TỔ HỢP TÁC MỘT CHỦ THỂ TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA KHI SỬA ĐỔI BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005 – THÔNG TIN PHÁP LUẬT DÂN SỰ

Posted on by Civillawinfor

PHẠM VĂN BẰNG – Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp

Chủ trương phát triển kinh tế tập thể luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế đất nước. Khái niệm tổ hợp tác được chính thức ghi nhận từ những năm 1950 tại thông tư của Ngân hàng Quốc gia hướng dẫn thi hành Nghị định của Thủ tướng Chính phủ về việc ấn định mức lãi suất tiền gửi tư nhân, tiền gửi tiết kiệm, lợi suất tính vào số dư tài khoản thanh toán, lợi suất cho vay ngắn hạn của ngân hàng quốc gia Việt Nam[1].

Từ đó cho đến nay, tổ hợp tác được nhắc đến trong 891 văn bản[2], đặc biệt khi Bộ Luật Dân sự 1995 tiếp đó là Bộ luật dân sự 2005[3] chính thức thừa nhận tổ hợp tác là một chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự.[4] Gần đây nhất khi chúng ta tiến hành tổng kết đánh giá 10 năm thực hiện mô hình kinh tế tập thể thì vấn đề Tổ hợp tác được đưa vào là một trong những nội dung của báo cáo.

Theo số liệu từ những cơ quan theo dõi, quản trị về tình hình hoạt động giải trí, tăng trưởng quy mô kinh tế tài chính tổ hợp tác [ 5 ] cho thấy số lượng tổ hợp tác là khá lớn, phản ánh thực tiễn nhu yếu hợp tác, họp nhóm, link, trợ giúp, tương hỗ nhau trong hoạt động giải trí sản xuất kinh doanh thương mại của người dân và được chính quyền sở tại, người dân nhìn nhận là một trong quy mô link hội đồng hiệu suất cao trong điều kiện kèm theo tăng trưởng kinh tế tài chính ở nước ta lúc bấy giờ. Việc tìm hiểu và khám phá về thực tiễn tổ chức triển khai và hoạt động giải trí của Tổ hợp tác là một trong những nội dung quan trọng được nhìn nhận trong quy trình khảo sát, tiến hành dự án Bất Động Sản .

Từ thực tiẽn kết quả khảo sát cho thấy có tồn tại Tổ hợp tác trên thực tế. Tuy nhiên, thực tế tồn tại và hoạt động của các tổ hợp tác rất đa dạng và phong phú (có tổ chức được hình thành để trao đổi về kinh nghiệm làm ăn mà không có hoạt động sản xuất, kinh doanh thực tế chung, có tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở một gia đình nhỏ …). Thực tiễn khảo sát cung cấp nhiều luận cứ thực tiễn qua đó đặt ra nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn cần giải quyết, đặc biệt là việc có tiếp tục thừa nhận tổ hợp tác là một chủ thể độc lập trong quan hệ pháp luật dân sự hay không là vấn đề quan trọng đặt ra trong việc đổi Bộ luật dân sự 2005.

1. Thực tiễn tổ chức và hoạt động của Tổ hợp tác

clip_image001Bộ luật dân sự 2005 không đưa ra định nghĩa, khái niệm thế nào là Tổ hợp tác mà chỉ đưa ra các tiêu chí, điều kiện để một chủ thể trở thành tổ hợp tác. Theo quy định tại Khoản 1, Điều 110 Bộ luật Dân sự 2005“Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các quan hệ dân sự”.

Theo đó, khi 3 cá thể trở lên cùng góp phần gia tài, sức lực lao động để thực thi những việc làm nhất định, cùng hưởng lợi, cùng chịu nghĩa vụ và trách nhiệm và việc hợp tác được thiết kế xây dựng trên cơ sở hợp đồng hợp tác có xác nhận của Ủy Ban Nhân Dân cấp, xã phường thị xã .

clip_image002Tuy nhiên, thực tiễn xác định một chủ thể là tổ hợp tác cũng có nhiều cách xác định khác nhau. Do không thống nhất cách xác định nên việc thống kê các tổ hợp tác cũng có sự khác nhau. Có nơi, chỉ thống kê những tổ hợp tác nào có chứng thực tại UBND cấp xã, có nơi thống kê tất cả các “tổ”, “hội”, “nhóm người” “tổ nhóm tập thể”[6] có chứng thực và không có chứng thực tại UBND cấp xã/phường như tổ thủy nông, tổ làm đất, tổ bảo vệ thực vật, tổ thu hoạch, tổ cung ứng vật tư, tiêu thụ nông sản, tổ chuyên ngành theo sở thích (tổ nuôi hưu, tổ nuôi cá lồng, tổ liên kết sản xuất hạt điều sạch,…), tổ tín dụng cho vay vốn,….Do đó, các con số từ địa phương báo cáo về tình hình tổ hợp tác rất lớn, không phản ánh đúng tình hình thành lập và hoạt động, phát triển của Tổ hợp tác theo các quy định của Bộ luật dân sự 2005 (được làm rõ tại phần chứng thực tổ hợp tác).

