Hình ảnh nguời lính nông dân hiện lên chân thực trong bài thơ Đồng Chí của chính – Tài liệu text

Hình ảnh nguời lính nông dân hiện lên chân thực trong bài thơ Đồng Chí của chính hữu. háy phân tích bài thơ để làm sáng tỏ điều đó

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (50.1 KB, 3 trang )

MB : người lính nông dân đi vào thơ ca mang tất cả vẻ đẹp có thật của họ làm cảm động lòng người mà ta
tưng gặp trong ngôi ” dều thiêng ” ” văn tế nghĩa sỉ cần giuộc ” của nguyễn đình chiểu, trong ” nhớ ” của
hồng Nguyên ….. Nhưng còn có bài thơ khác đã khắc họa hết sức sống động nét mộc mạc chân thật, đáng
yêu và giau lòng yêu nước của người lính nông dân đó là ” đồng chí ” của nhà thơ Chính Hữu
TB : Cuộc kháng chiến chống pháp điểm gặp gỡ của bao người dân yêu nước. Chính họ mới đây thôi đã
” rù bùn đứng dậy sáng lòa ” Bằng cuộc cách mạng tháng 8. Giờ đây hjọ lại sát cánh bên nhau thề quyết
tử cho tổ quốc, quyến sinh. Hòan cảnh lịch sử mới đã khai sinh một tình cảnh mới. mội quan hệ mới mà
trước đo họ chưa hề được biết ” tình đồng chí ” Chính Hữu đã ghi lại tình cảm cao quý và mới mẻ ấy b
ằng những dòng thơ mộc mạc chân thành. Bài thơ mở ra bằng những câu thơ mang vẻ tâm tình
” quê hương anh nước mặn đồng chua
làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
anh với tôi đôi người xa lạ
tựa phương trời chẳng hẹn quen nhau
Đúng vạy nếu không có cuộc chiến tranh này nhữung người lính làm gì có thể gặp dược nhau. Mỗi người
mỗi cảnh mỗi vùng quê khác nhau họ là nhưng người xa lạ. Ấy thế mà dẫu chẳng hẹn nhưng họ lại gặp
nhau cùng một đội ngũ, cùng một chiến hào. Họ đến với nhau bằng những lời giơiứ thiệu về quê hương
minh. Đối với người việt kiểu thăm hỏi giới thiệu này giúp ta tự nhiên hơn gần gũi nhau hơn. tác giả tuy
giới thiệu rõ địa danh nơi cư ngụ của tunừg ngu ười nhưng hình ảnh ” nước mặt đồng chua ” gọi đến một
vùng đất ven biển ngập rừng quanh năm ., còn lòng tôi” đất cày lên sỏi đá ” là vùng trung dung khô cằn
đất đai thiếu màu mỡ. Tuy nhiên dù là miền xuôi hay miên ngu ược thì những người nông dân mặc áo
linh náy đe èu có chung 1 cái nghèo. Chính vì cũng nghèo cùng cơ cực mà họ dễ cảm thông mà chia sẻ
buồn vui cho nhau song việc họ có mật đòan vệ quốc dân không phải do cái nghèo mà do tình yêu nước
sâu sắc. Ông cha ta đã mang trong mình dòng máu yêu nước đến lượt họ. Tổ quốc có xâm lăng tình thần
yêu nước lại nồng nàn mạnh mẽ hơn bao giờ hết .Khiến học đến bên nhau ghép thành một sức mạnh nhấn
chìm bọn cưới nước và bán nước. Hòan cảnh sinh hoạt và chiến đấu đã làm cho tình bản của họ nảy sinh
Súng bên súng đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ
Đồng chi!
