Văn hóa vùng miền tại Việt Nam – Wikipedia tiếng Việt

Lỗi Lua: sai protection date: ngày 27 tháng 5 năm 2020.
Miền Bắc Việt Nam, Miền Trung Việt NamNam Bộ là các vùng lịch sử, địa lý và văn hóa trong Việt Nam. Mỗi khu vực bao gồm các tiểu vùng, với sự khác biệt đáng kể về văn hóa giữa các tiểu vùng.

Miền Bắc Việt Nam bao gồm các tiểu vùng sau:

Miền Trung Việt Nam bao gồm các tiểu vùng sau:

Miền Nam Việt Nam bao gồm các tiểu vùng sau:

Bối cảnh lịch sử vẻ vang[sửa|sửa mã nguồn]

Bản đồ phân loại của Đông Dương thuộc Pháp . Bắc và Nam Nước Ta ( 1955 – 1975 ) .

Đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc Việt Nam là quê hương truyền thống của các dân tộc Việt Nam (dân tộc Kinh), nơi có nhiều nền văn hóa thời đại đồ đồng như Phùng Nguyên và Đông Sơn có nguồn gốc hơn 4000 năm trước. Thông qua các cuộc di cư và chinh phục, người Việt dần dần lan rộng về phía nam trong một quá trình gọi là Nam Tiến ( Nam tiến ).

Miền Trung Nước Ta, từ Quảng Bình đến Bình Thuận là quê nhà của người Chăm, một nhóm dân tộc bản địa Malayo-Polynesia, những người đã xây dựng Vương quốc Ấn hóa riêng không liên quan gì đến nhau của họ trên vùng duyên hải miền Trung trước khi bị người Nước Ta chinh phục vào thế kỷ 15. Tiền thân của họ, những người ngày này được gọi là văn hóa truyền thống Sa Huỳnh, có từ năm 1000 TCN .Đồng bằng sông Cửu Long ở cực nam Nước Ta là một phần của Phù Nam, Chân Lạp sau đó là Đế quốc Angkor. Người Hoa và người Việt khởi đầu di cư hàng loạt đến vùng này trong khoảng chừng thế kỷ 17 đến thế kỷ 18 .Miền Bắc và Miền Nam Nước Ta là một khái niệm linh động, đổi khác liên tục trong suốt quy trình lịch sử dân tộc. Trong cuộc chiến tranh Lê – Mạc ( 1540 – 1592 ), Nước Ta được phân loại với nhà Mạc nắm giữ đồng bằng sông Hồng và nhà Lê kiểm soát miền Trung từ Thanh Hóa đến Tỉnh Bình Định trong khi Champa và người Khmer vẫn giữ những chính thể của họ xa hơn về phía nam .

Trong Trịnh – Nguyễn phân tranh (1627–1672), đất nước bị phân chia giữa hai vị chúa cai trị với ranh giới là sông Gianh, phía bắc tỉnh Quảng Bình. Miền Bắc gọi là Đàng Ngoài (Cõi Ngoài) do Chúa Trịnh và chúa Nguyễn ở miền Nam, gọi là Đàng Trong (Nội địa) hay Quảng Nam quốc , với các vua Lê trên danh nghĩa vẫn giữ vai trò là nguyên thủ quốc gia. Hai bên cai trị miền riêng của họ độc lập với bên kia, và thường xuyên chiến đấu với nhau. Sự tách biệt áp đặt đã khuyến khích hai khu vực phát triển nền văn hóa của riêng họ.

