văn hóa nông thôn – Tài liệu text
văn hóa nông thôn
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (79.87 KB, 14 trang )
Bạn đang đọc: văn hóa nông thôn – Tài liệu text
CHUYÊN ĐỀ: VĂN HÓA NÔNG THÔN
MÔN: XÃ HỘI HỌC NÔNG THÔN
1.Khái niệm văn hóa:
Văn hóa có nhiều góc độ nhìn nhận và định nghĩa. Có thể xem văn
hóa như là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và
xúc cảm, quyết định tính cách, bản sắc của một cộng đồng, một dân tộc.
XHH coi văn hóa như là một tập hợp những quan niệm, giá trị, chuẩn
mực và mục tiêu mà mọi người trong xã hội cùng nhau chia sẻ trong đời
sống hoạt động hàng ngày của họ.
2.Các yếu tố của văn hóa nông thôn:
Mỗi nền văn hóa bao gồm những thành tố mà các thành viên của cộng
đồng cùng chia sẻ với nhau.
2.1.Chân lý: do những quan niệm chung mang lại.
2.2.Hệ giá trị:
Fichter: Tất cả những cái gì có lợi, đáng ham chuộng, đáng kính phục
đối với cá nhân, hoặc xã hội đều có một giá trị.
Những giá trị đều được sắp xếp theo tầm quan trọng, ý nghĩa và sự
ảnh hưởng của chúng đối với các thành viên trong xã hội. Chúng tập hợp lại
thành một thang bậc những giá trị xã hội. Có những giá trị mà mọi thành
viên đều chia sẻ với nhau, có những giá trị mà mọi xã hội đều hết sức né
tránh. Những thang bậc của các giá trị trở thành cơ sở để xây dựng những
tiêu chí “thưởng – phạt” của một hệ thống xã hội nhất định. Vì vậy, mỗi xã
hội đều có những khung hình phạt và các mức độ khen chê khác nhau.
Những giá trị tạo thành những tiêu chí mà mọi thành viên trong xã hội
noi theo. Chính quá trình gia nhập vào xã hội là quá trình cá nhân học và
tuân theo những giá trị xã hội.
1
Để đánh giá một sự kiện hay một khuôn mẫu hành vi, một tác phong,
người ta căn cứ vào giá trị. Vì vậy, giá trị có chức năng đánh giá, điều chỉnh
hành vi của các cá nhân.
Durkheim: Giá trị là những lý tưởng tập thể và nó có tác dụng chi
phối, điều chỉnh tư tưởng và hành động của con người theo khuôn mẫu xã
hội.
2.3.Chuẩn mực:
– Là những cung cách bắt buộc được mô hình hóa thành hành vi, dành
cho một vị trí xã hội (vị thế xã hội).
– Thể hiện thành các quy tắc, quy định, đòi hỏi của xã hội đối với một
khuôn mẫu tác phong. Chuẩn mực cho biết phải hành động như thế nào
trong một tổ chức xã hội, trong một tình huống xã hội cụ thể.
2.4.Mục tiêu:
– Là cái đích thực tế được đặt ra. Mọi người cùng nhau tổ chức hoạt
động của mình xoay quanh những cái đích thực tế đó.
2.5.Các yếu tố khác:
Ngoài những yếu tố trên, văn hóa còn bao gồm: ngôn ngữ, biểu tượng,
nghệ thuật âm thanh và nghệ thuật trình diễn (thơ, hát ru, hò khi trợ giúp
trong lao động, lúc nghỉ ngơi thì có hát quan họ – hát đúm – hát xoan – ví
dặm – hát bài chòi…Hát chèo, hát tuồng, cải lương, ca vọng cổ, múa rối
nước…Hát giao duyên, hát xẩm, hát chầu văn…).
Nghệ thuật tạo hình: trang trí khắc chạm. Dưới bàn tay những nghệ
nhân, những người thợ đã tạo ra những đồ vật, sản phẩm mang tính nghệ
thuật cao.
Kiểu kiến thiết nhà cửa và nghệ thuật kiến trúc xây dựng đã tạo thành
một yếu tố trong văn hóa nông thôn. Hình dáng ngôi nhà, đình, chùa, miếu
mạo, lăng tẩm…phản ánh những nét độc đáo của văn hóa nông thôn. Ngôi
2
nhà có hình dáng và cấu trúc phù hợp với khí hậu nơi ở. Trong nông thôn,
ngôi nhà là biểu trưng cho gia thế của gia đình và là nơi sinh sống, sinh hoạt
của người dân.
Ví dụ: “Nhà cao cửa rộng” là một tiêu chí để xây nhà. Nhà cao gồm 2 yêu
cầu: nơi đặt chân cao so với mặt đất (có tác dụng để đối phó với lũ lụt, ẩm
ướt, tránh côn trùng) và mái cao so với nơi người đặt chân (nhằm tạo không
gian thoáng mát trong nhà để đối phó với nắng nóng và ẩm thấp). Cách bài
trí trong nhà, nơi đặt bàn thờ cũng theo những quy tắc nhất định…”Lấy vợ
hiền hòa, làm nhà hướng Nam”.
3.Loại hình văn hóa:
Văn hóa luôn được truyền tải. Sự lưu truyền văn hóa được thực hiện
thông qua ngôn ngữ. Mà ngôn ngữ bao gồm cả ngôn ngữ viết, những ký
hiệu, dấu hiệu được tích cóp và truyền từ thế hệ nọ sang thế hệ kia. Đồng
thời, nó được thể hiện trong những loại hình kiến trúc, văn học, điêu khắc,
kịch, nhạc, họa, điện ảnh…Vì thế văn hóa có hai loại hình: văn hóa vật chất
và văn hóa tinh thần.
Nhờ vào ngôn ngữ mà văn hóa được lan truyền, gây ảnh hưởng. Do
vậy, văn hóa mang tính xã hội. Quá trình con người gia nhập vào xã hội
chính là quá trình học tập và làm theo những gì mà nền văn hóa đã tạo dựng.
Đó là quá trình tiếp thu các quy luật văn hóa.
Toàn bộ các thành tố của văn hóa được thể hiện thành những khuôn
mẫu văn hóa (tác phong xã hội, khuôn mẫu hành vi, hành động xã hội…),
thành tín ngưỡng, phong tục tập quán, tục lệ. Chúng thể hiện ra trong đời
sống hàng ngày những những nghi lễ trong giao tiếp và ứng xử xã hội.
Chúng tạo thành một nếp sống đặc thù – nếp sống của một cộng đồng, một
xã hội.
3
4.Văn hóa làng xã và nét đặc thù của nó:
Văn hóa làng xã là một hệ thống những chân lý, giá trị, chuẩn mực và
mục tiêu mà các thành viên của nó luôn chia sẻ trong cuộc sống và hoạt
động.
Trong làng xã có những quy định được ghi thành hệ thống những
chuẩn mực, gọi là hương ước. Trong xã hội truyền thống, mỗi làng đều có
hương ước riêng. Hương ước bao gồm những quy định về trách nhiệm,
nghĩa vụ của mỗi thành viên trong cộng đồng làng (luật, lệ của làng). Trong
mỗi làng, các giá trị – chuẩn mực, quan niệm đã tạo thành lối sống riêng, là
nét biểu hiện đặc thù của xã hội nông thôn.
Văn hóa làng còn được thể hiện trong những quy tắc ứng xử, lễ hội
của làng và cả những giá trị tín ngưỡng trong tâm linh của mỗi thành viên
cộng đồng. Mỗi làng là chủ thể sáng tạo ra những giá trị văn hóa. Những
thành viên của làng vừa là người sáng tạo, vừa là người tổ chức thực hiện,
hưởng thụ => thể hiện tính chất dân gian, tính cộng đồng, tính tập thể của
văn hóa làng.