Hình ảnh đêm rét chung chăn làm ta nhớ đến motọ bài ca dao vui về người chính sĩ trong những ngày đấu
chống pháp. ” 3 thằng 1 cái chăn bông … ” ” đêm Việt Bắc thì quá rét mà chăn bông thì quá nhỏ nên 3
chàng cứ loay hoay mà mà chã đủ ấm. Đắp được chân thì hơ đầu đặp được bên này thì hở bên kìa. Cuối

cùng ” cái khó ló cái không ” ” 3 thằng quặt chặt gió lùa vào đầu ” chính trong những nàgy thiếu thốn khó
khăn ấy, từ ” xa lạ ” họ đa trỏ thành chiến hữ của nhau. Tri kỹ thật tự nhiên thật cảm đồng. Từ trong tâm
cảm của hộ bỗng bật thôts lên 2 từ ” đồng chí “. Ai mà chã biết đồng chí là cùng chung chi hướng cùng
mục đích. CÙng lí tưởng nhưng tình cảm ấy một khi có được thì cái cốt lõi là tình ” tri kỷ ” lại được thử
thách. được rèn luyện trong khó khăn thì mới thật sự bền vững. Phía sau những câu thơ nói về gió, về
rét, lặng lẽ chảy một ngọn lửa ấm nóng của tình đồng chí đồng đội. Nói rộng ra 2 tiếng ” đồng chí ” còn
có ý nghĩa của 1 tiếng liên thàm vi trong tận cùng gian khổ ý nghĩa đích thức của tình cảm này mới được
bộc lộ một cách đầy đủ nhất. Có thể liệu từ ” đồng chí ” đứng tác ra như 1 khổ thơ riêng. Nó là sự kết
tinh của cảm xúc dâng trào của những câu thơ thước và khởi đầu cho những câu thơ tiếp theo
Ruộng đồng nương tôi gửi bạn thân cày
Gian nhà riêng mặt kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người đi lính
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sót run người vầng tráng ướt mồ hôi
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miền cười buồn giá
Thân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay
ĐỌc bài thơ là sự sống đôi của hình tượng ” anh và tôi ” cái tình tri kỷ cái hứoi âm đồng chí được bắt qua
sự sống đôi có ý nghĩa bổ sung ấy. Từ những câu thơ nói về gia cảnh về cảnh ngộ đến đây ta lại bắt gặp
motọ sự thay đổi lớn lao trong quan niệm của người chiên sĩ. Họ để lại sau lưng mảnh đời quê hương với
những băn khoăn trăn chở để cùng ” ra lính ” ” ruộng nương ” đã tạm gởi cho bạn thân cày ” gian nhà
không ” tài sản nghèo đơn sơ ấy để mặc cho ” gió lung lay ” siêu vẹo. Lên đuờng đi chiến đấu, người
lính chấp nhận sự hi sinh, tam gác sang 1 bên những tính toán riêng tư là đứa con của quê hương, thời

bình các anh cầm cuốc cầm cày xây dựng cuộc sống, còn thời chiến thì cầm súng để bảo vệ tuổi quốc quê
hương. Hay theo mùa xuân nho nhỏ của tố hữu thì đó chính là lộc của họ. CHo nên không phải ngẫu
nhiên mà ” giếng nước gốc đa nhớ người ra lính ” Làng xóm quê hương hậu phưuơng nhứo các anh là

truyền thêm sức mạnh để các anh ” chân cứng đã mềm ” Đây là câu thơ liền nổi bật 2 chiếu ” tiền tuyến
nhớ hậu phương. hậu phương phó tiền tuyến ” Như vậy tình đồng chsi đã được tiếp thêm sức mạnh với
tình yêu đất nước. CÒn trong hiên tại đang có chung kry niệm còn sốt rét nơu rừng sâu. Cùng chịu
chung sự thiếu thốn ” áo anh rác vai ” ” quần tôi có vài mảnh vá ” ” chân không giày .. ” Tất cả những
