nam, sauHương Tích – Hà Tây ). Địch Lộng là “ Nam thiên đệ tam động ” ( động đẹp thứ badưới trời Nam ). Ở phía nam thành phố Tỉnh Ninh Bình có quả núi giống hình mộtcánh diều bay gọi là núi Cánh Diều, lại có hình như một người thiếu nữ nằmngửa nhìn trời gọi là Ngọc Mỹ Nhân ( người con gái đẹp như ngọc ). Đất NinhBình khơng chỉ là “ địa linh ” mà còn là nơi “ nhân kiệt ”. “ Địa linh ” ấy đã tạo nênnhững “ nhân kiệt ” như anh hùng dân tộc bản địa Đinh Bộ Lĩnh, những danh tướng ĐinhĐiền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ, hoàng hậu Dương Vân Nga, Quốc sưNguyễn Minh Khơng, nhà thơ Trương Hán Siêu … cịn biết bao danh tướng, danhnhân, danh sỹ sinh ra trên dải đất này ! Thời nào Tỉnh Ninh Bình cũng có nhân tài. Tỉnh Ninh Bình là vùng đất có nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh nổi tiếng củađất nước, hòa quyện cùng truyền thống văn hóa truyền thống, tạo cho tỉnh Tỉnh Ninh Bình những thế mạnhđể tăng trưởng du lịch. Tiêu biểu như Cố đô Hoa Lư, vùng đất là kinh đô nước ĐạiSinh Viên : Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP17Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa so với yếu tố tăng trưởng du lịch ở Tỉnh Ninh Bình ( Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng : Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân ) Việt thế kỷ thứ 10 – nhà nước phong kiến tập quyền tiên phong của nước ta gắn liềnvới ba vương triều : Đinh – Tiền Lê – Lý, với ba vị anh hùng dân tộc bản địa : Vua ĐinhTiên Hoàng, Vua Lê Đại Hành, Vua Lý Thái Tổ. Xung quanh vùng đất Cố đô Hoa Lư cịn có những di tích lịch sử, những danhlam thắng cảnh thơ mộng, mê hoặc đó là khu Tam Cốc – Bích Động được mệnhdanh là “ vịnh Hạ Long trên cạn ” của Nước Ta. Tam Cốc đẹp nổi tiếng và BíchĐộng được ca tụng là “ Nam thiên đệ nhị động ”. Đền Thái Vi là nơi in đậmdấu tích của hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, nơi thờ bốn đời vua nhàTrần. Cách đó khơng xa, khu hang động sinh thái xanh Tràng An, nơi quy tụ nhiềunhất những động nước trên diện tích quy hoạnh hàng ngàn hec-ta, với 31 thung, 50 hang độngxuyên thủy, có phủ Khống, phủ Đột, đền Nội Lâm nổi tiếng. Chùa Bái Đính, ngơi chùa lớn nhất ở nước ta, có diện tích quy hoạnh 700 ha với vẻ đẹp hồnh tráng củachùa Tam Thế. Chùa Bái Đính đã được TT sách kỷ lục Nước Ta cấpbằng xác nhận kỷ lục : “ Đại hội đồng chuông lớn nhất Nước Ta ” ( phá kỷ lụcViệt Nam – quả chuông nặng 36 tấn ), “ Pho tượng phật Thích Ca bằng đồng caovà nặng nhất Nước Ta ” ( pho tượng đồng nặng 100 tấn ) ; “ Ngơi chùa có bộtượng Tam Thế bằng đồng lớn nhất Nước Ta ” ( mỗi pho tượng nặng 50 tấn ) ; “ ngơi chùa có giếng lớn nhất Nước Ta ” ( giếng Ngọc có đường kính gần 30 m ). Tỉnh Tỉnh Ninh Bình có hơn 800 di tích lịch sử những loại đã được kiểm kê, 78 di tíchlịch sử văn hóa truyền thống và danh lam thắng cảnh được xếp hạng cấp vương quốc và 99 ditích được xếp hạng cấp tỉnh. Con số đó phản ánh sự đa dạng chủng loại của di sản, làtiềm năng, tài nguyên du lịch, điển hình như đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng ở xãGia Phương, đền thờ Trương Hán Siêu, đền thờ Nguyễn Cơng Trứ, nhà thời thánh đáPhát Diệm, … Tỉnh Ninh Bình cũng là nơi cịn lưu giữ nhiều nghề thủ cơng truyền thống, trong thời kì kinh tế tài chính du lịch tăng trưởng thì đây là những loại sản phẩm có giá