Do cách xác lập tư cách chủ thể tổ hợp tác phải là chủ thể có ĐK xác nhận hợp đồng hợp tác tại Ủy Ban Nhân Dân cấp xã / phường nên thực tiễn khám phá so với những chủ thể được gọi là tổ hợp tác có ĐK xác nhận này cũng rất phong phú .

1.1. Về vấn đề tài sản: Theo quy định Điều 114 Bộ luật dân sự về tài sản của Tổ hợp tác “1. Tài sản do các tổ viên đóng góp, cùng tạo lập và được tặng cho chung là tài sản của tổ hợp tác.

2. Các tổ viên quản lý và sử dụng tài sản của tổ hợp tác theo phương thức thoả thuận.

3. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất của tổ hợp tác phải được toàn thể tổ viên đồng ý; đối với các loại tài sản khác phải được đa số tổ viên đồng ý. “

Tuy nhiên, do pháp luật không “pháp định” về vốn góp của tổ hợp tác mà chỉ là số vốn tự kê khai, thông báo trong hợp đồng hợp tác chứng thực tại ủy ban nhân dân cấp xã/phường nên việc xác định tài sản của tổ hợp tác có nhiều cách xác định khác nhau. Theo đó, “việc khai” tài sản đóng góp vào Tổ hợp tác chỉ là khai cho có mà không có tài sản chung đóng góp thực. Thực tiễn khảo sát cho thấy tổ hợp tác gần như không có riêng, tài sản, tư liệu sản xuất vẫn thuộc sở hữu, quản lý của các tổ viên theo nguyên tắc của ai thì người đó sở hữu, quản lý, sử dụng. Tài sản của Tổ hợp tác rất ít, chỉ là “quỹ” để các Tổ hợp tác sinh hoạt hoặc cho 1 số tổ viên vay[7] hoặc số vốn là của riêng một tổ viên đưa ra để kinh doanh. Chính lý do này thực tế đã làm cho tổ hợp tác gặp khó khăn trong việc xác lập các giao dịch dân sự, cũng như thừa nhận tư cách chủ thể của Tổ hợp tác. Điều này cũng thể hiện thông qua khó khăn của Tổ hợp tác tiếp cận việc vay vốn do không có tài sản để thế cho khoản vay khi nhân danh tổ hợp tác vay vốn.

1.2. Về thành viên tham gia tổ hợp tác. Theo quy định Điều 110 Bộ luật dân sự 2005 tổ viên của tổ hợp tác là những người cùng góp công sức trong việc tham gia sản xuất, kinh doanh, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm. Thực tiễn tìm hiểu cho thấy, các tổ viên tham gia tổ hợp tác không đảm bảo tiêu chí này. Các tổ viên tham gia tổ hợp tác rất đa dạng. Đối với những người không có quan hệ huyết thống, họ hàng thì các thành viên tham gia tổ hợp tác với danh nghĩa là nơi sinh hoạt, trao đổi kinh nghiệm, cùng tìm các giải pháp để nâng cao sản xuất, đầu ra cho sản phẩm hoặc các tổ viên chỉ là “lao động” làm thuê cho tổ trưởng mà không có hoạt động sản xuất, kinh doanh chung. Trường hợp các tổ viên tham gia sản xuất chung, góp sức để sản xuất chung thì các thành viên tham gia trong tổ hợp tác có quan hệ huyết thống theo mô hình “gia đình – cha mẹ và các con (các con có thể đã lập gia đình).

Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành mới chỉ dừng lại quy định việc bầu, thay đổi tổ trưởng phải thông báo với UBND cấp xã/phường nơi chứng thực hợp đồng hợp tác. Đối với việc kết nạp mới, thay đổi, chấm dứt tổ viên thì vấn đề thông báo không đặt ra. Điều này cho thấy sự chưa công khai tư cách thành viên gây khó khăn trong việc xác định một cá nhân có phải là tổ viên của tổ hợp tác trên thực tế.

1.3. Mục đích tham gia tổ hợp tác của tổ viên và mục đích xây dựng tổ hợp tác thành chủ thể của quan hệ dân sự

clip_image003 Tổ hợp tác là tổ hợp những người cùng tham gia hỗ trợ, liên kết sản xuất, kinh doanh chung. Do đó, các tổ viên tham gia tổ hợp tác mới chỉ dừng lại trong việc tìm một “tổ chức” có tư cách pháp lý để hội, họp trao đổi kinh nghiệm sản xuất, giúp đỡ nhau trong quá trình sản xuất, kinh doanh giữa các tổ viên. Trong khi đó chính sách phát triển kinh tế tập thể của Đảng, Nhà nước được nhà lập pháp đã thể chế hóa Tổ hợp tác thành một chủ thể trong giao dịch dân sự – liên kết đơn giản nhằm tạo tiền tề, điều kiện cho việc phát triển, mở rộng và “nâng” tổ hợp tác thành các chủ thể có tổ chức cao hơn như Hợp tác xã, Doanh nghiệp. Tuy nhiên, từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của các tổ hợp tác cho thấy không có tổ hợp tác nào hoạt động đúng với bản chất, các tiêu chí luật định. Bên cạnh đó, thực tiễn khảo sát cho thấy gần như không có trường hợp tổ hợp tác nào tiến hành chuyển đổi thành loại hình khác mà nhà xây dựng chính sách mong đợi.