khso khăn gian khổ được tái hiện bằng nhữung chi tiết hết sức chân thật không một chút tô vẻ. Ngày đầu
của cuộc kháng chiến quân đội cụ hộ mới được thành lập nên còn thiếu thôn trăm bề. Hìn hảnh người
lính của chính hữ trong một bài thơ khác ” ngày về ” làm ta chao lòng
” Rach ta tới rồi đôi giày vạn dặm
Bụi trưởng dinh phai bạc áo hào hoa
Tẩm lăng kề mãi đến khi già
Phơi gió vui với muôn ngàn cơ hội
Có thời có người đã cho những người coi như câu trên là ủy mị nhưng thực ra nó mang vẻ đẹp lãng mạn
chân thật về những người lính dám xả thân vì nghĩa lớn Thế nhưng nó lại không có sức lay động người
đọc bằng cái thật trog baì đồng chí. Cùng hướng về 1 lí tưởng cùng nếm sự khắc nghiệt của chiến tranh ,
người lính chia sẻ cho nhau tình thưonưg yêu ở mức tột cùng ” thương nhau tay nắm lấy bàn tay ” những
bàn tay đã tìm đến nhau truyền thêm sức mạnh vào niềm tin cho nhau đã làm rạng rỡ lên nụ cười lạc quan
dẫu rằng gió buốt lạng. Nhà thơ đã phát hiện rất tinh tế các nội lực tinh thần ấy trên cơ sở cảm thông và
thấu hiểu sâu sắc lẫn nhau để tạo nên chiều sâu và sự bền vững của thứ tình cảm thầm lặng nhưng rất dỗi
thiêng liêng này
Những câu thơ cuối bài đã hoàn chỉnh 1 cách xuất sắc bức chân dung người chiến sĩ mộc mạc giản dị mà
khỏe khoắn, can trường
” đêm nay rừng hoàng sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo
Đó là những câu thơ có giá trị tạo hình rất cao vẫn là ” rừng hoang sương muối cái gió rét cứ đeo đủôi
người chiên sĩ nhunưg không cản dược họ đứng cạnh bên nhau. Tư thế chờ giặc tới ” là tư thế hòan tòan
chủ động. Trong khung cảnh ấy đột nhiên một từ thơ lạ độc đáo hiện lên ” đầu súng trăng treo ” trong bài
thơ xưa đã từng có cảnh trăng treo đầu nuối
” Non kỳ quanh quê trăng treo
Bến phì gío thổi đìu hiu mấy gò “

( chinh phụ ngâm )
Trăng đầy núi đầy nhưng sao mà thê lương ảm đảm đén mức ” quạnh quê ” ” đìu hiu ” Thơ chính hữu
hòan toàn khác Biểu tượng ” đầu súng trăng treo ” là một biểu tượng đậm chất lãng mạn và khỏe khoắn .
Cái ảo và cái thực hòa ghép với nhau tạo nên một liên tưởng bất ngờ kỳ thú. Câu thơ kiểu 4 chữ nhưng
hết sức lay động. Cây súng trong tay người chiến sĩ tượng trung cho hòa bình ngừơi lính cầm súng là bảo
vệ cho quê hương ” cho giếng nước gốc đa ” của tổ quốc và cho cả vầng trăng thơ mộng kia nữa. Từ 2
hình ảnh ” trăng ” và ” súng” tưởng như đối lập nhau nhưng qua cái ảo để ở bên nhau 1 cách hợp lí không
hề viễn tưởng. Vẻ đẹp của tình thana chiến đất, chất thơ của chính hữu hội tù hài hòa trong 1 biểu tượng
thật đẹp đẽ. có lẽ đó là lý do mà nhà thơ đã đặt tên cho nhân đề tập thơ đầu tiên của mình là ” Đầu súng
trăng treo “
KB : Đồng chí mang vẻ đẹp riêng của người lính nông dân đó là vẻ đẹp mộc mạc giản dị nhưng hết sức
thiêng liêng gắn bó sâu sắc giữa số phận cá nhân với số phận chung của dân tộc. Bài thơ hòa thêm với