trị caođể tăng trưởng dịch vụ du lịch. Tiêu điểm như làng nghề chạm khắc đá Ninh Vân, thêu ren Văn Lâm, mỹ nghệ cói Kim Sơn. Sinh Viên : Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP18Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa so với yếu tố tăng trưởng du lịch ở Tỉnh Ninh Bình ( Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng : Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân ) Về tiệc tùng, Tỉnh Ninh Bình cũng là tỉnh có nhiều tiềm năng. Theo thống kê cảtỉnh có 74 tiệc tùng truyền thống và nhiều hội làng mang đậm yếu tố dân gian, đậmđà văn hóa truyền thống vùng châu thổ sông Hồng. Những liên hoan lớn như liên hoan Trường Yên, liên hoan đền Thái Vi, lẽ hội chùa Bái Đính, … Về văn hóa truyền thống siêu thị nhà hàng, từ lâu, Tỉnh Ninh Bình đã nổi tiếng với bún mọc KimSơn, rượu Lai Thành, tái dê, ngọc dương tửu, cá rô tổng Trường ( Hoa Lư ), nemchua Yên Mạc, cá chuối nướng Vân Long, nhất hưởng thiên kim ( cơm cháy ), rượu cần Nho Quan … Các món ăn đặc sản nổi tiếng trên cũng là tài nguyên du lịch có giá trị. Có thể nói, trên khoanh vùng phạm vi cả nước, ít có địa phương nào có được những lợithế về du lịch như Tỉnh Ninh Bình. Ninh Bình tự hào có Vân Long – khu bảo tồn thiênnhiên sinh thái xanh đất ngập nước lớn nhất đồng bằng Bắc bộ với hơn 30 loài độngvật và thực vật quý và hiếm ghi vào sách đỏ Nước Ta. Dục Thúy Sơn ( núi NonNước ) còn được ca tụng là “ núi thơ ” – có lẽ rằng khơng có ngọn núi nào trên đấtnước ta lại được khắc nhiều thơ như vậy. Hay vườn vương quốc Cúc Phương – vườnquốc gia tiên phong của Nước Ta, đây là một kho lưu trữ bảo tàng vạn vật thiên nhiên to lớn ; mộtvườn bách thảo, bách thú ngoạn mục ; có cây chị ngàn năm tuổi ; có động ngườixưa, nơi sinh sống của người Việt cổ. Rồi suối khoáng Kênh Gà, nơi có mỏnước khống q mang nhiều giá trị y học đang được góp vốn đầu tư khai thác phục vụviệc chăm nom sức khỏe thể chất của con người … Tất cả những giá trị rực rỡ ấy đanghiện hữu tại Tỉnh Ninh Bình và nó trở thành những điểm nhấn của du lịch Ninh bình, tạo nên một Tỉnh Ninh Bình non nước hữu tình. Với tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng chủng loại, Tỉnh Ninh Bình có nhiều tiềmnăng để tăng trưởng những mô hình du lịch du lịch thăm quan nghỉ ngơi, du lịch sinh thái xanh, du lịch văn hóa truyền thống – tín ngưỡng tâm linh, du lịch thể thao mạo hiểm, du lịch vui chơigiải trí, du lịch khảo cứu và sưu tầm, du lịch hội nghị, hội thảo chiến lược … Hiện nay, Tỉnh Ninh Bình có 7 khu du lịch chính là : khu du lịch sinh tháiTràng An – Tam Cốc Bích Động – Cố đô Hoa Lư ; khu du lịch TT thànhphố Tỉnh Ninh Bình, khu du lịch vườn vương quốc Cúc Phương – Kỳ Phú – hồ ĐồngSinh Viên : Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP19Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa so với yếu tố tăng trưởng du lịch ở Tỉnh Ninh Bình ( Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng : Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân ) Chương ; khu du lịch suối nước nóng Kênh Gà – động Vân Trình – khu bảo tồn đấtngập nước Vân Long – chùa Địch Lộng – động Hoa Lư ; khu du lịch thị xã TamĐiệp – phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn ; khu du lịch hồ Yên Thắng – hồ ĐồngThái – động Mã Tiên ; khu du lịch vùng ven biển Kim Sơn. Với vị trí địa lý thuận tiện và giàu tiềm năng tài nguyên du lịch, cùng vớinhững chủ trương tương thích với chính sách Open, hội nhập, tiềm năng du lịch NinhBình đang được thức tỉnh để trở thành nguồn lực quan trọng cho sự phát triểntrong thời kỳ mới, góp phần tích cực vào sự nghiệp tăng trưởng kinh tế tài chính của tỉnh vàsự tăng trưởng du lịch của cả nước. 2.2. Làng nghề truyền thống tỉnh Ninh Bình2. 