Mỗi làng đều muốn khẳng định cái riêng của mình thông qua việc
khẳng định cái “ta” của làng. Trong hành vi ứng xử, các thành viên của làng
luôn hướng đến và khẳng định tính đặc trưng của làng mình. Mặt khác, văn
hóa làng còn thể hiện qua kiến trúc của làng. Ví dụ như, hướng đình, vị trí,
quy mô to nhỏ, kiểu cách kiến trúc của đình làng, phong thổ nơi đặt đình,
điều kiện vật chất do các thành viên của làng đóng góp.
Cái ta của làng còn thể hiện qua trình độ học vấn của làng này so với
làng khác, được thể hiện ở số người đỗ đạt, làm quan, thể hiện qua những cái
cộng đồng đóng góp để xây dựng lớp, mở trường; thể hiện ở những đội văn
nghệ hát xướng, luôn được các đàn anh đàn chị kèm cặp để có dịp trổ tài với
4
những làng khác. Cái chung của làng này lại là cái riêng trong sự đối chiếu,
so sánh với các làng khác => nâng cao vị thế của làng.
Văn hóa làng còn thể hiện ở những truyện dân gian, được người dân
của làng sáng tác, bảo lưu, truyền tụng, bổ sung. Những di sản văn hóa đạo
đức được sinh ra trong cái nôi của làng, tạo ra những thuần phong mỹ tục,
cung cách ứng xử trong làng.
Trong văn hóa làng, còn phải kể đến:
4.1.Lễ hội:
Văn hóa được biểu hiện ra trong đời sống, hoạt động của con người
dưới dạng lễ tết, lễ hội. Tết gồm có 2 phần: cúng ông bà tổ tiên (lễ) và ăn
uống bù cho những ngày lao động vất vả (tết). Có nhiều loại Tết: tết nguyên
đán, tết thượng nguyên, tết hàn thực (mùng 3/3), tết đoan ngọ, tết rằm tháng
bảy, tết trung thu, tết cơm mới (mùng 10/10), tết ông Táo…Các tết được
phân bố theo âm lịch.
Lễ hội thiên về hoạt động tinh thần: ăn tết, nhưng chơi hội, xem hội.
Lễ hội có 2 phần: phần lễ và phần hội. Phần lễ mang ý nghĩa cầu xin và tạ ơn
thần linh bảo trợ cho cuộc sống của cộng đồng. Có nhiều loại lễ: lễ cầu mưa,
lễ xuống đồng, lễ cơm mới, ra khơi…Lễ hội kỷ niệm những anh hùng, chiến
thắng như hội Đền Hùng, hội Đền Kiếp Bạc, hội Đền Hai Bà Trưng…Lễ hội
tôn giáo và văn hóa như hội Chùa Hương, hội Phủ Giầy…Phần hội gồm các
trò vui chơi giải trí hết sức phong phú. Mọi trò chơi đều thể hiện ước vọng
của con người. Các trò chơi như thi đốt pháo, đi thuyền, đánh pháo đất…là
những trò mô phỏng tiếng sấm nhắc trời làm mưa. Xuất phát từ ước vọng
phồn thực, có những trò chơi như ném còn, nhún đu, cướp cầu thả lỗ…Xuất
phát từ ước vọng rèn luyện khéo léo có các trò chơi thi nấu cơm, thi đuổi vịt,
thi dệt vải, thả diều…Còn xuất phát từ ước vọng khỏe mạnh có các trò chơi
thi đấu vật, kéo co. Xuất phát từ ước vọng thông minh có hội cờ…
5
Như vậy, Văn hóa làng thể hiện qua lễ hội của làng. Trong lễ hội, các
nét nổi trội của làng được thể hiện ra thành cái đẹp trong suy nghĩ, đối đáp
qua lời ăn tiếng nói, cử chỉ, nét mặt, quần áo…Trong hội làng, tất cả những
gì còn ở dạng tiềm ẩn hoặc mới được phôi thai được bộc lộ, khẳng định và
thi thố. Trong lễ hội, người ta mới thấy hết tài đối đáp, giọng hát, lời ca, tài
trí đấu vật, cờ, thi tài năng của mỗi làng. Do đó, hội thu hút sự tham gia của
toàn thể dân làng.
Lễ hội còn thể hiện qua phần lễ – cúng tế. Nó tuân thủ những quy tắc
nghiêm ngặt mà các thành viên trong làng phải tuân theo:
– Lễ đội tế: bao gồm thành phần các bô lão trong làng, với các nghi
thức uy nghiêm. Ví dụ như trong lễ tế thần thành hoàng làng, bao gồm một
chuỗi liên kết, có trật tự của các nghi lễ – lễ rước nước, lễ mộc dục (lễ tắm
rửa tượng thần), lễ gia quan (lễ khoác áo mũ cho tượng thần), đám rước, đại
tế, lễ túc trực…
– Người chủ hội làng không phải là bộ máy hành chính thôn (làng) mà
là các cụ bô lão trong làng.
– Phụ nữ không được làm chủ tế, không được tham gia những nghi lễ
được coi là thiêng liêng. Chỉ tham gia nấu nướng, đồ xôi, làm oản, đồ
cúng…lễ dâng hương.
Hội làng có ảnh hưởng mạnh và lôi cuốn sự tham gia của các thành
viên trong làng. Tổ chức hội làng có sự phối hợp của các tổ chức khác nhau
(hành chính, đoàn thể, các hội) dưới sự điều hành của Hội người cao tuổi,
thực hiện tự nguyện và thành lệ. Các thành viên chuẩn bị, đóng góp và cùng
nhau trẩy hội. Kể cả con cháu phương xa cũng trở về, cùng nhau vui vẻ.
Có thể nói, hội làng là sinh hoạt của toàn thể cộng đồng làng, là việc
chung của làng và là cái gắn kết các thành viên trong làng. Hội làng đáp ứng
được nhu cầu sống của cộng đồng và là dịp để bày tỏ lòng biết ơn đối với tổ
6
tiên và những người có công với làng. Đồng thời, cũng là dịp để vui chơi,
trao đổi. Hội làng là ngày hội duy nhất và riêng của cộng đồng làng. Linh
hồn của hội làng là hội, là không khí Hội, là sinh hoạt cộng đồng và ý thức
cộng đồng.
Ngày nay, trong các làng, sau thời gian bị mai một, lễ hội lại được
phục hồi trở lại. Hiện tượng đó và đã đang tạo ra 2 xu hướng ảnh hưởng:
một mặt, chúng duy trì hoạt động văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, gìn giữ và
phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của cộng đồng làng xã; mặt khác, nó
bộc lộ những tiêu cực khi một số làng đã đẩy mạnh và phục hồi cả những cái
cổ hủ, lạc hậu không hợp với thời đại.
4.2.Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng:
Quan niệm có một vị thần bảo vệ cho cả cộng đồng làng xã, tín
ngưỡng thờ thành hoàng là trục trung tâm của các sinh hoạt văn hóa, tôn
giáo, đáp ứng được nhu cầu về đời sống tâm linh cho các thành viên, cũng
như cho từng cộng đồng cư dân Việt ở nông thôn, có tác động lớn tới lối
sống của người nông dân.
Thành hoàng làng là một vị thần, là hộ mệnh của làng, được tôn thờ
trong đình làng, là chỗ dựa cho người dân.
Thành hoàng làng còn được coi như vị thần tối linh, có thể bao quát,
chứng kiến toàn bộ đời sống, bảo vệ – phù hộ cho dân làng.