dàn đồng ca vang đời của văn học thơi kỳ là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng .Bài thơ cũng đã
góp phần tô điểm thêm vườn thơ Việt Nam thêm 1 đóa hoa mộc mạc mà cao đẹp quá
Nhớ
” lũ chúng tôi
bọn người tứ xứ
gặp nhau hồi chưa biết chữ
quen nhau từ buổi 1 2
Hồng Thương
Lấy ý chí thắng thiên nhiên
Gập đâu ôm chẳng thuốc men cũng xòang
Tố hữu

Đêm mưa rình giặc ta thao thức
Mùa lạnh mùa rét nhức xương
Nguyễn Đình Thi
Người đi đâu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

Cảm nghĩ về đoạn 1 của bài đồng chí
Đoạn thở mở đầu giới thiệu làng quê của 2 người lính xuất thân từ nông dân khiến em bồi hồi xúc động
Trước hết đó là sự xúc động trước cảnh nghèo khó của những mảnh đời cơ cực không phải chỉ riêng 2
người lính mà còn là cuộc đời chung của bao nhiêu dân cày Nông dân chúng ta phải 1 nắng 2 sương nên
những cảnh động ngập mặn. Phải đổ mồ hôi vì đất cày sỏi đã không màu mỡ thiếu phì phiêu Thế nhưng
cuộc sống cơ cực không làm nghèo đi tình yêu nước Từ những phương trời xa lạ họ đã có chung 1 lí
tưởng chiến đấu và nhất là có tình đồng chí sưởi ấm những đêm rét mướt nơi chiến trường Những ngày
chiến đấu gian khổ đối mặt với quân thù Dòng thơ gồm 2 từ ” Đồng chí ! ” đựợc dùng làm điểm nhân
trong bài thơ đã vang lên trong tâm hồn em tình cảm thương yêu thắm thiết đối với những người bồ đội
cụ hồ trong những năm đầu kháng chiến chống pháp
Cảm nghĩ về đoạn 2
Đoạn thơ thứ 2 khiến em suy nghĩ nhiều về những người bảo vệ tổ quốc trong giao đoạn 9 năm kháng
chiến chông pháo. Ai cũng có 1 quê hương với hình ảnh ruộng đồng thân thương với gian nhà tổ ấm của
gia đình với giếng nước gốc đa đã từng in sâu bao kỉ niệm. Những người lính trong bài ” Đồng chí ” cũng
yêu làng quê biết bao. Thế nhưng mà họ để lại tất cả ở quê nhà mà lên đường giết giặc. Tình cảm yêu
nước thiết tha khiên em vô cùng kính phục và tự hào vì tổ quỗc đã có những nguời con bình thường giản
dị biết đặt quyền lợ tổ quốc lên trên tình cảm riêng tư. Cuộc sống mới chiến trường phải đối mặt với
quana thù lại còn chống chọi với từng cơn sốt rét. Với sự thiếu thốn quan quân trang quân dụng ” áo rách
vài, quần có vài mảnh vá, chân không giày ” Hiếm khi đọc lại những dòng thơ này ai trong chúng ta
cũng dâng trài xúc động. Không còn hình ảnh nào tôn vinh và ca ngợi hơn
Cảm nghĩ về đoạn 3
Càng về cuối bài thơ tình cảm cua tác giả dành cho người chiến sĩ được dâng lên 1 cách trọn vẹn đầy đủ
nhất ” Đêm nay rừng hoang sương muối ” Có thể hiểu rằng không phải chi đêm nay mà từng đêm biết bao
nhiêu đêm người lính phải chịu đựng rét buốt với áo vải mong manh. Họ đứng sát cạnh nhau không rời
bỏ vị vui chiến đấu. Vì ai mà họ phải vượt qua bao nhiêu khó khăn gian khổ ? phải thực hiện nhiệm vụ
chờ giặc đến. Đó là vì quê hương dân tộc Em thất sự xúc động trước hình ảnh kết thúc bài thơ. Hơn nữa
hình ảnh ” Đầu súng trăng treo ” lại gợi cho em cảm xúc dẹp đầy chất lãng mạng bay bổng của người