2.1. Quá trình hình thành những làng nghề truyền thống Ninh BìnhGiống như nhiều tỉnh ở đồng bằng sông Hồng, trong lịch sử dân tộc phát triểnkinh tế của Tỉnh Ninh Bình, bên cạnh những hoạt động giải trí nơng nghiệp truyền thống cácngành nghề tiểu thủ công nghiệp cũng được hình thành và tăng trưởng từ rất sớm. Từ thế kỉ thứ IX, X ở Tỉnh Ninh Bình đã có những nghề thủ cơng khá tăng trưởng như sảnxuất gạch, ngói trang trí, chế tác thiết kế xây dựng, sản xuất bát đĩa và đồ gốm sứ trángmen, nghề rèn, mộc, đúc đồng, đan lát, chạm khắc đá mỹ nghệ, … Thế kỉ XIII đãcó những nghề dệt lụa, thêu ren với những loại sản phẩm thủ công bằng tay tinh xảo, độc lạ. Mộtsố nghề và làng nghề bằng tay thủ công từ xưa đã nổi tiếng như : chạm khắc đá mỹ nghệ ởNinh Vân, thêu ren Văn Lâm – Ninh Hải, dệt lụa ở La Mai, Tri Hối, nghề mộc ởPhúc Lộc ( Ninh Phong – Hoa Lư ), nghề dệt ở Nộn Khê, nghề mộc Cơi Trì ( huyệnn Mơ ), đan cót ở Gia Tân, đan thuyền ở Gia Trung, Gia Tiến ; sản xuất gạchngói trang trí ở Trường n ( huyện Hoa Lư ), … Cho đến thế kỉ XIX, những ngành nghề thủ cơng ở Tỉnh Ninh Bình đã phát triểnkhá phong phú của những nghề đan lát ( nong, nia, rổ, rá, thúng, mủng, đan mành, đanrèm, két võng, … ), những nghề sản xuất nông cụ ( cày, bừa, cuốc, thuổng, liềm hái, bện dây thừng, đan lưới, vó, nơm, riu, gầu tát nước, đóng cối xay thóc ), sản xuấtchum, vại, chạm khắc gỗ, làm hàng mã và đồ thờ cúng ; những nghề thợ mộc, thợSinh Viên : Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP20Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa so với yếu tố tăng trưởng du lịch ở Tỉnh Ninh Bình ( Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng : Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân ) xây, chế biến nông sản, thực phẩm ( làm bún, bánh, bánh đa, miến dong, nấuđường mật, sản xuất nước mắm, … ). Đặc biệt là có sự tăng trưởng mạnh của cácnghề kéo sợi, dệt vải, xe đay, làm hàng chiếu, cói. Đến thời Pháp thuộc, nhất là cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, những ngànhnghề thủ công bằng tay ở Tỉnh Ninh Bình vẫn liên tục tăng trưởng. Nhiều mẫu sản phẩm thủ cơng đãtrở thành sản phẩm & hàng hóa được tiêu thụ thoáng rộng trên thị trường trong cả nước. Một sốngành nghề mới được hình thành như may mặc, sản xuất bánh kẹo, làm hàngsáo, kéo sợi bông, gai, ép dầu thầu dầu, … Vào những năm 1930, vùng Kim Sơnvà những xã phía nam của huyện Yên Khánh đã trở thành TT của những mặthàng chiếu, cói, với nhiều làng nghề chuyên về những mẫu sản phẩm này như : PhụngCông, Quyết Trung, Bồng Hải ( tổng Bồng Hải huyện Yên Khánh ), những làngDưỡng Điềm ( tổng Hồi Thuận ), Dũng Thúy, Như Sơn ( tổng Chất Thành ), ĐồngĐắc, Thủ Trung, Hướng Đạo, Trì Chính, Vĩnh Hạ ( tổng Tự Tân ) huyện KimSơn … Các loại sản phẩm chiếu, cói ở đây được bán cả Tỉnh Nam Định, Phủ Lý, TP. Hà Nội vàđược những nhà buôn mang lên tận những tỉnh trung du miền núi như Hịa Bình, LạngSơn, Bắc Giang, Phú Thọ … Thời