1.4. Vấn đề xác lập giao dịch và đại diện trong giao dịch

Bộ luật dân sự 2005 tiếp tục thừa nhận Tổ hợp tác là một chủ thể trong các quan hệ dân sự và không có tư cách pháp nhân. Điều này thể hiện trong cơ chế chịu trách nhiệm về tài sản được quy định tại khoản 2, Điều 117, khoản 3, Điều 120 Bộ luật dân sự 2005 “Tổ hợp tác chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của tổ; nếu tài sản không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của tổ thì tổ viên phải chịu trách nhiệm liên đới theo phần tương ứng với phần đóng góp bằng tài sản riêng của mình”. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự 2005 cũng quy định trong những điều kiện nhất định tổ hợp tác có thể chuyển đổi thành các hình thức thích hợp có tư cách pháp nhân (hợp tác xã, doanh nghiệp). Điều 12, Nghị định 151/2007/NĐ-CP quy định các quyền của tổ hợp tác có phạm vi rất rộng[8] tạo điều kiện thuận lợi để tổ hợp tác tham gia vào các quan hệ dân sự.

Tuy nhiên, như đã phân tích trên do tổ hợp tác không có tài sản, nếu có thì tài sản là tài sản của cá nhân tổ trưởng nên thực tế tổ hợp tác không xác lập giao dịch dân sự (mua bán, vay vốn,…. ) nhân danh tư cách tổ hợp tác mà nhân danh tư cách của cá nhân (tổ trưởng), cá nhân xác lập giao dịch tự chịu trách nhiệm với tư cách cá nhân. Bên cạnh đó, thực tiễn khảo sát cho thấy, không có tranh chấp dân sự phát sinh nào mà một bên là tổ hợp tác.

Theo quy định tại Điều 113 Bộ luật dân sự thì tổ trưởng do các thành viên bầu ra sẽ là người đại diện cho tổ hợp tác xác lập các giao dịch. Giao dịch do tổ trưởng xác lập sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ của tổ hợp tác nói chung, các tổ viên nói riêng. Tuy nhiên, trên thực tế do không có góp vốn, góp sức để tham gia sản xuất chung nên các thành viên tham gia tự hiểu tổ trưởng xác lập và tự chịu trách nhiệm. Điều này cũng cho thấy chưa có sự tách bạch giữa tài sản, giao dịch của tổ hợp tác với tài sản, giao dịch của cá nhân tham gia giao dịch, đặc biệt khi cá nhân đó là chủ hộ của hộ gia đình[9] thì sự phức tạp trong việc xác định nghĩa vụ trong giao dịch đó.

Do chính sách chịu nghĩa vụ và trách nhiệm của tổ viên là nghĩa vụ và trách nhiệm trực tiếp và vô hạn. Tuy nhiên, pháp lý hiện hành cũng không pháp luật “ những hạn chế ” việc tham gia của một tổ viên ở nhiều chủ thể khác nhau ( tổ hợp tác khác, doanh nghiệp tư nhân, …. ). Điều này sẽ gây khó khăn vất vả, rủi ro đáng tiếc khi xác lập thanh toán giao dịch so với bên thứ 3, đặc biệt quan trọng khi chính sách công khai minh bạch tư cách tổ viên chưa được triển khai .
Trong thời hạn qua, nhiều forum, hội thảo chiến lược nhìn nhận về quy mô tổ hợp tác có đưa ra trong thực tiễn vướng mắc của tổ hợp tác trong việc tham gia những quan hệ dân sự, đặc biệt quan trọng là khó khăn vất vả trong việc tiếp cận vốn. Để khám phá yếu tố này, thực tiễn khảo sát cho thấy tất cả chúng ta luôn cố gắng nỗ lực tìm những giải pháp để tháo gỡ khó khăn vất vả này tuy nhiên tổ hợp tác mà tất cả chúng ta thiết kế xây dựng là tổ hợp tác có gia tài. Do tổ hợp tác không có gia tài riêng. Chính điều này ảnh hưởng tác động đến yếu tố “ gia tài bảo vệ ” cho quan hệ vay thì ngân hàng nhà nước không hề cho tổ hợp tác vay được. Tài sản vẫn thuộc quyền sở hữu tổ viên, không chuyển dời cho tổ hợp tác. Thực tiễn khảo sát cũng cho thấy, việc xác lập thanh toán giao dịch vay vốn này là do những tổ viên tự xác lập với tư cách cá thể chứ không trải qua tư cách tổ hợp tác .