lính. Chính Hữu là 1 cây bút tài năng đã để lại cho văn học việt nam 1 b ài thơ xúc động tình người và 1
hình tượng đẹp tồn tại trong thơ ca đó là hình tượng “đầu súng trăng treo”

cùng ” cái khó ló cái không ” ” 3 thằng quặt chặt gió lùa vào đầu ” chính trong những nàgy thiếu thốn khókhăn ấy, từ ” lạ lẫm ” họ đa trỏ thành chiến hữ của nhau. Tri kỹ thật tự nhiên thật cảm đồng. Từ trong tâmcảm của hộ bỗng bật thôts lên 2 từ ” chiến sỹ “. Ai mà chã biết chiến sỹ là cùng chung chi hướng cùngmục đích. CÙng lí tưởng nhưng tình cảm ấy một khi có được thì cái cốt lõi là tình ” tri kỷ ” lại được thửthách. được rèn luyện trong khó khăn vất vả thì mới thật sự bền vững và kiên cố. Phía sau những câu thơ nói về gió, vềrét, lặng lẽ chảy một ngọn lửa ấm nóng của tình chiến sỹ đồng đội. Nói rộng ra 2 tiếng ” chiến sỹ ” còncó ý nghĩa của 1 tiếng liên thàm vi trong tận cùng gian nan ý nghĩa đích thức của tình cảm này mới đượcbộc lộ một cách vừa đủ nhất. Có thể liệu từ ” chiến sỹ ” đứng tác ra như 1 khổ thơ riêng. Nó là sự kếttinh của cảm hứng dâng trào của những câu thơ thước và khởi đầu cho những câu thơ tiếp theoRuộng đồng nương tôi gửi bạn thân càyGian nhà riêng mặt kệ gió lung layGiếng nước gốc đa nhớ người đi línhAnh với tôi biết từng cơn ớn lạnhSót run người vầng tráng ướt mồ hôiÁo anh rách nát vaiQuần tôi có vài mảnh váMiền cười buồn giáThân không giàyThương nhau tay nắm lấy bàn tayĐỌc bài thơ là sự sống đôi của hình tượng ” anh và tôi ” cái tình tri kỷ cái hứoi âm chiến sỹ được bắt quasự sống đôi có ý nghĩa bổ trợ ấy. Từ những câu thơ nói về gia cảnh về cảnh ngộ đến đây ta lại bắt gặpmotọ sự biến hóa lớn lao trong ý niệm của người chiên sĩ. Họ để lại sau sống lưng mảnh đời quê nhà vớinhững do dự trăn chở để cùng ” ra lính ” ” ruộng nương ” đã tạm gởi cho bạn thân cày ” gian nhàkhông ” gia tài nghèo đơn sơ ấy để mặc cho ” gió lung lay ” siêu vẹo. Lên đuờng đi chiến đấu, ngườilính đồng ý sự hi sinh, tam gác sang 1 bên những giám sát riêng tư là đứa con của quê nhà, thờibình các anh cầm cuốc cầm cày kiến thiết xây dựng đời sống, còn thời chiến thì cầm súng để bảo vệ tuổi quốc quêhương. Hay theo mùa xuân nho nhỏ của tố hữu thì đó chính là lộc của họ. CHo nên không phải ngẫunhiên mà ” giếng nước gốc đa nhớ người ra lính ” Làng xóm quê nhà hậu phưuơng nhứo các anh làtruyền thêm sức mạnh để các anh ” chân cứng đã mềm ” Đây là câu thơ liền điển hình nổi bật 2 chiếu ” tiền tuyếnnhớ hậu phương. hậu phương phó tiền tuyến ” Như vậy tình đồng chsi đã được tiếp thêm sức mạnh vớitình yêu quốc gia. CÒn trong hiên tại đang có chung kry niệm còn sốt rét nơu rừng sâu. Cùng chịuchung sự thiếu thốn ” áo anh rác vai ” ” quần tôi có vài mảnh vá ” ” chân không giày .. ” Tất cả nhữngkhso khăn khó khăn được tái hiện bằng nhữung cụ thể rất là chân thực không một chút ít tô vẻ. Ngày đầucủa cuộc kháng chiến quân đội cụ hộ mới được xây dựng nên còn