Quyền và nghĩa vụ đăng ký doanh nghiệp của người thành lập doanh nghiệp
“ 1. Thành lập doanh nghiệp theo lao lý của pháp lý là quyền của cá thể, tổ chức triển khai và được Nhà nước bảo lãnh .
- Người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp có nghĩa vụ thực hiện việc đăng ký doanh nghiệp theo quy định của Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
- Nghiêm cấm cơ quan đăng ký kinh doanh và các cơ quan khác gây phiền hà đối với tổ chức, cá nhân trong khi tiếp nhận hồ sơ và giải quyết việc đăng ký doanh nghiệp.
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp không được ban hành các quy định về đăng ký doanh nghiệp áp dụng riêng cho ngành hoặc địa phương mình. Những quy định về đăng ký doanh nghiệp do các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành trái với quy định tại Khoản này hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực”.
Theo quy định tại Điều luật thì cá nhân, tổ chức đều có quyền thành lập doanh nghiệp. Tuy nhiên, không phải cá nhân, tổ chức nào cũng có thể thành lập mà phải tuân theo quy định của pháp luật, một số trường hợp không được thành lập doanh nghiệp (khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014) và chủ thể là tổ chức chỉ được thành lập một số loại hình doanh nghiệp nhất định.
Xem thêm: Thời hạn nộp Báo cáo tài chính 2019 và các Báo cáo Thuế 2020 – Dịch vụ kế toán thuế chuyên nghiệp
Ngoài ra, việc đăng ký doanh nghiệp còn là nghĩa vụ của người thành lập doanh nghiệp và doanh nghiệp. Điều luật bổ sung thêm chủ thể là doanh nghiệp so với Nghị định 43/2010/NĐ-CP nhằm nhấn mạnh nghĩa vụ thay đổi đăng ký doanh nghiệp khi có thay đổi liên quan đến những thông tin cơ bản của doanh nghiệp sau khi thành lập.
Quy định mới không còn ghi nhận về việc thực thi nghĩa vụ và trách nhiệm nộp báo cáo giải trình kinh tế tài chính cho cơ quan ĐK kinh doanh thương mại vào trong nghĩa vụ và trách nhiệm ĐK doanh nghiệp mà được lao lý đơn cử trong văn bản pháp lý về kế toán .
Điều 5 còn lao lý cấm so với hành vi gây phiền hà so với những chủ thể khi triển khai ĐK doanh nghiệp, điều luật là cơ sở để doanh nghiệp, tổ chức triển khai, cá thể triển khai quyền của mình. Đặc biệt Điều luật còn biểu lộ sự thống nhất lao lý khi đề cập đến việc những Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân những cấp không được phát hành những lao lý về ĐK doanh nghiệp vận dụng riêng cho ngành hoặc địa phương. Quy định này nhằm mục đích bảo vệ không chồng lấn giữa những lao lý và tôn vinh tính tuân thủ pháp lý .
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Doanh Nghiệp