1.5. Việc chứng thực thành lập Tổ hợp tác

Theo quy định khoản 1, Điều 110 Bộ luật Dân sự 2005 ; Điều 6 Nghị định 151 / 2007 / NĐ-CP tổ hợp tác là một chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự khi thực thi việc xác nhận hợp đồng hợp tác tại Ủy Ban Nhân Dân cấp xã / phường. Việc xác nhận, báo cáo giải trình về tình hình hoạt động giải trí của Tổ hợp tác được lao lý khá đơn cử tại Thông tư số 04/2008 / TT-BKH hướng dẫn một số ít lao lý tại Nghị định 151 / 2007 / NĐ-CP về tổ chức triển khai và hoạt động giải trí của Tổ hợp tác. Theo số liệu tổng hợp của Vụ Hợp tác xã, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì tính đến cuối năm 2011 ( trên cơ sở báo cáo giải trình của 42/63 tỉnh / thành phố ) thì cả nước có 139.122 Tổ hợp tác. Đây là những Tổ hợp tác có chứng tực hợp đồng hợp tác theo pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, theo số liệu tìm hiểu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn [ 10 ] trong năm 2007 với 114.293 tổ hợp tác ở 55 tỉnh thành phố có 18.824 tổ có xác nhận của Ủy Ban Nhân Dân xã, chiếm khoảng chừng 16,47 %. Số liệu Liên minh hợp tác xã Nước Ta thì lại có số lượng trái khác hẳn với 94.604 tổ hợp tác có ĐK hoặc chứng thực tại Ủy Ban Nhân Dân cấp xã / 370.000 tổ hợp tác ( tính đến 31/12/2011 ). Ở những cơ quan quản trị như Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Liên minh hợp tác xã đã có những số lượng khác nhau, lệch nhau đến gần 50 000 tổ hợp tác biểu lộ có yếu tố trong công tác làm việc thống kê, báo cáo giải trình về tính đúng mực về tình hình tăng trưởng tổ hợp tác .
Thực tiễn khảo sát những 8 tỉnh / thành cho thấy tình hình xác nhận hợp đồng chưa được thực thi vừa đủ, chưa thống nhất và chưa đồng nhất. Tỷ lệ “ nhóm ” được liên minh hợp tác xã gọi là tổ hợp tác với tỷ suất đã được ĐK chiếm tỷ suất rất nhỏ. Tuy nhiên, do hướng dẫn tại Thông tư số 04/2008 / TT-BKH hướng dẫn việc thống kê số lượng tổ hợp tác được hiểu là tổ, nhóm, câu lạc bộ, hội, … mà số lượng tổ hợp tác là rất lớn nhưng số lượng xác nhận theo pháp luật Bộ luật dân sự 2005 rất ít. ( Phú Yên : 20/2800 [ 11 ] ; Lạng sơn là 0/6 560 tổ hợp tác [ 12 ] ; Thành Phố Hà Nội 99/325 [ 13 ] …. )

Nguyên nhân các tổ hợp tác không đăng ký hoạt động với UBND xã là do tính chất hoạt động đơn giản, sản xuất kinh doanh nhỏ, không ổn định, mang tính mùa vụ, một số hoạt động trong vùng có hợp tác xã đã trở thành bộ phận nhận thầu, nhận khoán những dịch vụ thuộc chức năng của hợp tác xã. Nhiều tổ hợp tác mang tâm lý ngại làm thủ tục đăng ký với UBND xã, sợ bị đánh thuế, hoặc sợ các cơ quan chức năng khác gây trở ngại cho việc làm ăn.

Thực tiễn khảo sát cho thấy một trường hợp Tổ hợp tác được xây dựng “ kép ” vừa xác nhận hợp đồng hợp tác ở Ủy Ban Nhân Dân cấp xã vừa ĐK tại phòng kế hoạch góp vốn đầu tư của Ủy Ban Nhân Dân cấp Huyện và được cấp con dấu pháp nhân ( dấu tròn ) [ 14 ] .

Vấn đề năng lực của cơ quan chứng thực: Việc Bộ luật dân sự 2005 trao thẩm quyền chứng thực tư cách chủ thể cho chính quyền UBND cấp xã/phường là một vấn đề cần giải quyết bởi cơ chế đăng ký, quản lý, theo dõi quá trình thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác. Đặc biệt khi chế độ trách nhiệm của tổ viên là “vô hạn” có quan hệ với nhiều giao dịch mà tổ viên xác lập với tư cách khác như hộ gia đình, doanh nghiệp tư nhân,….thì việc quản lý nhà nước đối với các chủ thể này càng chặt chẽ. Thực tiễn khảo sát cho thấy quản lý nhà nước ở chính quyền cơ sở đối với tổ hợp tác rất yếu, kém. Điều này thể hiện chính quyền cơ sở không phân biệt rõ đâu là tổ hợp tác (có địa phương báo cáo cả tổ hợp tác không chứng thực hợp đồng hợp tác tại UBND xã phường: tổ vay vốn hội phụ nữ, hội nông dân vay vốn – được xem là tổ hợp tác,….).