Pháp thuộc, ở Tỉnh Ninh Bình khởi đầu có sự Open một số ít cơ sở côngnghiệp của những chủ người Pháp và người Việt như : cơ sở phát điện ở thị xã NinhBình, xí nghiệp sản xuất khai thác than đá ở Đầm Đùn ( huyện Nho Quan ), những cơ sở khaithác đá, khai thác than nâu ở Đồng Giao ( thị xã Tam Điệp ), khai thác đá ở HệDưỡng ( huyện Hoa Lư ), xưởng nung vơi Đinh Tráng, Đinh Hịe ở thị xã NinhBình, 1 số ít xưởng sản xuất gạch, ngói ở n Mơ, những xưởng chiếu cói Lâm tề, Xương Lợi, Hai Vỡi ở Kim sơn, … Một số đồn điền của người Pháp ở Nho Quan, Tam Điệp có những cơ sở sản xuất cafe, chè, ép dầu. Đến những năm đầu của thếkỉ XX, cơ sở khai thác than đá ở Đầm Đùn của người Pháp đã khai thác ở mỏnày 600 – 700 nghìn tấn ; cơ sở khai thác than nâu ở Đồng Giao, từ nam 1905 đếnnăm 1938, đã khai thác trên 150 nghìn tấn. Những năm 1930, xưởng cói XươngLợi ở Phát Diệm huyện Kim Sơn có tới 300 cơng nhân sản xuất. Sinh Viên : Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP21Đề tài : Làng nghề truyền thống và ý nghĩa so với yếu tố tăng trưởng du lịch ở Tỉnh Ninh Bình ( Nghiên cứu trường hợp tại 3 làng : Kim Sơn, Văn Lâm, Ninh Vân ) Tuy vậy, cho đến trước cách mạng tháng 8 năm 1945, hầu hết những cơ sở ởNinh bình vẫn chỉ là những xưởng có quy mơ sản xuất nhỏ, công nghiệp sản xuấtthủ công, dựa đa phần vào bóc lột sức lao động của nhân cơng. Và khi cáchmạng tháng 8 thành cơng ở Tỉnh Ninh Bình ( ngày 24/8/1945 ), thì hầu hết những cơ sởcơng nghiệp của người Pháp và nhiều cơ sở của những chủ người Việt đã khơngcịn hoạt động giải trí. Sau cách mạng tháng 8, cùng với việc kiến thiết xây dựng nền kinh tế tài chính mới, chínhquyền cách mạng và nhân dân Ninh bình cũng mở màn quy trình thiết kế xây dựng vàphát triển nền công nghiệp của tỉnh. Để Giao hàng sản xuất và đời sống của nhândân, đồng thời sẵn sàng chuẩn bị cho công cuộc kháng chiến kiến quốc, tỉnh đã chú trọngđến tăng trưởng tiểu thủ công nghiệp, hồi sinh một số ít cơ sở công nghiệp như : nhàmáy điện và những xưởng sản xuất bánh kẹo ở thị xã Ninh bình ; mỏ than ĐầmĐùn, những xưởng dệt, xưởng sản xuất thuốc lá ở Nho Quan, sản xuất đá ở Hệdưỡng ( Hoa Lư ), sản xuất gạch ở Yên Từ ( huyện n Mơ ) ; những xưởng dệtchiếu, cói ở n Khánh, Kim Sơn, … Cũng trong thời hạn này, nhiều cơ sở côngnghiệp mới được hình thành như : mỏ than Quyết Thắng ở Nho Quan ; xưởnggiấy ở Lũ Đồng, Lê Xá, xưởng may mặc ở thị xã Me ( huyện Gia Viễn ) ; xínghiệp in, nhà máy sản xuất dược ở Hoa Lư ; những xưởng quân giới quân khu III ( ở độngBàn Long, Trung Trữ, Trường Yên ), xưởng quân giới quân khu IV ( ở NhoQuan ), phân xưởng sản xuất quân giới của bộ quốc phòng, xưởng quân giới củatỉnh và hàng chục xưởng cơ khí nhỏ sản xuất nông cụ thuyền sắt và phương tiệnvận tải ở huyện Nho Quan, Yên Khánh, Yên Mô, … Mặc dù phần đông những cơ sởcơng nghiệp mới được xây dựng có quy mơ nhỏ, điều kiện kèm theo sản xuất cịn nhiềukhó khăn tuy nhiên đã có những góp phần quan trọng Giao hàng đời sống, sản xuất củanhân dân và ship hàng cho công cuộc kháng chiến. Đầu những năm 1950, khi chiến sự ở Tỉnh Ninh Bình ngày một lan rộng vàtrở nên kinh khủng gây khó khăn vất vả trở ngại lớn cho những cở sở cơng nghiệp, tiểu thủcơng nghiệp và những cơ sở nói chung trên địa phận tỉnh, tuy nhiên nhiều cơ sở côngSinh Viên : Trần Thị Kim Cúc – Lớp VH1003 – ĐHDLHP22