Thiếu dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tâm thần ở vùng sâu vùng xa khiến cho trẻ em và thanh niên Việt Nam không nhận được hỗ trợ cần thiết

Hà Nội, ngày 6 tháng 2 năm 2018 – Các vấn đề về sức khoẻ tâm thần và tâm lý xã hội ngày càng phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt là ở trẻ em và thanh niên. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ nhưng theo một nghiên cứu mới của UNICEF, MOLISA và ODI, các dịch vụ chăm sóc và ứng phó tại Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về chăm sóc sức khỏe tâm thần. Việc thiếu các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tâm thần đặc biệt nghiêm trọng ở các tỉnh vùng sâu vùng xa. Điều này dẫn tới việc không ngăn ngừa được tình trạng tự tử vì những người có biểu hiện rối loạn về sức khỏe tâm thần không được điều trị  – và đây vốn là nguyên nhân chính dẫn tới các ý định và hành động tự sát.

Ông Friday Nwaigwe, Trưởng Chương trình Vì sự sống còn và tăng trưởng của trẻ nhỏ, UNICEF Nước Ta nói ” Mọi trẻ nhỏ đều có quyền cơ bản là được sống và tăng trưởng tối đa, cũng như quyền đạt được tiêu chuẩn sức khoẻ tối ưu nhất. Các yếu tố về sức khỏe tâm thần xảy ra khi còn nhỏ sẽ làm tốn nhiều ngân sách ở tuổi trưởng thành. Nếu không được điều trị, những điều này sẽ ảnh hưởng tác động nghiêm trọng đến sự tăng trưởng, thành tựu học tập và tiềm năng của những em, làm cho những em không có được đời sống không thiếu và có ích. Trẻ em bị rối loạn tâm thần phải đương đầu với những thử thách lớn do bị tẩy chay, cô lập và phân biệt đối xử, ít có năng lực được tiếp cận với những cơ sở chăm sóc sức khoẻ và giáo dục, điều này đã vi phạm quyền cơ bản của những em. ”

Trẻ em bị rối loạn tâm thần phải đương đầu với những thử thách lớn do bị tẩy chay, cô lập và phân biệt đối xử, ít có năng lực được tiếp cận với những cơ sở chăm sóc sức khoẻ và giáo dục, điều này đã vi phạm quyền cơ bản của những em .

Báo cáo Nghiên cứu này chỉ ra rằng trong khi các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tâm thần và tâm lý xã hội được cung cấp thông qua các trung tâm bảo trợ và phúc lợi xã hội, bệnh viện tâm thần và các phòng tư vấn tâm lý trong trường học, chất lượng và độ bao phủ của các dịch vụ này còn hạn chế và thường tập trung vào những rối loạn sức khoẻ tâm thần nặng. “Về bác sỹ, nhân lực bác sỹ về chuyên khoa tâm thần nhi cũng rất ít ở Việt Nam. Gần như người ta chưa trọng tâm về nội dung này, chính vì vậy chuyên sâu về chẩn đoán điều trị cho tâm thần nhi hiện nay rất hạn chế” – trích phỏng vấn cán bộ, Cục Quản lý Khám chữa bệnh (Phòng Nghiệp vụ Y và Dược bệnh viện), Bộ Y tế, Hà Nội).Trong bài phát biểu khai mạc tại hội thảo, Bà Đào Hồng Lan, Thứ trưởng Bộ LĐ-TB-XH đã đánh giá cao việc chia sẻ kết quả của báo cáo này và nhấn mạnh rằng những phát hiện này cung cấp bằng chứng thực tế nhằm giúp các ngành và các địa phương xây dựng và triển khai hệ thống dịch vụ toàn diện để đáp ứng nhu cầu hỗ trợ về sức khoẻ tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh niên ở Việt Nam.

“ Về bác sỹ, nhân lực bác sỹ về chuyên khoa tâm thần nhi cũng rất ít ở Nước Ta. Gần như người ta chưa trọng tâm về nội dung này, chính vì thế nâng cao về chẩn đoán điều trị cho tâm thần nhi lúc bấy giờ rất hạn chế ”

Báo cáo đưa ra một số ít khuyến nghị, trong đó có khuyến nghị về tầm quan trọng của việc cơ quan chính phủ Nước Ta tăng cường và nâng cao số lượng cũng như chất lượng nguồn nhân lực cho chăm sóc sức khoẻ tâm thần trong khu vực công và số lượng và mô hình dịch vụ, đặc biệt quan trọng những dịch vụ tương quan đến yếu tố sức khoẻ tâm thần thể nhẹ hơn. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh vấn đề tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức về nhu yếu xử lý thực trạng tâm ý xã hội của trẻ nhỏ và người trẻ tuổi, tổng thể những điều đó sẽ không hề triển khai nếu không có khung chủ trương, phân chia ngân sách nhà nước tương thích và sự hợp tác giữa những bộ, ngành khác nhau .
Dựa vào một loạt cuộc phỏng vấn với những nhà sản xuất dịch vụ, người trưởng thành, trẻ nhỏ / thanh thiếu niên, Báo cáo nghiên cứu và điều tra này nhấn mạnh vấn đề tầm quan trọng của yếu tố bảo vệ gồm môi trường tự nhiên mái ấm gia đình kết nối, mạng lưới xã hội và bạn hữu tốt, giáo viên tương hỗ và tấm gương để noi theo. Điều kiện kinh tế tài chính hộ mái ấm gia đình tốt hơn cũng như sự có sẵn của những dịch vụ cũng giúp giảm bớt gánh nặng lên trẻ nhỏ, qua đó giảm bớt những căng thẳng mệt mỏi tiềm ẩn .