1.6. Việc chuyển đổi Tổ hợp tác thành tổ chức có tư cách pháp nhân

Theo quy định khoản 1 Điều 111 Bộ luật dân sự 2005 “Tổ hợp tác có đủ điều kiện để trở thành pháp nhân theo quy định của pháp luật thì đăng ký hoạt động với tư cách pháp nhân tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.

Theo báo cáo giải trình Liên minh hợp tác xã Nước Ta [ 15 ] trong 10 năm từ 2002 – 2012 đã có 1.682 tổ hợp tác chuyển thành hợp tác xã. ( Số liệu thống kê là 5.662 )
Về mặt lý luận và thực tiễn cho thấy khi Tổ hợp tác quy đổi thành tổ chức triển khai pháp nhân thì Tổ hợp tác cũng sẽ chấm hết thay vào đó là Hợp tác xã hoặc Doanh nghiệp ( theo 1 số ít loại hình Luật Doanh nghiệp 2005 ). Như vậy, việc luật pháp luật như trên là điều không thiết yếu. Trong khi đó tại khoản 1, Điều 120 khi liệt kê những trường hợp chấm hết tổ hợp tác thì không đề cập đến yếu tố tổ hợp tác quy đổi thành pháp nhân. Thực tiễn cũng cho thấy nếu chỉ dừng lại ở mức độ link nhỏ, trong thời điểm tạm thời thì hợp đồng hợp tác giữa những bên đã phân phối nhu yếu của những bên trong quan hệ đó mà không cần xây dựng ra một chủ thể mới .

2. Quan điểm về việc thừa nhận tổ hợp tác – chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự

Tổ hợp tác được Bộ luật dân sự 1995 chính thức thừa nhận là một chủ thể của quan hệ pháp luật và tiếp tục được khẳng định trong Bộ luật dân sự 2005. Tuy nhiên, cũng như lần sửa đổi trước, hiện cũng có hai luồng quan điểm khác nhau về việc có tiếp tục thừa nhận, duy trì tư cách chủ thể của tổ hợp tác trong lần sửa đổi bổ sung Bộ luật dân sự 2005 này.

Quan điểm thứ nhất, tiếp tục thừa nhận tư cách chủ thể của Tổ hợp tác như hiện hành. Quan điểm này cho rằng, từ những con số về số lượng tổ hợp tác, số lượng tổ viên, số vốn…. đã khẳng định tổ hợp tác đã mang lại lợi ích cho cộng đồng, xã hội, tạo ra “lưới an sinh xã hội phi chính thức” thông qua giúp đỡ lẫn nhau trong phạm vi các tổ; hình thành các tổ chức mang tính dân chủ, phát huy khả năng sáng tạo của người dân; tạo ra sự phát triển bền vững ở nông thôn; gia tăng lợi ích kinh tế nhờ tăng quy mô sử dụng các nguồn lực tại chỗ. Và với những gì ít, nhiều đang tồn tại cũng như nó chưa có vuớng mắc, ảnh hưởng xấu gì đến các quan hệ dân sự thì việc bỏ nó là không cần thiết. Bên cạnh đó, thì trong các văn kiện về đường lối phát triển kinh tế nước ta vẫn khẳng địn mô hình kinh tế tập thể trong đó có đối tượng tổ hợp tác. Mặt khác, nhóm quan điểm này có xu hướng mong muốn thừa nhận tư cách “pháp nhân”[16] cho tổ hợp tác.

Quan điểm thứ hai, không thừa nhận tổ hợp tác là một chủ thể độc lập trong quan hệ pháp luật dân sự. Quan điểm này cho rằng, thực tiễn không tồn tại tổ hợp tác như các nhà làm luật xây dựng. Quan hệ giữa các tổ viên trong tổ hợp tác chỉ là sự kết hợp của các cá nhân ( tổ viên) với nhau thông qua hợp đồng hợp tác sản xuất, kinh doanh. Sự hình thành, hoạt động hay chấm dứt tổ hợp tác về cơ bản dựa trên hợp đồng.

Như vậy, thực tiễn hợp tác, link tương hỗ trong sản xuất kinh doanh thương mại là môt hiện tượng kỳ lạ xã hội và là nhu yếu tất yếu trong hoạt động giải trí sản xuất kinh doanh thương mại. Chúng ta cũng không hề phủ nhận trọn vẹn những số lượng về số lượng tổ hợp tác xây dựng, tổ viên tham gia, số vốn, … của cơ quan quản trị nhà nước phân phối, trong đó số lượng có xác nhận hợp đồng hợp tác cũng chiếm tỷ suất cũng khá lớn .

