VAI TRÒ CỦA NHÀ VĂN ĐỐI VỚI SÁNG TÁC VĂN HỌC – Tài liệu text

VAI TRÒ CỦA NHÀ VĂN ĐỐI VỚI SÁNG TÁC VĂN HỌC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (85.6 KB, 2 trang )

Vai trò của nhà văn với đời sống văn học
Không có ong mật thì chẳng có mật ong. Và không có hoa thì ong cũng chẳng thể làm ra
mật. Không có nhà văn thì không có tác phẩm, tất nhiên cũng không thể có đời sống văn
học. Lại còn phải có hiện thực phong phú tạo nguồn sáng tạo cho nhà văn thì mới có thơ
văn. Từ muốn mặn, phù sa, hương sắc cuộc đời… nhà văn sống hết mình với hiện thực
phong phú ấy may ra mới có tác phẩm văn học.
Viết về mối quan hệ giữa nhà văn và đời sống hiện thực, Chế Lan Viên nói:
“Bài thơ anh, anh làm một nửa mà thôi,
Còn một nửa cho mùa thu làm lấy.
Cái xào xạc, hồn anh chính là xào xạc lá
Nó không là anh, nhưng nó là mùa…”
(“Sổ tay thơ – Đối thoại mới)
Nhà văn phải khám phá và sáng tạo, không theo đuổi người. Không tô hồng cũng không

bôi đen hoặc sao chép hiện thực. Nhà văn cũng không được lặp lại mình. “Văn chương quý
bất tùy nhân hậu” (Hoàng Đình Kiên đời Tống”.
Những nhân tố cần có đối với một nhà văn
Một vạn học sinh đỗ tú tài, sau 5, 6 năm học tập ở đại học có thể đào tạo thành những kĩ
sư, bác sĩ… nhưng rất ít hoặc không thể đào tạo thành nhà văn. Có một hiện tượng kỳ lạ là
trong xã hội ta ngày nay sao mà nhiều “nhà thơ” thế. Thật ra đó là những “thi sĩ – vè”, “thi
sĩ – con cóc”,… Lênin từng nói: “Trong lĩnh vực nghệ thuật, không có chỗ đứng cho kẻ
trung bình”. Vậy nhà văn cần những nhân tố gì?
– Phải có năng khiếu, có tài.
– Phải có cái tâm đẹp. (chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” – Kiều)
– Phải có vốn văn hóa rộng rãi (có học). Học vấn thấp hạn chế chẳng khác nào đất ít
mầu mỡ, cây kém xanh tươi, hoa trái chẳng ra gì.

– Phải có vốn sống như con ong giữa rừng hoa. Phải sống hết mình.
– Phải có một lí tưởng thẩm mĩ cao đẹp: sống và viết vì chủ nghĩa nhân văn.
– Phải có tay nghề cao. Xuân Diệu gọi đó là “bếp núc làm thơ”.
– Ngoài ra còn có một điều kiện khách quan ấy là môi trường sáng tác. Nhà văn phải
được sống trong tự do, dân chủ, phải có vật chất tạm đủ (cơm áo không đùa với khách thơ)

– Với nhà văn, kiêng kị nhất là thói kiêu ngạo, xu nịnh bợ đỡ… Vì thế văn chương có
ngôi thứ: kẻ làm thơ, nhà thơ, thi nhân, thi sĩ, thi hào, đại thi hào. Còn có loại “đẽo câu đục
vần” được ngồi một chiếu riêng. Loại bồi bút thì bị độc giả khinh bỉ.
Trong tập “Văn 10” tập 2 có viết:
“Nhà văn phải có năng khiếu, có vốn văn hóa rộng rãi và có tư tưởng nghệ thuật độc
đáo. Nói như thế là đúng nhưng chưa đủ.

Quá trình sáng tạo
Lao động nghệ thuật của nhà văn là một thứ lạo động đặc biệt. Phải có hứng, nếu không
có hoặc chưa có cảm hứng thì chưa thể sáng tác. Mỗi nhà văn có một cách sáng tác riêng.
Xuân Diệu làm thơ được “thiết kế” công phu chặt chẽ. Tố Hữu thì “câu thơ trước gọi câu
thơ sau”. Hoàng Cầm làm thơ, có thể như có ai đọc chính tả cho chép lại. Ông sáng tác bài:
“Lá Diêu Bông” vào quá nửa đêm mùa rét 1959. Khi cả nhà đang ngủ say, ông tỉnh giấc
“chợt bên tai vẳng lên một giọng nữ rất nhỏ nhẹ mà rành rọt, đọc chậm rãi, có tiết điệu,
nghe như từ thời nào, xa xưa vẳng đến, có lẽ từ tiền kiếp vọng về:
“Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng…”
(“Về Kinh Bắc”, trang 160 – 161)
Nhà thơ Chế Lan Viên qua đời còn để lại một núi “Phác thảo thơ – di bút”. Đọc hồi kí
các nhà văn, nhà thơ danh tiếng, ta ngạc nhiên và vô cùng khâm phục về lao động sáng tạo