Thành hoàng làng có nhiều nguồn gốc: nam thần, nữ thần theo truyền
thuyết của mỗi làng. Có thể là vị thần đại diện cho sức mạnh của tự nhiên,
hoặc có thể là nhân vật lịch sử hoặc có công với dân làng.
Nguồn gốc của Thành hoàng làng:
(1)-Nhiên thần: những người đại diện cho sức mạnh của tự nhiên. Bao
gồm, thiên thần – có nguồn gốc từ trời, Thành hoàng tứ pháp (mây, mưa,
sấm, chớp) hoặc một số vị tinh tú trên trời; sơn thần – tùy từng địa phương
7
mà có sơn thần khác nhau như Cao sơn thần, Tản Viên….thường ở vùng ven
núi; Thủy thần như cá Voi, cá Ông (thờ Đức ông) ở vùng ven biển; thổ thần
– là thổ dân của các thôn làng.
(2)-Nhân thần: cá nhân cụ thể được tôn thành thần Thành hoàng làng.
Thường là nhân vật lịch sử – vị anh hùng có công đánh giặc ngoại xâm,
người có công truyền dạy cho dân làng một nghề thủ công, người khai phá
lập làng, có công đắp đê, chống lụt, phòng trừ bệnh tật…, là người hiền sĩ
mở mang dân trí.
=>Thể hiện tính chất phức tạp, đa dạng của Thành hoàng làng.
Như vậy, Thành hoàng làng phản ánh rõ nét đời sống cộng đồng làng
xã, biểu hiện ý thức tâm lý cộng đồng làng xã. Thành hoàng làng là sợi dây
để dân làng đoàn kết, gắn bó với nhau, tình cảm cộng đồng và sự tồn tại
cộng đồng luôn được đặt lên trên hết.
Cái ta của làng được thể hiện trong tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng.
Mỗi làng có một vị thần, quyền uy của Thành hoàng làng chỉ có ý nghĩa
trong làng, trong phạm vi mà thần cai quản.
Tính chất cộng đồng làng còn biểu hiện ở sự trừng phạt của thần với
toàn thể cộng đồng khi một thành viên nào đó vi phạm những điều cấm kỵ
hay những tập tục mà thần bảo vệ.
Thờ cúng Thành hoàng làng là việc chung của cả cộng đồng. Ngày lễ
thần là ngày hội lớn của làng với nhiều ý nghĩa. Tín ngưỡng Thành hoàng
làng là tín ngưỡng của cộng đồng làng xã.
4.3.Chợ làng:
Trong lịch sử phát triển của các vùng miền, chợ luôn là không gian
phản ánh sự phát triển về kinh tế và những sinh hoạt văn hóa xã hội đặc
trưng của địa phương. Chợ làng ra đời nhằm phục vụ nhu cầu sản xuất, giao
8
lưu kinh tế và sinh hoạt của nhân dân, không chỉ đối với người dân của làng
mình mà cả với các làng xung quanh.
Mọi người đi chợ, ngoài việc thỏa mãn nhu cầu trao đổi hàng hóa, còn
thực hiện việc giao lưu tình cảm, gặp gỡ người thân và tiêu dùng cho một số
loại hình văn hóa truyền thống: gánh xiếc, mãi võ bán thuốc…Vì vậy, trong
dân gian còn có khái niệm “đi chơi chợ”.
Do đặc điểm làm thủ công, hàng hóa đem ra trao đổi trên thị trường ít,
sức mua ít nên chợ làng thường họp theo phiên. Do đó, khi chợ mở, người
dân nô nức kéo nhau đi chợ, thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần.
Có những chợ làng có sự đa dạng và phong phú của các loại hàng hóa,
có những chợ làng mở ra chỉ để phục vụ cho một nhu cầu đặc biệt: chợ mua
bán trâu bò, chợ chuyên mua bán vải sợi….
Hiện nay, do quá trình phát triển, chợ làng đã có nhiều thay đổi, diễn
ra hàng ngày nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân. Tuy nhiên, tại một số
địa phương, vẫn duy trì hình thức chợ làng họp theo phiên.
4.4.Lối sống của người nông thôn Việt Nam: Từ truyền thống đến hiện
đại
Lối sống của người dân nông thôn có những đặc điểm:
(1)-Hòa đồng với thiên nhiên, nương theo thiên nhiên để làm lợi cho
mình => Với một khu rừng, không được chặt cây hay đốt phá vào mùa khô.
Với một khúc sông, dòng suối hay đầm hồ, không được tát cạn để bắt cá.
Lối sống hòa đồng với thiên nhiên được coi như bản sắc văn hóa của
người Việt. Làng với lũy tre xanh, mái đình, cây đa, bến nước…đã in sâu
vào tâm khảm của người dân quê, nảy sinh tình cảm gắn bó keo sơn với quê
hương làng xóm, và nâng lên thành tình yêu đất nước. Vì vậy, luôn sẵn sàng
đổ máu, hy sinh để giữ lấy mảnh đất chôn rau cắt rốn của mình.
9
Tuy nhiên, thế ứng xử hòa đồng với thiên nhiên làm cho con người
luôn thụ động, bất lực trước những diễn biến bất thường của thiên tai. Sự bất
lực của con người trước thiên tai đã tạo điều kiện cho mê tín, dị đoan nảy nở
và phát triển, thể hiện qua các lễ cầu mát, cầu đảo…
(2)-Quý trọng người lao động và sức lao động, đề cao tinh thần yêu
lao động, phê phán sự lười biếng => “Thế gian chuộng của chuộng công,
nào ai có chuộng người không bao giờ”, “Rủ nhau đi cấy đi cày, bây giờ khó
nhọc có ngày phong lưu”, “Cơm ăn một bát sao no, ruộng làm một lượt sao
cho đành lòng”, “Tích tiểu thành đại, mưa dầm lắm nước”…những kẻ lười
biếng bỏ hoang ruộng vườn bị phạt bằng hình thức đánh roi.
(3)-Chấp nhận và thích nghi với điều kiện nghèo khổ, đề cao tiết kiệm
=> “Thịt cá là hương hoa, tương cà là gia bản”, “Người ta có thể đi khắp xứ
An Nam và người ta sẽ không hề thấy được sự khác nhau quá chênh lệch
giữa mức sống của các cá nhân…Sự xa xỉ là không biết đến”…
Lối sống tiết kiệm, không xa hoa lãng phí bao giờ cũng đi liền với
những tư tưởng sống, những quan hệ xã hội lành mạnh. Tiết kiệm giúp con
người biết quý trọng sức lao động, trân trọng những giá trị lao động do mình
làm ra. Đồng thời hình thành một ý thức và tinh thần trách nhiệm của các thế
hệ người VN: thế hệ trước luôn ăn dụm để dành, vun vén để lo toan, gây
dựng cho thế hệ sau những điều kiện tốt nhất trong khả năng cho phép.
Tuy nhiên, tiết kiệm quá mức trở thành hà tiện, “ăn đói mặc rách để
tích tiểu thành đại” để làm giàu, làm cho con người sống khốn khó, gò bó,
không mở rộng được các quan hệ KT-XH. Nhiều người lấy hà tiện làm biện
pháp tích lũy của cải để rồi cất giấu tiền bạc..tạo thành những vốn chết
không được dùng để sản xuất. Vì vậy, sự nhạy cảm đối với việc sản xuất
kinh doanh bằng việc quay nhanh đồng vốn trong tư duy kinh tế của người
nông dân rất kém.
10
(4)-Một lối sống dựa trên kinh nghiệm, do vậy, tuổi tác và người già
được đề cao => Kính già, trọng lão, coi trọng kinh nghiệm của họ.