Thực tiễn tồn tại và phát triển của tổ hợp tác đứng từ công tác quản lý nhà nước cho thấy tổ hợp tác không đặt nhiều vấn đề cần giải quyết do tổ hợp tác không có giao dịch, không có tranh chấp (tranh chấp đến cơ quan UBND cấp cơ sở, tòa án nhân dân giải quyết). Ngoài ra đối với các tổ hợp tác có chứng thực hay không chứng thực cho thấy không có sự khác nhau, cũng như không ảnh hưởng mục đích tham gia tổ hợp tác của các tổ viên. Từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác trong thời gian qua chúng tôi cho rằng, do tổ hợp tác không phát sinh giao dịch (nếu có, giá trị giao dịch rất nhỏ), giá trị tài sản tham gia ít nên không phát sinh các vấn đề, quan hệ pháp luật giải quyết. Để trả lời câu hỏi cho viêc có nên quy định tổ hợp tác trong Bộ luật dân sự 2005 sửa đổi trong thời gian tới hay không. Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng, Bộ luật dân sự 2005 không nhất thiết đề cập tổ hợp tác với tư cách là một chế định, chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự.

Đánh giá tác động kinh tế – xã hội khi bỏ chế định tổ hợp tác trong Bộ luật dân sự

Từ thực tiễn hoạt động giải trí của những tổ hợp tác ( tổ hợp tác có xác nhận hợp đồng hợp tác và tổ hợp tác không có xác nhận hợp đồng hợp tác ) cho thấy không có sự khác nhau giữa những tổ hợp tác này. Mục đích mà những tổ viên tham gia tổ hợp tác vẫn được bảo vệ. Đối với những quan hệ phát sinh trong quy trình link, hỗ trợ sản xuất kinh doanh thương mại giữa những thành viên với nhau được kiểm soát và điều chỉnh trải qua hợp đồng hợp tác và những quy định do những bên tự thỏa thuận hợp tác thiết kế xây dựng lên. Do đó, pháp lý không pháp luật chế định tổ hợp tác thì thực tiễn nhu yếu link, hỗ trợ sản xuất kinh doanh thương mại vẫn sống sót mà không cần đặt ra yếu tố chứng thực tại Ủy Ban Nhân Dân cấp xã / phường. Trường hợp phát sinh những quan hệ gia tài trong hoạt động giải trí sản xuất kinh doanh thương mại thì hoàn toàn có thể kiểm soát và điều chỉnh bằng hợp đồng hợp tác. Nếu những cá thể cần thấy rằng xây dựng ra một “ pháp nhân ” để thuận tiện hơn cho việc sản xuất kinh doanh thương mại thì hoàn toàn có thể lựa chọn hình thức hợp tác xã hoặc doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp ( công ty hợp danh, công ty CP, công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn từ 2 thành viên trở lên …. ) để sản xuất kinh doanh thương mại. Do đó, nếu từ bỏ chế định tổ hợp tác thì Bộ luật dân sự cần hoàn thành xong thêm chế định hợp đồng hợp tác để kiểm soát và điều chỉnh những quan hệ pháp sinh trong quy trình hợp tác, link bắt đầu của những thành viên. Cũng như công tác làm việc phổ cập giáo dục pháp lý để “ người dân ” đang tham gia những “ tổ hợp tác ” không cảm thấy lo ngại về những đổi khác pháp lý này .

Đối với phương án vẫn duy trì chế định tổ hợp tác, chúng tôi cho rằng chúng ta phải có những dự đoán về tổ hợp tác đúng nghĩa, cần hoàn thiện về mặt pháp luật đối với các quy định này.

Thứ nhất, đó là cơ chế công khai tư cách thành viên: Bộ luật dân sự 2005 sửa đổi cần quy định vấn đề trong trường hợp có sự thay đổi (bổ sung, chấm dứt,…) tư cách tổ viên thì phải báo cáo, đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước.

Thứ hai, cơ chế quản lý, hạn chế tham gia các quan hệ pháp luật khác khi trách nhiệm dân sự của tổ viên là trách nhiệm vô hạn. Pháp luật hiện hành trao thẩm quyền quản lý nhà nước cho chính quyền cấp cơ sở (UBND cấp xã/phường) trong khi đó pháp luật hiện hành việc, đăng ký thành lập chủ thể (Doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể…) thì cấp có thẩm quyền từ cấp Quận/huyện trở lên. Đặc biệt khi chế độ trách nhiệm của tổ viên tổ hợp tác là trách nhiệm vô hạn thì vấn đề công khai, kiểm soát thành viên của tổ hợp tác càng đặt ra để tránh rủi ro cho bên thứ ba. Pháp luật cũng cần hạn chế sự tham gia của tổ viên tổ hợp tác theo hướng mỗi tổ viên chỉ được tham gia một tổ hợp tác và không được phép thành lập doanh nghiệp tư nhân. Để thống nhất trong cơ quan quản lý nhà nước, pháp luật cần điều chỉnh theo hướng thẩm quyền chứng thực, đăng ký tổ hợp tác trao cho chính quyền UBND cấp Quận/huyện.