thiếu thôn trăm bề. Hìn hảnh ngườilính của chính hữ trong một bài thơ khác ” ngày về ” làm ta chao lòng ” Rach ta tới rồi đôi giày vạn dặmBụi trưởng dinh phai bạc áo hào hoaTẩm lăng kề mãi đến khi giàPhơi gió vui với muôn ngàn cơ hộiCó thời có người đã cho những người coi như câu trên là ủy mị nhưng thực ra nó mang vẻ đẹp lãng mạnchân thật về những người lính dám lao vào vì nghĩa lớn Thế nhưng nó lại không có sức lay động ngườiđọc bằng cái thật trog baì chiến sỹ. Cùng hướng về 1 lí tưởng cùng nếm sự khắc nghiệt của cuộc chiến tranh, người lính san sẻ cho nhau tình thưonưg yêu ở mức tột cùng ” thương nhau tay nắm lấy bàn tay ” nhữngbàn tay đã tìm đến nhau truyền thêm sức mạnh vào niềm tin cho nhau đã làm rạng rỡ lên nụ cười lạc quandẫu rằng gió buốt lạng. Nhà thơ đã phát hiện rất tinh xảo các nội lực niềm tin ấy trên cơ sở cảm thông vàthấu hiểu thâm thúy lẫn nhau để tạo nên chiều sâu và sự vững chắc của thứ tình cảm thầm lặng nhưng rất dỗithiêng liêng nàyNhững câu thơ cuối bài đã hoàn hảo 1 cách xuất sắc bức chân dung người chiến sỹ mộc mạc đơn giản và giản dị màkhỏe khoắn, can trường ” đêm nay rừng hoàng sương muốiĐứng cạnh bên nhau chờ giặc tớiĐầu súng trăng treoĐó là những câu thơ có giá trị tạo hình rất cao vẫn là ” rừng hoang sương muối cái gió rét cứ đeo đủôingười chiên sĩ nhunưg không cản dược họ đứng cạnh bên nhau. Tư thế chờ giặc tới ” là tư thế hòan tòanchủ động. Trong khung cảnh ấy đùng một cái một từ thơ lạ độc lạ hiện lên ” đầu súng trăng treo ” trong bàithơ xưa đã từng có cảnh trăng treo đầu nuối ” Non kỳ quanh quê trăng treoBến phì gío thổi vắng vẻ mấy gò ” ( chinh phụ ngâm ) Trăng đầy núi đầy nhưng sao mà thê lương ảm đảm đén mức ” quạnh quê ” ” vắng ngắt ” Thơ chính hữuhòan toàn khác Biểu tượng ” đầu súng trăng treo ” là một hình tượng đậm chất lãng mạn và khỏe mạnh. Cái ảo và cái thực hòa ghép với nhau tạo nên một liên tưởng giật mình kỳ thú. Câu thơ kiểu 4 chữ nhưnghết sức lay động. Cây súng trong tay người chiến sỹ tượng trung cho độc lập ngừơi lính cầm súng là bảovệ cho quê nhà ” cho giếng nước gốc đa ” của tổ quốc và cho cả vầng trăng thơ mộng kia nữa. Từ 2 hình ảnh ” trăng ” và ” súng ” tưởng như trái chiều nhau nhưng qua cái ảo để ở bên nhau 1 cách hợp lý khônghề viễn tưởng. Vẻ đẹp của tình thana chiến đất, chất thơ của chính hữu hội tù hòa giải trong 1 biểu tượngthật xinh xắn. có lẽ rằng đó là nguyên do mà nhà thơ đã đặt tên cho nhân đề tập thơ tiên phong của mình là ” Đầu súngtrăng treo ” KB : Đồng chí mang vẻ đẹp riêng của người lính nông dân đó là vẻ đẹp mộc mạc đơn giản và giản dị nhưng hết sứcthiêng liêng gắn bó thâm thúy giữa số phận cá thể với số phận chung của dân tộc bản địa. Bài thơ hòa thêm vớidàn đồng ca vang đời của văn học thơi kỳ là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng. Bài thơ cũng đãgóp phần tô điểm thêm vườn thơ Nước Ta thêm 1 đóa hoa mộc mạc mà cao