Sau Chiến tranh Tây Sơn ( 1771 – 1802 ) và xây dựng triều Nguyễn, quốc gia khởi đầu có hình dạng như lúc bấy giờ với TT quyền lực tối cao nay chuyển thành Huế ở miền Trung Nước Ta. Trong Thuộc địa Pháp, người Pháp chia quốc gia thành ba phần, trực tiếp quản lý Nam Kỳ trong khi xây dựng những bảo lãnh ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Do đó, Nam Kỳ chịu ảnh hưởng tác động trực tiếp của văn hóa truyền thống Pháp hơn hai miền còn lại. TP. Hà Nội, là TP. hà Nội của Đông Dương thuộc Pháp, là nơi duy nhất ở miền Bắc Nước Ta có tác động ảnh hưởng đáng kể của Pháp .Từ năm 1955 đến năm 1975, Nước Ta lại bị chia cắt thành hai vương quốc riêng không liên quan gì đến nhau, bị chia cắt bởi Sông Bến Hải tại Tỉnh Quảng Trị tại Vĩ tuyến 17. Miền Bắc, được quản lý bởi một cơ quan chính phủ cộng sản, tương hỗ bởi Trung Quốc và Liên Xô, trong khi miền Nam có nền kinh tế thị trường tự do, chính phủ nước nhà bán dân chủ, hệ tư tưởng dân tộc bản địa chủ nghĩa, liên minh với Hoa Kỳ, nước Australia, Đại Hàn Dân Quốc và Các vương quốc link với phương Tây. Mặc dù vương quốc đã được thống nhất từ năm 1975, nhưng sự độc lạ về ngôn từ, văn hóa truyền thống và những độc lạ khác giúp phân định hai khu vực với nhau, nhiều lúc cùng với những định kiến đi kèm .Thành phố lớn nhất ở miền Bắc là TP.HN, Thành Phố Hà Nội của vương quốc ; và thủ phủ kinh tế tài chính và thành phố lớn nhất của quốc gia ngày này là Thành phố Hồ Chí Minh ( trước kia gọi là TP HCM ) .

Sự độc lạ văn hóa truyền thống[sửa|sửa mã nguồn]

Sự độc lạ về văn hóa truyền thống giữa những vùng hoàn toàn có thể được chia thành hai loại chính : Khác biệt văn hóa truyền thống ” hữu hình ” như phục trang truyền thống lịch sử, nhà hàng Nước Ta, v.v. ; và những độc lạ văn hóa truyền thống ” phi vật thể ” đối phó với những định kiến ​ ​ về hành vi, thái độ và những điều tương tự như giữa người dân hai vùng này. Các cuộc bàn luận về sự độc lạ cố hữu giữa người miền Bắc và miền Nam bị cấm và hoàn toàn có thể bị coi là ” phản động ” trên những phương tiện đi lại tiếp thị quảng cáo do nhà nước quản trị [ 1 ] hoặc phá hoại đoàn kết dân tộc bản địa .

Đặc điểm và khuôn mẫu được nhận thức[sửa|sửa mã nguồn]

Trong khi quan hệ giữa người miền Bắc và người miền Nam nói chung là dân sự, sự tiếp xúc ngày càng tăng do dòng người miền Bắc vào miền Nam kể từ khi Chiến tranh Nước Ta mở màn đã làm phát sinh một số ít định kiến ​ ​ về người dân từ những vùng khác nhau :

  • Người miền Bắc, đặc biệt là người Hà Nội, có xu hướng coi mình là người có văn hóa và tinh tế hơn.[2][3]
  • Người miền Nam tự cho mình là năng động và khoan dung hơn.[2]
  • Người miền Bắc quan tâm hơn đến địa vị và ngoại hình.[2][4]
  • Người miền Nam tự do hơn với tiền bạc của họ trong khi người miền Bắc tiết kiệm hơn.[2]
  • Người miền Nam thường thích ăn nhậu, ít lo xa hơn trong khi người miền Bắc chăm chỉ và chịu khó hơn.
  • Người miền Bắc bảo thủ hơn và ngại thay đổi, trong khi người miền Nam năng động hơn.[4]
  • Người miền Nam bị phương Tây hóa nhiều hơn, trong khi người miền Bắc chịu ảnh hưởng Cộng sản nhiều hơn [5]
  • Người miền Nam bộc trực hơn trong khi người miền Bắc trang trọng hơn.[2][4] Người miền Bắc sử dụng rất nhiều phép tắc, ẩn dụ và châm biếm ngay cả trong lời nói hàng ngày của họ. Do đó, một số người miền Nam nói rằng họ đôi khi gặp khó khăn trong việc hiểu người miền Bắc.[5]

Ẩm thực là một trong những nét văn hóa khác biệt giữa các vùng miền. Miền Bắc Việt Nam là “cái nôi” của nền văn minh các dân tộc Việt Nam, mang nhiều món ăn đặc trưng của Việt Nam (như phở bún chả cá ). Các món ăn được cho là phức tạp về thành phần nhưng lại đơn giản về hương vị.