[ 1 ] Thông tư số 88 – VP / TH ngày 17/3/1958 của Ngân hàng Quốc gia hướng dẫn thi hành Nghị định số 047 – TTg ngày 14/2/1959 của Thủ tướng nhà nước về việc ấn định mức lãi suất vay tiền gửi tư nhân, tiền gửi tiết kiệm chi phí, lợi suất tính vào số dư thông tin tài khoản thanh toán giao dịch, lợi suất cho vay thời gian ngắn của ngân hàng nhà nước vương quốc Nước Ta
[ 2 ] http://thuvienphapluat.vn/phap-luat/tim-van-ban.aspx?keyword=t%E1%BB%95%20h%E1%BB%A3p%20t%C3%A1c&area=0&type=0&status=0&lan=1&org=0&signer=0&match=False&sort=6&bdate=21/09/1932&edate=21/09/2012
[ 3 ] Nghị định số 151 / NĐ-CP ngày 10/10/2007 của nhà nước lao lý tổ chức triển khai và hoạt động giải trí của Tổ hợp tác ; Thông tư số 04/2008 / TT-BKH ngày 9/7/2008 của Bộ Kế hoạch và góp vốn đầu tư hướng dẫn một số ít lao lý tại Nghị định 151 / NĐ-CP
[ 4 ] Trong quy trình sửa đổi Bộ luật dân sự 1995 có nhiều quan điểm về việc liên tục thừa nhận hay không thừa nhận Tổ hợp tác là một chủ thể của Bộ luật dân sự 2005. Tuy nhiên, tại thời gian đó, do thiếu những cơ sở lý luận và thực tiễn về sự sống sót, hoạt động giải trí của Tổ hợp tác nên yếu tố Tổ hợp tác vẫn được giữ lại, về cơ bản thừa kế những lao lý của Bộ luật dân sự 1995 .

[5] Theo báo cáo chưa đầy đủ từ Liên minh Hợp tác xã Việt Nam của các địa phương, đến 31/12/2011 cả nước có trên 370.000 tổ hợp tác, tăng 15,6% so với năm 2006 (năm 2006 có 320.000 tổ hợp tác); trong đó có 123.506 tổ hợp tác nông lâm nghiệp (chiếm 33,38%), 47.138 tổ công nghiệp – TTCN (chiếm 12,74%), 65.675 tổ thương mại dịch vụ (chiếm 17,75%), 14.245 tổ thủy sản (chiếm 3,85%), 10.138 tổ dịch vụ điện nước (chiếm 2,74%), 83.176 tổ tín dụng cho vay vốn (chiếm 22,48%), 26.122 tổ dịch vụ cộng đồng khác (chiếm 7,06%). Những năn gần đây tổ hợp tác phát triển rộng ở khắp các vùng miền cả nước, đặc biệt phát triển mạnh ở khu vực Nam bộ (chiếm 49,9% tổng số tổ hợp tác), tập trung chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tín dụng và vay vốn, và ở những khu vực có kinh tế hàng hóa phát triển. – Nguồn: Nguyễn Minh Tuấn, Liên Minh hợp tác xã Việt Nam, tham luận Đánh giá các quy định của Bộ luật dân sự 2005 về chế định tổ hợp tác, (Bộ Tư pháp, Viện Khoa học Pháp lý, Tọa đàm “Thực tiễn thi hành một số chế định của Bộ luật dân sự 2005 trên địa bàn thành phố Hà Nội, ngày 10/5/2012)

– Theo số liệu tổng hợp của Vụ Hợp tác xã, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì tính đến cuối năm 2011 (trên cơ sở báo cáo của 42/63 tỉnh/thành phố) thì cả nước có 139.122 Tổ hợp tác với 1,5 triệu thành viên tham gia, doanh thu trung bình của một tổ hợp tác là 343,77 triệu đồng/năm, thu nhập bình quân của thành viên tổ hợp tác là 12,06 triệu đồng/năm/tổ viên. – Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo tình hình phát triển Tổ hợp tác ở Việt Nam – kỷ yếu hội thảo về phát triển Tổ hợp tác ở Việt Nam, ngày 27/6/2012.