đẹp quáNhớ ” lũ chúng tôibọn người tứ xứgặp nhau hồi chưa biết chữquen nhau từ buổi 1 2H ồng ThươngLấy ý chí thắng thiên nhiênGập đâu ôm chẳng thuốc men cũng xòangTố hữuĐêm mưa rình giặc ta thao thứcMùa lạnh mùa rét nhức xươngNguyễn Đình ThiNgười đi đâu không ngoảnh lạiSau sống lưng thềm nắng lá rơi đầyCảm nghĩ về đoạn 1 của bài đồng chíĐoạn thở khởi đầu ra mắt làng quê của 2 người lính xuất thân từ nông dân khiến em bồi hồi xúc độngTrước hết đó là sự xúc động trước cảnh nghèo khó của những mảnh đời cơ cực không phải chỉ riêng 2 người lính mà còn là cuộc sống chung của bao nhiêu dân cày Nông dân chúng ta phải 1 nắng 2 sương nênnhững cảnh động ngập mặn. Phải đổ mồ hôi vì đất cày sỏi đã không phì nhiêu thiếu phì phiêu Thế nhưngcuộc sống cơ cực không làm nghèo đi tình yêu nước Từ những phương trời lạ lẫm họ đã có chung 1 lítưởng chiến đấu và nhất là có tình chiến sỹ sưởi ấm những đêm rét mướt nơi mặt trận Những ngàychiến đấu khó khăn đương đầu với quân địch Dòng thơ gồm 2 từ ” Đồng chí ! ” đựợc dùng làm điểm nhântrong bài thơ đã vang lên trong tâm hồn em tình cảm yêu quý thắm thiết so với những người bồ độicụ hồ trong những năm đầu kháng chiến chống phápCảm nghĩ về đoạn 2 Đoạn thơ thứ 2 khiến em tâm lý nhiều về những người bảo vệ tổ quốc trong giao đoạn 9 năm khángchiến chông pháo. Ai cũng có 1 quê nhà với hình ảnh ruộng đồng thân thương với gian nhà tổ ấm củagia đình với giếng nước gốc đa đã từng in sâu bao kỉ niệm. Những người lính trong bài ” Đồng chí ” cũngyêu làng quê biết bao. Thế nhưng mà họ để lại toàn bộ ở quê nhà mà lên đường giết giặc. Tình cảm yêunước thiết tha khiên em vô cùng kính phục và tự hào vì tổ quỗc đã có những nguời con thông thường giảndị biết đặt quyền lợ tổ quốc lên trên tình cảm riêng tư. Cuộc sống mới mặt trận phải đương đầu vớiquana thù lại còn chống chọi với từng cơn sốt rét. Với sự thiếu thốn quan quân trang quân dụng ” áo ráchvài, quần có vài mảnh vá, chân không giày ” Hiếm khi đọc lại những dòng thơ này ai trong chúng tacũng dâng trài xúc động. Không còn hình ảnh nào tôn vinh và ca tụng hơnCảm nghĩ về đoạn 3C àng về cuối bài thơ tình cảm cua tác giả dành cho người chiến sỹ được dâng lên 1 cách toàn vẹn đầy đủnhất ” Đêm nay rừng hoang sương muối ” Có thể hiểu rằng không phải chi đêm nay mà từng đêm biết baonhiêu đêm người lính phải chịu đựng rét buốt với áo vải mong manh. Họ đứng sát cạnh nhau không rờibỏ vị vui chiến đấu. Vì ai mà họ phải vượt qua bao nhiêu khó khăn vất vả khó khăn ? phải thực thi nhiệm vụchờ giặc đến. Đó là vì quê nhà dân tộc bản địa Em thất sự xúc động trước hình ảnh kết thúc bài thơ. Hơn nữahình ảnh ” Đầu súng trăng treo ” lại gợi cho em cảm hứng dẹp đầy chất lãng mạng bay bổng của ngườilính. Chính Hữu là 1 cây bút năng lực đã để lại cho văn học việt nam 1 b ài thơ xúc động tình người và 1 hình tượng đẹp sống sót trong thơ ca đó là hình tượng ” đầu súng trăng treo “