Kinh nghiệm được coi trọng và tuổi tác được đề cao cũng có mặt trái.
Nó làm cho người nông dân quen thỏa mãn với vốn trí thức kinh nghiệm
chật hẹp, coi kinh nghiệm là duy nhất và trên hết, từ đó tạo ra óc bảo thủ,
ngăn cản việc áp dụng các thành tựu KHKT, không thúc đẩy tăng năng suất
lao động. Tư tưởng trọng lão buộc phải phục tùng không điều kiện người
trên tuổi, làm người già trở nên bảo thủ, coi thường và hạn chế sự sáng tạo
của lớp trẻ, tạo ra sự mất dân chủ và bình đẳng giữa các thế hệ => Độc đoán,
hẹp hòi, chuyên quyền.
(5)-Một lối sống đề cao tính cộng đồng, vị thế và nhân cách cá nhân
phụ thuộc chặt chẽ vào tập thể:
– Quan tâm, giúp đỡ người khác, coi trọng tình làng nghĩa xóm, đề cao
tinh thần đoàn kết và cố kết làng xã. Thể hiện trong cưới xin, tang ma, làm
nhà…”Mọi người phải đến giúp người khác lợp nhà, đưa ma mà không cần
chủ nhà yêu cầu. Nếu đánh chửi nhau, hà hiếp hay gây thù oán bị phạt
nặng…”Thương người như thể thương thân”, “Một miếng khi đói bằng một
gió khi no”, “Sống có trước có sau”…
– Quan tâm tới các công việc công ích, tích cực đóng góp xây dựng
làng xã, hoàn thành đầy đủ các nghĩa vụ với làng với nước => Làm thủy lợi,
xây dựng các công trình công cộng, bảo vệ an ninh, biện lễ và phục vụ việc
thờ cúng thành hoàng, tu bổ đình chùa…
– Chú trọng giữ gìn vị thế và nhân cách cá nhân, nhân cách cộng đồng
=> “Xấu đều hơn tốt lỏi”, cá tính, tài năng, quyền tự do của mỗi người
không được coi tọng mà phải hướng vào giá trị cộng đồng và phục vụ cộng
đồng, coi trọng nhân cách thanh danh hơn là trọng tài năng và sự giàu có,
sống vì danh, luôn chú trọng giữ gìn thanh danh.
11
Hạn chế: Lối sống cộng đồng làm con người không phát huy được
năng lực cá nhân, vì danh dự và quyền lợi cộng đồng mà phải giữ mình,
không dám thể hiện bản lĩnh, sở trường, năng khiếu cá nhân để làm lợi cho
mình, phó mặc số phận mình với cộng đồng. Từ đó, dễ nảy sinh thói đố kị,
ghen ghét, tạo cơ sở cho mất dân chủ và áp bức chuyên chế.
Vì tính cộng đồng nên nhiều công việc của từng cá nhân được thực
hiện với sự tham gia của nhiều người mà không tính toán đến hiệu quả kinh
tế (ăn cưới cả làng, tang cả làng…), gây lãng phí rất lớn. Nhiều khi chỉ vì vị
thế, uy thế, có khi chỉ vì một miếng ăn mà hình thành những định hướng
xấu, dư luận xấu của cộng đồng với cá nhân (ma chê, cưới trách).
Làm nảy sinh óc cục bộ cộng đồng, nhất là cục bộ dòng họ và cục bộ
làng xã. Dẫn đến 2 khuynh hướng: hoặc móc ngoặc, dựa dẫm, bao che cho
nhau; hoặc có những hành động vì “danh dự và quyền lợi” của cộng đồng
(họ mình, làng mình) mà mù quáng lao vào những vụ tranh chấp, kiện tụng,
ẩu đả với các dòng họ khác, làng khác….
(6)-Một lối sống coi trọng và đề cao cái tâm, chữ tín và đạo hiếu, lễ
nghĩa => Một sự bất tín, vạn sự bất tin. Bố mẹ phải dạy dỗ con cái nên
người, con cái phải phụng dưỡng cha mẹ già, anh em phải hòa thuận, không
được tranh chấp nhau, vợ chồng phải giữ lòng thương yêu nhâu, dốc lòng
với ân nghĩa. Bất hiếu là điều hổ thẹn nhất và bị dư luận lên án gay gắt.
“Có thể ngươi ta không tìm thấy ở bất cứ dân tộc nào trên trái đất này
một sự gắn bó hoàn hảo trong gia đình, một tình cảm sâu sắc như ở dân tộc
An Nam”.
Lễ nghĩa và lòng nhân đức cũng được coi trọng trong quan hệ ngoài
gia đình, biểu hiện như lòng trung thực, sự thủy chung, tính nhường nhịn,
lòng nhân nghĩa, tính hiền hòa vị tha….
12
Như vậy, lối sống vì cộng đồng, đề cao cái tâm, chữ tín, lòng hiếu
nghĩa…là truyền thống quý báu của người VN. Một sự tin nhau, đối xử với
nhau vì tâm, vì tình, vì nghĩa chứ không phải vì vật chất, tiền bạc giữa
những người cùng làng xóm. Còn trong gia đình, dòng họ, bố mẹ phải lo
toan cho con cái, con cháu phải báo hiếu với bố mẹ, ông bà; anh em phải hòa
thuận…đã giúp người nông dân đoàn kết và cố kết chặt chẽ với nhau, giúp
đỡ nhau trong cuộc sống thường ngày để từng bước khắc phục và vượt qua
những khó khăn, thiếu thốn.
(7)-Một lối sống theo luật tục, không theo pháp luật.
Đây là hạn chế lớn nhất trong di sản truyền thống của người Việt. Một
nét tổng quát cho lịch sử pháp luật VN: nhân dân không hiểu biết, nền pháp
luật của nhà nước vốn thiếu đầy đủ lại kém hiệu lực. Luật nước muốn vào
được làng, muốn đến với người nông dân phải chịu một sự khúc xạ qua cầu
nối là lệ làng và tổ chức làng xã.
Do vậy, tình trạng vi phạm pháp luật ở mọi tầng lớp là phổ biến: dân
thì dễ mắc vào hình sự, quan thì hay ăn hối lộ, tham ô, xúi bẩy kiện tụng…
Người dân còn thiếu dũng khí trước pháp luật nên bị quan trên lợi dụng, áp
bức, pháp luật không nghiêm, không bình đẳng, tạo đà cho sự mất dân chủ
và áp bức chuyên chế. Tình trạng “mù luật” và “liều luật” gây nhiều tệ nạn
xã hội đến mức báo động trong mấy năm gần đầy là sự thể hiện rõ nét nhất
của lối sống theo luật tục, không theo pháp luật, của tinh thần “phép vua
thua lệ làng” trong di sản truyền thống.
(8)-Tính ảo và tính thực tế là tính hai mặt trong lối sống của người
nông dân. Một mặt, hay giáo điều, khi chưa có lợi ích trước mắt thì cố bám
lấy một cái gì đó giáo điều, linh thiêng làm chuẩn mực. Nhưng khi cái linh
thiêng, xa vời và giáo điều vô hiệu nghiệm, nguyên tắc không còn được tôn
13
trọng, óc thực tế, thực dụng nổi lên, và vì quyền lợi trước mắt, người nông
dân rất dễ hành động vượt khuôn phép.
Nếu tính thực tế làm cho họ chỉ nhằm tới những lợi ích thực tế, trước
mắt, biến họ dễ trở thành những con người thực dụng, ích kỷ. Vì quyền lợi
trước mắt có thể từ bỏ danh dự, nhân phẩm, đạo lý của bản thân và của cộng
đồng. Ngược lại, tính ảo lại làm cho họ dễ thoát ly thực tế, mơ tưởng tới một
điều gì đó xa xôi, hão huyền.