[ 6 ] Thông tư số 04/2008 / TT-BKH hướng dẫn một số ít pháp luật tại Nghị định số 151 / 2007 / NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2007 của nhà nước về tổ chức triển khai và hoạt động giải trí của tổ hợp tác khi lao lý đối tượng người tiêu dùng vận dụng thông tư này gồm : a. Tổ hợp tác được lao lý tại Điều 1 Nghị định 151 / 2007 / NĐ-CP ; b. Tổ chức có tên gọi khác như : “ nhóm link ”, “ câu lạc bộ ”, “ tổ tương hỗ ”, v.v., nhưng có đặc thù tổ chức triển khai và hoạt động giải trí tương thích với pháp luật về tổ hợp tác tại Điều 1 Nghị định 151 / 2007 / NĐ-CP .
[ 7 ] Tổ hợp tác Phú Sơn, tỉnh Phú Yên : Tổ hợp tác có số vốn bắt đầu do hội viên tự nguyện góp phần 2.400.000 đ ( 100.000 đ / 1 hội viên ). Qua quy trình hoạt động giải trí, với sự kết nạp của những hội viên, hiện tại số vốn của Tổ là 4.300.000 đồng .
[ 8 ] Điều 12, Nghị định 151 / 2005 / NĐ-CP : Tổ hợp tác được lựachọn ngành, nghề sản xuất, kinh doanh thương mại mà pháp lý không cấm, hoạt động giải trí khônggiới hạn theo phạm vi hành chính địa phương nơi tổ hợp tác xác nhận hợp đồnghợp tác. Tổ hợp tác hoạt động giải trí trong những nghành ngành nghề yên cầu phải có Giấyphép hành nghề hoặc Giấy ghi nhận đủ điều kiện kèm theo kinh doanh thương mại thì phải tuân thủcác pháp luật về giấy phép hành nghề hoặc giấy ghi nhận đủ điều kiện kèm theo kinhdoanh theo pháp luật của pháp lý. ; Trực tiếp xuất khẩu, nhập khẩu hoặc liên kết kinh doanh, liên kếtvới tổ chức triển khai, cá thể trong n ­ ước và tổ chức triển khai, cá thể n ­ ước ngoài để lan rộng ra sảnxuất, kinh doanh thương mại theo lao lý của pháp lý ; Được hưởng những chủ trương tương hỗ và tham gia thiết kế xây dựng, triển khai những kế hoạch, chương trình, dự án Bất Động Sản tương hỗ tăng trưởng kinh tế tài chính tập thể ; kế hoạch, chương trình, dự án Bất Động Sản tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hội, tạo việc làm và xoáđói, giảm nghèo ở địa phương. ; Được mở thông tin tài khoản riêng tại ngân hàng nhà nước theo lao lý củapháp luật và theo chính sách người đại diện thay mặt được ghi trong hợp đồng hợp tác ; Được ký kết những hợp đồng dân sự ; Quyết định việc phân phối hoa lợi, cống phẩm và giải quyết và xử lý những khoản lỗ của tổ hợp tác. ; Các quyền khác được ghi trong hợpđồng hợp tác nhưng không trái với những pháp luật của pháp lý .
[ 9 ] Tổ hợp tác bánh hòa đa : Là tổ hợp tác được xây dựng trên cơ sở 4 thành viên ( vợ, chồng và 2 người con ), có ĐK chứng thực tại Ủy Ban Nhân Dân xã / phường đồng thời ĐK kinh doanh thương mại tại Phòng kế hoạch – góp vốn đầu tư của Huyện và được cấp con dấu pháp nhân. Tuy nhiên, khi đi vay vốn ngân hàng nhà nước thì tổ trưởng ( đồng chủ hộ mái ấm gia đình ) để Giao hàng sản xuất kinh doanh thương mại của cơ sở thì dùng giấy CNQSD đất của hộ mái ấm gia đình đi thế chấp ngân hàng .

[10] Nguyễn Minh Tuấn, Liên Minh hợp tác xã Việt Nam, tham luận Đánh giá các quy định của Bộ luật dân sự 2005 về chế định tổ hợp tác, (Bộ Tư pháp, Viện Khoa học Pháp lý, Tọa đàm “Thực tiễn thi hành một số chế định của Bộ luật dân sự 2005 trên địa bàn thành phố Hà Nội, ngày 10/5/2012)

[ 11 ] Nguồn : Liên minh hợp tác xã tỉnh Phú Yên
[ 12 ] Nguồn : Liên minh hợp tác xã tỉnh TP Lạng Sơn
[ 13 ] http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30701&cn_id=514184
[ 14 ] Tổ hợp tác “ Bánh hòa đa ” tại Phú Yên .

[15]Dự thảo Báo cáo Tổng kết mười năm thực hiện Nghị quyết 13-NQ/TW Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 (khóa IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể

[ 16 ] Trong trong những tiêu chuẩn để xác lập một tổ chức triển khai có tư cách pháp nhân hay không đó là có gia tài độc lập, có cơ cấu tổ chức tổ chức triển khai ngặt nghèo thì Tổ hợp tác không cung ứng được .

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ – BỘ TƯ PHÁP

Trích dẫn từ: http://vienkhpl.ac.vn/index.php?cid=785

Like this:

Like

Loading…

Filed under : 1. SỬA ĐỔI BLDS 2005, Chủ thể |