Nghiên cứu này khẳng định tự tử và nỗ lực tự tử đặc biệt ở trẻ em và thanh niên là một vấn đề ở Việt Nam, và báo cáo này cũng xem xét những nhận thức chủ yếu quanh vấn đề này. Mặc dù tỷ lệ tự tử ở thanh thiếu niên Việt Nam tương đối thấp so với các nước trong khu vực, người ta ngày càng lo ngại khi tỉ lệ tự tử ở Việt Nam đang gia tăng và cần phải có hành động để giải quyết vấn đề này. Những người được phỏng vấn có xu hướng cho rằng trẻ em gái nhạy cảm với vấn đề tự tử hơn trẻ em trai. Ngoài ra, ở Điện Biên, lá ngón có độc dường như khiến việc tự tử dễ dàng hơn, đặc biệt đối với những em gái người Mông do các em sống gần nơi có lá ngón. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu có rất ít số liệu để chứng minh điều này, do đó cần phải thận trọng trước khi khái quát hóa vấn đề tự tử ở nhóm dân tộc cụ thể hoặc giữa trẻ em trai và trẻ em gái.

Trong khuôn khổ hợp tác giữa UNICEF Nước Ta và Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội với sự tương hỗ trình độ kỹ thuật và chiêu thức nghiên cứu và điều tra của Viện Nghiên cứu Phát triển Hải ngoại và Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới ở Thành Phố Hà Nội, nghiên cứu và điều tra này mong ước mang tới một cái nhìn tổng quan về sức khoẻ ý thức của trẻ nhỏ và người trẻ tuổi ở Nước Ta. Những phát hiện từ điều tra và nghiên cứu này sẽ giúp đưa ra khuyến nghị về cách xử lý thực trạng sức khoẻ niềm tin của trẻ nhỏ và người trẻ tuổi và sẽ lồng ghép vào những chương trình cấp vương quốc hiện có như Chương trình Quốc gia về trợ giúp xã hội và phục sinh tính năng cho người có bệnh tâm thần và Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Chăm sóc sức khỏe, cũng như những chương trình và khung pháp lý trong tương lai đang được lên kế hoạch gồm có Chiến lược vương quốc về Sức khoẻ Tâm thần quy trình tiến độ năm nay – 2025, với tầm nhìn đến năm 2030 .

Ghi chú cho biên tập viên:

Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO, rối loạn tâm thần được định nghĩa là “sự kết hợp của những suy nghĩ bất thường, quan niệm, cảm xúc, hành vi và mối quan hệ với người khác”, trong khi các rối loạn về sinh học có thể bao gồm chứng trầm cảm, rối loạn tâm thần lưỡng cực, tâm thần phân liệt và các rối loạn tâm thần khác, sa sút trí tuệ, rối loạn phát triển bao gồm chứng tự kỷ (WHO, thông tin cơ bản 2016). Ngoài những rối loạn về mặt sinh học, sức khoẻ tâm thần cũng có thể bị tác động bởi các yếu tố tâm lý xã hội gây căng thẳng. Theo Nguyên tắc Capetown, “hiệu ứng tâm lý” được định nghĩa là những trải nghiệm ảnh hưởng đến cảm xúc, hành vi, suy nghĩ, trí nhớ và khả năng học tập và nhận thức và hiểu biết về một tình huống cụ thể” (Nguyên tắc Capetown, UNICEF 1997). Chúng bao gồm các ảnh hưởng xã hội đối với phúc lợi do các yếu tố khác nhau như nghèo đói, chiến tranh, di dân, nạn đói, biến đổi khí hậu v…v…

Nghiên cứu này rút ra, kiến thiết xây dựng và bổ trợ cho những nghiên cứu và điều tra đang được triển khai bởi Viện Phát triển Hải ngoại cùng với Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới về quy trình đổi khác chuẩn mực xã hội về giới ( ví dụ như về giá trị giáo dục cho trẻ em gái, phân loại lao động và ra quyết định hành động trong mái ấm gia đình giữa 2 giới, hôn nhân gia đình, đấm đá bạo lực trên cơ sở giới ) của những người trẻ được tin là có vai trò quan trọng trong việc cải tổ thực trạng sức khoẻ tâm thần và phúc lợi tâm ý xã hội. Các chuẩn mực phân biệt đối xử như vậy thường chịu ảnh hưởng tác động bởi nhiều toàn cảnh ( những cuộc đàm thoại toàn thế giới và khuôn khổ quốc tế, hệ tư tưởng chính trị vương quốc và quỹ đạo tăng trưởng, bối cảnh địa phương ), nhưng những chuẩn mực này cũng được kiểm soát và điều chỉnh lại trải qua thưởng thức và nhận thức của từng cá thể và hội đồng .

Xem toàn bộ nghiên cứu tại đây