Tính hai mặt của lối sống này đều dễ bị lợi dụng. Chỉ cần đưa ra một
ít quyền lợi thực tế trước mắt hoặc vẽ ra một viễn cảnh tốt đẹp hơn cái thực
tại đang có, người nông dân (nhất là thnah niên) dễ bị lợi dụng.
14
hành vi của những cá thể. Durkheim : Giá trị là những lý tưởng tập thể và nó có tính năng chiphối, kiểm soát và điều chỉnh tư tưởng và hành vi của con người theo khuôn mẫu xãhội. 2.3. Chuẩn mực : – Là những cung cách bắt buộc được quy mô hóa thành hành vi, dànhcho một vị trí xã hội ( vị thế xã hội ). – Thể hiện thành những quy tắc, pháp luật, yên cầu của xã hội so với mộtkhuôn mẫu tác phong. Chuẩn mực cho biết phải hành vi như vậy nàotrong một tổ chức triển khai xã hội, trong một trường hợp xã hội đơn cử. 2.4. Mục tiêu : – Là cái đích thực tế được đặt ra. Mọi người cùng nhau tổ chức triển khai hoạtđộng của mình xoay quanh những cái đích thực tế đó. 2.5. Các yếu tố khác : Ngoài những yếu tố trên, văn hóa còn gồm có : ngôn từ, hình tượng, nghệ thuật và thẩm mỹ âm thanh và nghệ thuật và thẩm mỹ trình diễn ( thơ, hát ru, hò khi trợ giúptrong lao động, lúc nghỉ ngơi thì có hát quan họ – hát đúm – hát xoan – vídặm – hát bài chòi … Hát chèo, hát tuồng, cải lương, ca vọng cổ, múa rốinước … Hát giao duyên, hát xẩm, hát chầu văn … ). Nghệ thuật tạo hình : trang trí khắc chạm. Dưới bàn tay những nghệnhân, những người thợ đã tạo ra những vật phẩm, mẫu sản phẩm mang tính nghệthuật cao. Kiểu thiết kế nhà cửa và thẩm mỹ và nghệ thuật kiến trúc kiến thiết xây dựng đã tạo thànhmột yếu tố trong văn hóa nông thôn. Hình dáng ngôi nhà, đình, chùa, miếumạo, lăng tẩm … phản ánh những nét độc lạ của văn hóa nông thôn. Ngôinhà có hình dáng và cấu trúc tương thích với khí hậu nơi ở. Trong nông thôn, ngôi nhà là biểu trưng cho quyền lực của mái ấm gia đình và là nơi sinh sống, sinh hoạtcủa người dân. Ví dụ : “ Nhà cao cửa rộng ” là một tiêu chuẩn để xây nhà. Nhà cao gồm 2 yêucầu : nơi đặt chân cao so với mặt đất ( có tính năng để đối phó với lũ lụt, ẩmướt, tránh côn trùng nhỏ ) và mái cao so với nơi người đặt chân ( nhằm mục đích tạo khônggian thoáng mát trong nhà để đối phó với nắng nóng và ẩm thấp ). Cách bàitrí trong nhà, nơi đặt bàn thờ cúng cũng theo những quy tắc nhất định … ” Lấy vợhiền hòa, làm nhà hướng Nam ”. 3. Loại hình văn hóa : Văn hóa luôn được truyền tải. Sự lưu truyền văn hóa được thực hiệnthông qua ngôn từ. Mà ngôn từ gồm có cả ngôn từ viết, những kýhiệu, tín hiệu được tích cóp và truyền từ thế hệ nọ sang thế hệ kia. Đồngthời, nó được bộc lộ trong những mô hình kiến trúc, văn học, điêu khắc, kịch, nhạc, họa, điện ảnh … Vì thế văn hóa có hai mô hình : văn hóa vật chấtvà văn hóa ý thức. Nhờ vào ngôn từ mà văn hóa được Viral, gây tác động ảnh hưởng. Dovậy, văn hóa mang tính xã hội. Quá trình con người gia nhập vào xã hộichính là quy trình học tập và làm theo những gì mà nền văn hóa đã tạo dựng. Đó là quy trình tiếp thu những quy luật văn hóa. Toàn bộ những thành tố của văn hóa được bộc lộ thành những khuônmẫu văn hóa ( tác phong xã hội, khuôn mẫu hành vi, hành vi xã hội … ), thành tín ngưỡng, phong tục tập quán, tục lệ. Chúng bộc lộ ra trong đờisống hàng ngày những những nghi lễ trong tiếp xúc và ứng xử xã hội. Chúng tạo thành một nếp sống đặc trưng – nếp sống của một hội đồng, mộtxã hội. 4. Văn hóa làng xã và nét đặc trưng của nó : Văn hóa làng xã là một mạng lưới hệ thống những chân lý, giá trị, chuẩn mực vàmục tiêu mà những thành viên của nó luôn san sẻ trong đời sống và hoạtđộng. Trong làng xã có những pháp luật được ghi thành mạng lưới hệ thống nhữngchuẩn mực, gọi là hương ước. Trong xã hội truyền thống, mỗi làng đều cóhương ước riêng. Hương ước gồm có những pháp luật về nghĩa vụ và trách nhiệm, nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi thành viên trong hội đồng làng ( luật, lệ của làng ). Trongmỗi làng, những giá trị – chuẩn mực, ý niệm đã tạo thành lối sống riêng, lànét bộc lộ đặc trưng của xã hội nông thôn. Văn hóa làng còn được biểu lộ trong những quy tắc ứng xử, lễ hộicủa làng và cả những giá trị tín ngưỡng trong tâm linh của mỗi thành viêncộng đồng. Mỗi làng là chủ thể phát minh sáng tạo ra những giá trị văn hóa. Nhữngthành viên của làng vừa là người phát minh sáng tạo, vừa là người tổ chức triển khai thực thi, tận hưởng => biểu lộ đặc thù dân gian, tính hội đồng, tính tập thể củavăn hóa làng. Mỗi làng đều muốn chứng minh và khẳng định cái riêng của mình trải qua việckhẳng định cái “ ta ” của làng. Trong hành vi ứng xử, những thành viên của làngluôn hướng đến và khẳng định tính đặc trưng của làng mình. Mặt khác, vănhóa làng còn biểu lộ qua kiến trúc của làng. Ví dụ như, hướng đình, vị trí, quy mô to nhỏ, phong thái kiến trúc của đình làng, phong thổ nơi đặt đình, điều kiện kèm theo vật chất do những thành viên của làng góp phần. Cái ta của làng còn biểu lộ qua trình độ học vấn của làng này so vớilàng khác, được biểu lộ ở số người đỗ đạt, làm quan, biểu lộ qua những cáicộng đồng góp phần để thiết kế xây dựng lớp, mở trường ; bộc lộ ở những đội vănnghệ hát xướng, luôn được những đàn anh đàn chị kèm cặp để có dịp trổ tài vớinhững làng khác. Cái chung của làng này lại là cái riêng trong sự so sánh, so sánh với những làng khác => nâng cao vị thế của làng. Văn hóa làng còn bộc lộ ở những truyện dân gian, được người dâncủa làng sáng tác, bảo lưu, truyền tụng, bổ trợ. Những di sản văn hóa đạođức được sinh ra trong cái nôi của làng, tạo ra những thuần phong mỹ tục, cung cách ứng xử trong làng. Trong văn hóa làng, còn phải kể đến : 4.1. Lễ hội : Văn hóa được bộc lộ ra trong đời sống, hoạt động giải trí của con ngườidưới dạng lễ tết, tiệc tùng. Tết