của họ. Có câu thơ được viết hàng tháng.
Có bài thơ hình thành nhiều năm. Có cuốn tiểu thuyết được sáng tác trong 1/10, 1/5 thế
kỷ.
Để có những “thiên cổ hùng văn”, “thiên cổ kì bút”, “Sách gối đầu giường cho thiên hạ”
phải là những bậc thiên tài mới sáng tạo nên.
Yêu văn học ta càng yêu kính và biết ơn nhà văn, nhà thơ. Tác phẩm của họ đã làm tâm
hồn ta thêm giàu có. Văn chương là cái đẹp muôn đời. Văn chương, văn hiến, văn hóa là
niềm tự hào của mỗi quốc gia.
bôi đen hoặc sao chép hiện thực. Nhà văn cũng không được lặp lại mình. “ Văn chương quýbất tùy nhân hậu ” ( Hoàng Đình Kiên đời Tống ”. Những tác nhân cần có đối với một nhà vănMột vạn học viên đỗ tú tài, sau 5, 6 năm học tập ở ĐH hoàn toàn có thể huấn luyện và đào tạo thành những kĩsư, bác sĩ … nhưng rất ít hoặc không hề đào tạo và giảng dạy thành nhà văn. Có một hiện tượng kỳ lạ kỳ lạ làtrong xã hội ta ngày này sao mà nhiều “ nhà thơ ” thế. Thật ra đó là những “ thi sĩ – vè ”, “ thisĩ – con cóc ”, … Lênin từng nói : “ Trong nghành nghề dịch vụ nghệ thuật và thẩm mỹ, không có chỗ đứng cho kẻtrung bình ”. Vậy nhà văn cần những tác nhân gì ? – Phải có năng khiếu sở trường, có tài. – Phải có cái tâm đẹp. ( chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài ” – Kiều ) – Phải có vốn văn hóa truyền thống thoáng rộng ( có học ). Học vấn thấp hạn chế chẳng khác nào đất ítmầu mỡ, cây kém xanh tươi, hoa trái chẳng ra gì. – Phải có vốn sống như con ong giữa rừng hoa. Phải sống hết mình. – Phải có một lí tưởng thẩm mĩ cao đẹp : sống và viết vì chủ nghĩa nhân văn. – Phải có kinh nghiệm tay nghề cao. Xuân Diệu gọi đó là “ bếp núc làm thơ ”. – Ngoài ra còn có một điều kiện kèm theo khách quan ấy là môi trường tự nhiên sáng tác. Nhà văn phảiđược sống trong tự do, dân chủ, phải có vật chất tạm đủ ( cơm áo không đùa với khách thơ ) – Với nhà văn, đại kị nhất là thói kiêu ngạo, xu nịnh bợ đỡ … Vì thế văn chương cóngôi thứ : kẻ làm thơ, nhà thơ, thi nhân, thi sĩ, thi hào, đại thi hào. Còn có loại “ đẽo câu đụcvần ” được ngồi một chiếu riêng. Loại bồi bút thì bị fan hâm mộ khinh bỉ. Trong tập “ Văn 10 ” tập 2 có viết : “ Nhà văn phải có năng khiếu sở trường, có vốn văn hóa truyền thống thoáng rộng và có tư tưởng nghệ thuật và thẩm mỹ độcđáo. Nói như thế là đúng nhưng chưa đủ. Quá trình sáng tạoLao động thẩm mỹ và nghệ thuật của nhà văn là một thứ lạo động đặc biệt quan trọng. Phải có hứng, nếu khôngcó hoặc chưa có cảm hứng thì chưa thể sáng tác. Mỗi nhà văn có một cách sáng tác riêng. Xuân Diệu làm thơ được “ phong cách thiết kế ” công phu ngặt nghèo. Tố Hữu thì “ câu thơ trước gọi câuthơ sau ”. Hoàng Cầm làm thơ, hoàn toàn có thể như có ai đọc chính tả cho chép lại. Ông sáng tác bài : “ Lá Diêu Bông ” vào quá nửa đêm mùa rét 1959. Khi cả nhà đang ngủ say, ông tỉnh giấc “ chợt bên tai vẳng lên một giọng nữ rất nhỏ nhẹ mà rành rọt, đọc chậm rãi, có tiết điệu, nghe như từ thời nào, thời xưa vẳng đến, có lẽ rằng từ tiền kiếp vọng về : “ Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng … ” ( “ Về Kinh Bắc ”, trang 160 – 161 ) Nhà thơ Chế Lan Viên qua đời còn để lại một núi “ Phác thảo thơ – di bút ”. Đọc hồi kícác nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, ta quá bất ngờ và vô cùng khâm phục về lao động sáng tạocủa họ. Có câu thơ được viết hàng tháng. Có bài thơ hình thành nhiều năm. Có cuốn tiểu thuyết được sáng tác trong 1/10, 1/5 thếkỷ. Để có những “ thiên cổ hùng văn ”, “ thiên cổ kì bút ”, “ Sách gối đầu giường cho thiên hạ ” phải là những bậc thiên tài mới phát minh sáng tạo nên. Yêu văn học ta càng yêu kính và biết ơn nhà văn, nhà thơ. Tác phẩm của họ đã làm tâmhồn ta thêm phong phú. Văn chương là cái đẹp muôn đời. Văn chương, văn hiến, văn hóa truyền thống làniềm tự hào của mỗi vương quốc .