Ẩm thực miền Nam bị ảnh hưởng bởi các món ăn của người nhập cư miền Nam Trung Quốc và người Campuchia bản địa, do đó người miền Nam thích hương vị chua ngọt tương ứng trong nhiều món ăn. Ví dụ về các món ăn có vị chua bao gồm Canh chua và gỏi xoài xanh / gỏi đu đủ xanh. Người nấu ăn miền Nam cũng có xu hướng sử dụng nhiều loại nguyên liệu tươi hơn đáng kể trong khi ẩm thực miền Bắc chủ yếu dựa vào đồ bảo quản và đồ khô. Các món ăn miền Nam Việt Nam và Campuchia cũng có những điểm tương đồng đáng kể về nguyên liệu, cách nấu và món ăn, chẳng hạn như Hủ tiếu Nam Vang.

Cách nấu ăn miền Trung Nước Ta khác với nhà hàng của cả miền Bắc và miền Nam, ở chỗ sử dụng nhiều món ăn kèm nhỏ và yên cầu sự sẵn sàng chuẩn bị phức tạp hơn ( chuẩn bị sẵn sàng nguyên vật liệu, nấu ăn, ship hàng, v.v. ). Ẩm thực cung đình Huế coi trọng việc trình diễn món ăn hơn, ví dụ như Bánh bèo và Bánh bột lọc. Nó cũng đặc biệt quan trọng ở độ cay khi so sánh với những đối tác chiến lược của nó, ví dụ như ở Bún bò Huế. Các loại sản phẩm thực phẩm từ khu vực này cũng có xu thế nhỏ hơn trong khẩu phần riêng không liên quan gì đến nhau. Các món ăn miền Trung Nước Ta cũng có một lượng lớn món ăn hải sản .Một số thực phẩm khác thường thông dụng ở một vùng này hơn ở vùng khác. Ví dụ : thịt chó ở miền Bắc phổ cập hơn nhiều ở miền Nam. [ 6 ] Ở miền Bắc cũng ăn thịt mèo của quốc gia. [ 7 ] [ 8 ] Tương tự, một số ít món món ăn hải sản và thịt thú săn, ví dụ điển hình như cá basa hoặc thịt động vật hoang dã gặm nhấm nướng, tuy phổ cập ở những vùng khác của quốc gia, không phổ cập ở miền Bắc .Miền Nam Nước Ta có nền văn hóa truyền thống cafe nổi tiếng trong khi trà là thức uống được ưu thích ở miền Bắc .
Quần áo truyền thống cuội nguồn cũng thường được sử dụng để tượng trưng cho những vùng khác nhau. Trong phục trang của phụ nữ, thường Áo tứ thân gắn với miền Bắc, áo dài với miền Trung ( do Open trong cung đình Nước Ta vào thế kỷ 18 ), và Áo bà ba ở miền Nam ( mặc dầu nhiều bộ quần áo này được mặc ở những vùng khác nhau ). Tuy nhiên, áo dài lúc bấy giờ là phục trang được phụ nữ mặc rất thông dụng và thoáng đãng trên toàn nước .

Sự độc lạ về ngôn từ[sửa|sửa mã nguồn]

Bản đồ phương ngữ Nước Ta .Tiếng Việt có nhiều trọng âm, ba phương ngữ chính là Bắc, Trung và Nam với sự độc lạ lớn về âm vị và từ vựng. Do sự điển hình nổi bật về văn hóa truyền thống, giọng Thành Phố Hà Nội và Hồ Chí Minh phần đông dễ hiểu so với những người nói từ những vùng khác. Phương ngữ và giọng miền Trung, đơn cử là từ những tỉnh Nghệ An, thành phố Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Tỉnh Quảng Ngãi, Tỉnh Bình Định, Phú Yên thường khó hiểu được so với những người nói ngoài những vùng này .Sự độc lạ trong những trọng âm này nằm ở một số ít yếu tố khác nhau, gồm có nhưng không số lượng giới hạn ở những điều sau :

Trong tiếng Trung, số âm giảm xuống còn 5 (giọng Quảng Bình, Quảng Trị và Huế) hoặc chỉ còn 4 (giọng Hà Tĩnh và Nghệ An). Một trong những đặc điểm khác biệt của tiếng 8 tỉnh, thành miền Trung, từ tiếng Thanh Hóa cho đến tiếng Đà Nẵng, tiếng Quảng Nam là việc sử dụng một bộ tiểu từ và đại từ khác nhau, khiến nó trở nên khác biệt với tiếng Bắc và tiếng Nam. Ví dụ: chi , , , răng rứa (cái gì, ở đâu, cái đó, tại sao và như vậy) được dùng thay cho , đâu , kìa , sao vậy trong tiếng Việt Chuẩn.