gồm có 2 phần : cúng ông bà tổ tiên ( lễ ) và ănuống bù cho những ngày lao động khó khăn vất vả ( tết ). Có nhiều loại Tết : tết nguyênđán, tết thượng nguyên, tết hàn thực ( mùng 3/3 ), tết đoan ngọ, tết rằm thángbảy, tết trung thu, tết cơm mới ( mùng 10/10 ), tết ông Táo … Các tết đượcphân bố theo âm lịch. Lễ hội thiên về hoạt động giải trí niềm tin : ăn tết, nhưng chơi hội, xem hội. Lễ hội có 2 phần : phần lễ và phần hội. Phần lễ mang ý nghĩa cầu xin và tạ ơnthần linh bảo trợ cho đời sống của hội đồng. Có nhiều loại lễ : lễ cầu mưa, lễ xuống đồng, lễ cơm mới, ra khơi … Lễ hội kỷ niệm những anh hùng, chiếnthắng như hội Đền Hùng, hội Đền Kiếp Bạc, hội Đền Hai Bà Trưng … Lễ hộitôn giáo và văn hóa như hội Chùa Hương, hội Phủ Giầy … Phần hội gồm cáctrò đi dạo vui chơi rất là phong phú và đa dạng. Mọi game show đều bộc lộ ước vọngcủa con người. Các game show như thi đốt pháo, đi thuyền, đánh pháo đất … lànhững trò mô phỏng tiếng sấm nhắc trời làm mưa. Xuất phát từ ước vọngphồn thực, có những game show như ném còn, nhún đu, cướp cầu thả lỗ … Xuấtphát từ ước vọng rèn luyện khôn khéo có những game show thi nấu cơm, thi đuổi vịt, thi dệt vải, thả diều … Còn xuất phát từ ước vọng khỏe mạnh có những trò chơithi đấu vật, kéo co. Xuất phát từ ước vọng mưu trí có hội cờ … Như vậy, Văn hóa làng bộc lộ qua liên hoan của làng. Trong liên hoan, cácnét nổi trội của làng được bộc lộ ra thành cái đẹp trong tâm lý, đối đápqua lời ăn lời nói, cử chỉ, nét mặt, quần áo … Trong hội làng, toàn bộ nhữnggì còn ở dạng tiềm ẩn hoặc mới được phôi thai được thể hiện, chứng minh và khẳng định vàthi thố. Trong tiệc tùng, người ta mới thấy hết tài đối đáp, giọng hát, lời ca, tàitrí đấu vật, cờ, thi tài năng của mỗi làng. Do đó, hội lôi cuốn sự tham gia củatoàn thể dân làng. Lễ hội còn biểu lộ qua phần lễ – cúng tế. Nó tuân thủ những quy tắcnghiêm ngặt mà những thành viên trong làng phải tuân theo : – Lễ đội tế : gồm có thành phần những bô lão trong làng, với những nghithức uy nghiêm. Ví dụ như trong lễ tế thần thành hoàng làng, gồm có mộtchuỗi link, có trật tự của những nghi lễ – lễ rước nước, lễ mộc dục ( lễ tắmrửa tượng thần ), lễ gia quan ( lễ khoác áo mũ cho tượng thần ), đám rước, đạitế, lễ túc trực … – Người chủ hội làng không phải là cỗ máy hành chính thôn ( làng ) màlà những cụ bô lão trong làng. – Phụ nữ không được làm chủ tế, không được tham gia những nghi lễđược coi là thiêng liêng. Chỉ tham gia nấu nướng, đồ xôi, làm oản, đồcúng … lễ dâng hương. Hội làng có ảnh hưởng tác động mạnh và hấp dẫn sự tham gia của những thànhviên trong làng. Tổ chức hội làng có sự phối hợp của những tổ chức triển khai khác nhau ( hành chính, đoàn thể, những hội ) dưới sự quản lý của Hội người cao tuổi, triển khai tự nguyện và thành lệ. Các thành viên chuẩn bị sẵn sàng, góp phần và cùngnhau trẩy hội. Kể cả con cháu phương xa cũng quay trở lại, cùng nhau vui tươi. Có thể nói, hội làng là hoạt động và sinh hoạt của toàn thể hội đồng làng, là việcchung của làng và là cái kết nối những thành viên trong làng. Hội làng đáp ứngđược nhu yếu sống của hội đồng và là dịp để bày tỏ lòng biết ơn so với tổtiên và những người có công với làng. Đồng thời, cũng là dịp để đi dạo, trao đổi. Hội làng là ngày hội duy nhất và riêng của hội đồng làng. Linhhồn của hội làng là hội, là không khí Hội, là hoạt động và sinh hoạt hội đồng và ý thứccộng đồng. Ngày nay, trong những làng, sau thời hạn bị mai một, tiệc tùng lại đượcphục hồi trở lại. Hiện tượng đó và đã đang tạo ra 2 xu thế tác động ảnh hưởng : một mặt, chúng duy trì hoạt động giải trí văn hóa đậm đà truyền thống dân tộc bản địa, gìn giữ vàphát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của hội đồng làng xã ; mặt khác, nóbộc lộ những xấu đi khi 1 số ít làng đã tăng cường và hồi sinh cả những cáicổ hủ, lỗi thời không hợp với thời đại. 4.2. Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng : Quan niệm có một vị thần bảo vệ cho cả hội đồng làng xã, tínngưỡng thờ thành hoàng là trục TT của những hoạt động và sinh hoạt văn hóa, tôngiáo, phân phối được nhu yếu về đời sống tâm linh cho những thành viên, cũngnhư cho từng cộng đồng cư dân Việt ở nông thôn, có ảnh hưởng tác động lớn tới lốisống của người nông dân. Thành hoàng làng là một vị thần, là hộ mệnh của làng, được tôn thờtrong đình làng, là chỗ dựa cho người dân. Thành hoàng làng còn được coi như vị thần tối linh, hoàn toàn có thể bao quát, tận mắt chứng kiến hàng loạt đời sống, bảo vệ – phù hộ cho dân làng. Thành hoàng làng có nhiều nguồn gốc : nam thần, nữ thần theo truyềnthuyết của mỗi làng. Có thể là vị thần đại diện thay mặt cho sức mạnh của tự nhiên, hoặc hoàn toàn có thể là nhân vật lịch sử vẻ vang hoặc có công với dân làng. Nguồn gốc của Thành hoàng làng : ( 1 ) – Nhiên thần : những người đại diện thay mặt cho sức mạnh của tự nhiên. Baogồm, thiên thần – có nguồn gốc từ trời, Thành hoàng tứ pháp ( mây, mưa, sấm, chớp ) hoặc một số ít vị tinh tú trên trời ; sơn thần – tùy từng địa phươngmà có sơn thần khác nhau như Cao sơn thần, Tản Viên …. thường ở vùng vennúi ; Thủy thần như cá Voi, cá Ông ( thờ Đức ông ) ở vùng ven biển ; thổ thần – là thổ dân của những thôn làng. ( 2 ) – Nhân thần : cá thể đơn cử được tôn thành thần Thành hoàng làng. Thường là nhân vật lịch sử vẻ vang – vị anh hùng có công đánh giặc ngoại xâm, người có công truyền dạy cho dân làng một nghề bằng tay thủ công, người khai phálập làng, có công đắp đê, chống lụt, phòng trừ bệnh tật …, là người hiền sĩmở mang dân trí. => Thể hiện đặc thù phức tạp, phong phú của Thành hoàng làng. Như vậy, Thành hoàng làng phản ánh rõ nét đời sống hội đồng làngxã, biểu lộ ý thức tâm ý hội đồng làng xã. Thành hoàng làng là sợi dâyđể dân làng đoàn kết, gắn bó với nhau, tình cảm hội đồng và sự tồn tạicộng đồng luôn được đặt lên trên hết. Cái ta của làng được biểu lộ trong tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng. Mỗi làng có một vị thần, quyền uy của Thành hoàng làng chỉ có ý nghĩatrong làng, trong khoanh vùng phạm vi mà thần quản lý. Tính chất hội đồng làng còn biểu lộ ở sự trừng phạt của thần vớitoàn thể hội đồng khi một thành viên nào đó vi phạm những điều cấm kỵhay những tập tục mà thần bảo vệ. Thờ cúng Thành hoàng làng là việc chung của cả hội đồng. Ngày lễthần là ngày hội lớn của làng với nhiều ý nghĩa. Tín ngưỡng Thành hoànglàng là tín ngưỡng của hội đồng làng xã. 4.3. Chợ làng : Trong lịch sử dân tộc tăng trưởng của những vùng miền, chợ luôn là không gianphản ánh sự tăng trưởng về kinh tế tài chính và những hoạt động và sinh hoạt văn hóa xã hội đặctrưng của địa phương. Chợ làng sinh ra nhằm mục đích Giao hàng nhu yếu sản xuất, giaolưu kinh tế tài chính và hoạt động và sinh hoạt của nhân dân, không riêng gì so với người dân của làngmình mà cả với những làng xung quanh. Mọi người đi chợ, ngoài việc thỏa mãn nhu cầu nhu yếu trao đổi sản phẩm & hàng hóa, cònthực hiện việc giao lưu tình cảm, gặp gỡ người thân trong gia đình và tiêu dùng cho một sốloại hình văn hóa truyền thống : gánh xiếc, mãi võ bán thuốc … Vì vậy, trongdân gian còn có khái niệm “ đi chơi chợ ”. Do đặc thù làm bằng tay thủ công, sản phẩm & hàng hóa đem ra trao đổi trên thị trường ít, nhu cầu mua sắm ít nên chợ làng thường họp theo phiên. Do đó, khi chợ mở, ngườidân nô nức kéo nhau đi chợ, thỏa mãn nhu cầu nhu yếu vật chất và ý thức. Có những chợ làng có sự phong phú và nhiều mẫu mã của những loại sản phẩm & hàng hóa, có những chợ làng mở ra chỉ để Giao hàng cho một nhu yếu đặc biệt quan trọng : chợ muabán trâu bò, chợ chuyên mua và bán vải sợi …. Hiện nay, do quy trình tăng trưởng, chợ làng đã có nhiều đổi khác, diễnra hàng ngày nhằm mục đích cung ứng nhu yếu của dân cư. Tuy nhiên, tại một sốđịa phương, vẫn duy trì hình thức chợ làng họp theo phiên. 4.4. Lối sống của người nông thôn Việt Nam : Từ truyền thống đến hiệnđạiLối sống của người dân nông thôn có những đặc thù : ( 1 ) – Hòa đồng với vạn vật thiên nhiên, nương theo vạn vật thiên nhiên để làm lợi chomình => Với một khu rừng, không được chặt cây hay đốt phá vào mùa khô. Với một khúc sông, dòng suối hay đầm hồ, không được tát cạn để bắt cá. Lối sống hòa đồng với vạn vật thiên nhiên được coi như truyền thống văn hóa củangười Việt. Làng với lũy tre xanh, mái đình, cây đa, bến nước … đã in sâuvào tâm khảm của người dân quê, phát sinh tình cảm gắn bó keo sơn với quêhương làng xóm, và nâng lên thành tình yêu quốc gia. Vì vậy, luôn sẵn sàngđổ máu, quyết tử để giữ lấy mảnh đất chôn rau cắt rốn của mình. Tuy nhiên, thế ứng xử hòa đồng với vạn vật thiên nhiên làm cho con ngườiluôn thụ động, bất lực trước những diễn biến không bình thường của thiên tai. Sự bấtlực của con người trước thiên tai đã tạo điều kiện kèm theo cho mê tín dị đoan, dị đoan nảy nởvà tăng trưởng, bộc lộ qua những lễ cầu mát, cầu đảo … ( 2 ) – Quý trọng người lao động và sức lao động, tôn vinh ý thức yêulao động, phê phán sự lười biếng => “ Thế gian chuộng của chuộng công, nào ai có chuộng người không khi nào ”, “ Rủ nhau đi cấy đi cày, giờ đây khónhọc có ngày giàu sang ”, “ Cơm ăn một bát sao no, ruộng làm một lượt saocho đành lòng ”, “ Tích tiểu thành đại, mưa dầm lắm nước ” … những kẻ lườibiếng bỏ phí ruộng vườn bị phạt bằng hình thức đánh roi. ( 3 ) – Chấp nhận và thích nghi với điều kiện kèm theo nghèo khó, tôn vinh tiết kiệm ngân sách và chi phí => “ Thịt cá là hương hoa, tương cà là gia bản ”, “ Người ta hoàn toàn có thể đi khắp xứAn Nam và người ta sẽ không hề thấy được sự khác nhau quá chênh lệchgiữa mức sống của những cá thể … Sự xa xỉ là không biết đến ” … Lối sống tiết kiệm ngân sách và chi phí, không xa hoa tiêu tốn lãng phí khi nào cũng đi liền vớinhững tư tưởng sống, những quan hệ xã hội lành mạnh. Tiết kiệm giúp conngười biết quý trọng sức lao động, trân trọng những giá trị lao động do mìnhlàm ra. Đồng thời hình thành một ý thức và niềm tin nghĩa vụ và trách nhiệm của những thếhệ người việt nam : thế hệ trước luôn ăn dụm để dành, vun vén để lo toan, gâydựng cho thế hệ sau những điều kiện kèm theo tốt nhất trong năng lực được cho phép. Tuy nhiên, tiết kiệm chi phí quá mức trở thành hà tiện, “ ăn đói mặc rách nát đểtích tiểu thành đại ” để làm giàu, làm cho con người sống khốn khó, gò bó, không lan rộng ra được những quan hệ KT-XH. Nhiều người lấy hà tiện làm biệnpháp tích góp của cải để rồi cất giấu tài lộc .. tạo thành những vốn chếtkhông được dùng để sản xuất. Vì vậy, sự nhạy cảm so với việc sản xuấtkinh doanh bằng việc quay nhanh đồng vốn trong tư duy kinh tế tài chính của ngườinông dân rất kém. 10 ( 4 ) – Một lối sống dựa trên kinh nghiệm tay nghề, do vậy, tuổi tác và người giàđược tôn vinh => Kính già, trọng lão, coi trọng kinh nghiệm tay nghề của họ. Kinh nghiệm được coi trọng và tuổi tác được tôn vinh cũng có mặt trái. Nó làm cho người nông dân quen thỏa mãn nhu cầu với vốn tri thức kinh nghiệmchật hẹp, coi kinh nghiệm tay nghề là duy nhất và trên hết, từ đó tạo ra óc bảo thủ, ngăn cản việc vận dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, không thôi thúc tăng năng suấtlao động. Tư tưởng trọng lão buộc phải phục tùng không điều kiện kèm theo ngườitrên tuổi, làm người già trở nên bảo thủ, coi thường và hạn chế sự sáng tạocủa lớp trẻ, tạo ra sự mất dân chủ và bình đẳng giữa những thế