Mặc dù những độc lạ này có vẻ như hời hợt so với những người không nói tiếng Việt, nhưng ngay cả sự độc lạ về âm vị học Các từ vựng của những vùng khác nhau cũng khác nhau. giữa miền Bắc và miền Nam Nước Ta khá điển hình nổi bật .

Thuật ngữ thân tộc bị ảnh hưởng đặc biệt, vì mỗi thuật ngữ có một ý nghĩa khác nhau ở mỗi vùng. Ở miền Nam, con cả trong một gia đình được gọi bằng số thứ tự hai, trong khi ở miền Bắc “số hai” chỉ con cả. Từ vựng của các vùng khác nhau cũng khác nhau. Sự khác biệt về từ vựng có thể gây nhầm lẫn vì đôi khi cùng một từ có thể có nghĩa khác nhau trong mỗi phương ngữ. Ví dụ, từ thăng dùng để chỉ hai loại trái cây khác nhau: nó được dùng cho Prunus salicina (một loại mận) ở miền Bắc, trong khi ở miền Nam nó dùng để chỉ Syzygium samarangense (hồng táo). Tương tự, dĩa có nghĩa là “đĩa” trong tiếng Nam Việt và “dĩa” trong tiếng Bắc Việt; chè là một món tráng miệng ở miền Nam Việt Nam nhưng có nghĩa là “trà” ở miền Bắc Việt Nam, ốm có nghĩa là đau ở miền Bắc Việt Nam và gầy ở miền Nam Việt Nam. “bông” dùng để chỉ hoa trong tiếng Nam Việt nhưng có nghĩa là bông trong tiếng Bắc Việt, từ “xì” trong tiếng Nam Việt là một từ chửi trong tiếng Việt Bắc.

Bản đồ khí hậu Nước Ta .Trong khi cả nước nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có sự độc lạ khá lớn về khí hậu giữa miền Bắc và miền Nam Nước Ta .

Sự độc lạ về khí hậu[sửa|sửa mã nguồn]

Miền Bắc Việt Nam có khí hậu cận nhiệt đới ẩm, có đủ bốn mùa, với nhiệt độ mát hơn nhiều so với miền Nam (có khí hậu xavan nhiệt đới), cũng như mùa đông có thể khá lạnh, đôi khi có sương giá và thậm chí (hiếm khi) có tuyết rơi. Nhiệt độ thấp nhất đạt được ở Hà Nội là 2,7 °C vào năm 1955.[1]:Nhiệt độ thấp nhất được ghi nhận ở Hà Nội. Tuyết thậm chí có thể được tìm thấy ở phạm vi rộng ở vùng núi ở các vùng cực Bắc ở những nơi như Sa Pa và Lạng Sơn.

Miền Nam Nước Ta, với nhiệt độ nóng hơn nhiều, chỉ có hai mùa chính : mùa khô và mùa mưa .

Sự độc lạ văn hóa truyền thống nhỏ[sửa|sửa mã nguồn]

  • Trong khi người miền Nam thường cắm hoa vào Tết Nguyên đán (Tết) với hoa mai thì người miền Bắc thường chuộng hoa hoa đào.
  • Tỉ lệ hộ gia đình miền Bắc sở hữu nhiều ô tô cá nhân hơn trong khi người miền Nam đi lại bằng xe máy nhiều hơn. Nhà cửa người miền Bắc thường kiên cố, cao tầng hơn trong khi nhà cửa người miền Nam thường đơn giản hơn.[9]
  • Về đặc điểm nhân chủng, dáng vẻ bên ngoài thì người miền Nam thường nhỏ con trong khi người miền Bắc thường to cao và da sáng tự nhiên hơn.

Bản mẫu : Danh sách trình làng

Liên kết bên ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Chuyên mục : Địa lý Nước Ta Chuyên mục : Văn hóa Nước Ta