hệ => Độc đoán, hẹp hòi, chuyên quyền. ( 5 ) – Một lối sống tôn vinh tính hội đồng, vị thế và nhân cách cá nhânphụ thuộc ngặt nghèo vào tập thể : – Quan tâm, trợ giúp người khác, coi trọng tình làng nghĩa xóm, đề caotinh thần đoàn kết và cố kết làng xã. Thể hiện trong cưới xin, tang ma, làmnhà … ” Mọi người phải đến giúp người khác lợp nhà, đưa ma mà không cầnchủ nhà nhu yếu. Nếu đánh chửi nhau, hà hiếp hay gây thù oán bị phạtnặng … ” Thương người như thể thương thân ”, “ Một miếng khi đói bằng mộtgió khi no ”, “ Sống có trước có sau ” … – Quan tâm tới những việc làm công ích, tích cực góp phần xây dựnglàng xã, hoàn thành xong không thiếu những nghĩa vụ và trách nhiệm với làng với nước => Làm thủy lợi, thiết kế xây dựng những khu công trình công cộng, bảo vệ bảo mật an ninh, biện lễ và Giao hàng việcthờ cúng thành hoàng, tu bổ đình chùa … – Chú trọng giữ gìn vị thế và nhân cách cá thể, nhân cách hội đồng => “ Xấu đều hơn tốt lỏi ”, đậm cá tính, kĩ năng, quyền tự do của mỗi ngườikhông được coi tọng mà phải hướng vào giá trị hội đồng và ship hàng cộngđồng, coi trọng nhân cách thanh danh hơn là trọng tài năng và sự phong phú, sống vì danh, luôn chú trọng giữ gìn thanh danh. 11H ạn chế : Lối sống hội đồng làm con người không phát huy đượcnăng lực cá thể, vì danh dự và quyền lợi và nghĩa vụ hội đồng mà phải giữ mình, không dám bộc lộ bản lĩnh, sở trường, năng khiếu sở trường cá thể để làm lợi chomình, phó mặc số phận mình với hội đồng. Từ đó, dễ phát sinh thói đố kị, ghanh tỵ, tạo cơ sở cho mất dân chủ và áp bức chuyên chế. Vì tính hội đồng nên nhiều việc làm của từng cá thể được thựchiện với sự tham gia của nhiều người mà không đo lường và thống kê đến hiệu suất cao kinhtế ( ăn cưới cả làng, tang cả làng … ), gây tiêu tốn lãng phí rất lớn. Nhiều khi chỉ vì vịthế, uy thế, có khi chỉ vì một miếng ăn mà hình thành những định hướngxấu, dư luận xấu của hội đồng với cá thể ( ma chê, cưới trách ). Làm phát sinh óc cục bộ hội đồng, nhất là cục bộ dòng họ và cục bộlàng xã. Dẫn đến 2 khuynh hướng : hoặc móc ngoặc, phụ thuộc, bao che chonhau ; hoặc có những hành vi vì “ danh dự và quyền lợi và nghĩa vụ ” của hội đồng ( họ mình, làng mình ) mà mù quáng lao vào những vụ tranh chấp, kiện tụng, ẩu đả với những dòng họ khác, làng khác …. ( 6 ) – Một lối sống coi trọng và tôn vinh cái tâm, chữ tín và đạo hiếu, lễnghĩa => Một sự bất tín, vạn sự bất tin. Bố mẹ phải dạy dỗ con cháu nênngười, con cháu phải phụng dưỡng cha mẹ già, đồng đội phải hòa thuận, khôngđược tranh chấp nhau, vợ chồng phải giữ lòng yêu quý nhâu, dốc lòngvới ân tình. Bất hiếu là điều hổ thẹn nhất và bị dư luận lên án nóng bức. “ Có thể ngươi ta không tìm thấy ở bất kỳ dân tộc bản địa nào trên toàn cầu nàymột sự gắn bó tuyệt vời trong mái ấm gia đình, một tình cảm thâm thúy như ở dân tộcAn Nam ”. Lễ nghĩa và lòng nhân đức cũng được coi trọng trong quan hệ ngoàigia đình, biểu lộ như lòng trung thực, sự thủy chung, tính nhường nhịn, lòng nhân nghĩa, tính hiền hòa vị tha …. 12N hư vậy, lối sống vì hội đồng, tôn vinh cái tâm, chữ tín, lòng hiếunghĩa … là truyền thống quý báu của người VN. Một sự tin nhau, đối xử vớinhau vì tâm, vì tình, vì nghĩa chứ không phải vì vật chất, tài lộc giữanhững người cùng làng xóm. Còn trong mái ấm gia đình, dòng họ, cha mẹ phải lotoan cho con cháu, con cháu phải báo hiếu với cha mẹ, ông bà ; bạn bè phải hòathuận … đã giúp người nông dân đoàn kết và cố kết ngặt nghèo với nhau, giúpđỡ nhau trong đời sống thường ngày để từng bước khắc phục và vượt quanhững khó khăn vất vả, thiếu thốn. ( 7 ) – Một lối sống theo luật tục, không theo pháp lý. Đây là hạn chế lớn nhất trong di sản truyền thống của người Việt. Mộtnét tổng quát cho lịch sử vẻ vang pháp lý việt nam : nhân dân không hiểu biết, nền phápluật của nhà nước vốn thiếu khá đầy đủ lại kém hiệu lực hiện hành. Luật nước muốn vàođược làng, muốn đến với người nông dân phải chịu một sự khúc xạ qua cầunối là lệ làng và tổ chức triển khai làng xã. Do vậy, thực trạng vi phạm pháp lý ở mọi những tầng lớp là phổ cập : dânthì dễ mắc vào hình sự, quan thì hay ăn hối lộ, tham ô, xúi bẩy kiện tụng … Người dân còn thiếu dũng khí trước pháp lý nên bị quan trên tận dụng, ápbức, pháp lý không nghiêm, không bình đẳng, tạo đà cho sự mất dân chủvà áp bức chuyên chế. Tình trạng “ mù luật ” và “ liều luật ” gây nhiều tệ nạnxã hội đến mức báo động trong mấy năm gần đầy là sự bộc lộ rõ nét nhấtcủa lối sống theo luật tục, không theo pháp lý, của ý thức “ phép vuathua lệ làng ” trong di sản truyền thống. ( 8 ) – Tính ảo và tính trong thực tiễn là tính hai mặt trong lối sống của ngườinông dân. Một mặt, hay giáo điều, khi chưa có quyền lợi trước mắt thì cố bámlấy một cái gì đó giáo điều, rất thiêng làm chuẩn mực. Nhưng khi cái linhthiêng, xa vời và giáo điều vô hiệu nghiệm, nguyên tắc không còn được tôn13trọng, óc trong thực tiễn, thực dụng nổi lên, và vì quyền hạn trước mắt, người nôngdân rất dễ hành vi vượt khuôn phép. Nếu tính thực tiễn làm cho họ chỉ nhằm mục đích tới những quyền lợi thực tiễn, trướcmắt, biến họ dễ trở thành những con người thực dụng, ích kỷ. Vì quyền lợitrước mắt hoàn toàn có thể từ bỏ danh dự, nhân phẩm, đạo lý của bản thân và của cộngđồng. Ngược lại, tính ảo lại làm cho họ dễ thoát ly trong thực tiễn, mơ tưởng tới mộtđiều gì đó xa xôi, hão huyền. Tính hai mặt của lối sống này đều dễ bị tận dụng. Chỉ cần đưa ra mộtít quyền lợi và nghĩa vụ trong thực tiễn trước mắt hoặc vẽ ra một viễn cảnh tốt đẹp hơn cái thựctại đang có, người nông dân ( nhất là thnah niên ) dễ bị tận dụng. 14
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Nông Thôn






