Cần xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ khi chuyển đổi số công tác dân tộc

Ông Nguyễn Ngọc Hà – Giám đốc Trung tâm tin tức, Ủy viên Thường trực Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số của Ủy ban Dân tộc đã san sẻ với báo chí truyền thông về yếu tố này .

Những kinh nghiệm, lưu ý khi triển khai chuyển đổi số công tác dân tộc

Theo đánh giá của Ủy ban Dân tộc (UBDT), đâu là những địa phương Top đầu cả nước về chuyển đổi số công tác dân tộc, thưa ông? Từ những địa phương này, chúng ta có thể rút ra những bài học kinh nghiệm nào để có thể chia sẻ, nhân rộng ra nhiều địa phương khác?

Ông Nguyễn Ngọc Hà: Công tác dân tộc liên quan đến nhiều tỉnh thành, do đó ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) liên quan rộng. Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) là đơn vị đầu mối và chỉ số ICT Index chính là một trong những chỉ số tiêu biểu.

Top đầu cả nước về quy đổi số công tác làm việc dân tộc bản địa cũng nằm trong việc ứng dụng CNTT của địa phương. Ví dụ, Thừa Thiên Huế, Cần Thơ, Quảng Ninh đều ứng dụng CNTT rất tốt, do đó, CNTT về công tác làm việc dân tộc bản địa cũng tốt theo. Cụ thể, ngay từ năm ngoái, Thừa Thiên Huế đã có những biểu đồ về dân số, kinh tế tài chính xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số ( DTTS ) – nó nằm trong đề án ứng dụng CNTT chung của địa phương. Tuy chưa có nhìn nhận ứng dụng CNTT về công tác làm việc dân tộc bản địa, nhưng theo Bộ chỉ số ứng dụng CNTT những địa phương thì cũng dễ thấy, tỉnh nào ứng dụng CNTT tốt thì công tác làm việc dân tộc bản địa cũng tốt theo. Tuy nhiên, ở Lai Châu lại có sự độc lạ so với bức tranh ứng dụng CNTT nói chung, công tác làm việc dân tộc bản địa nói riêng. Tuy chỉ số ứng dụng CNTT của tỉnh này chưa ấn tượng, nhưng CSDL về công tác làm việc dân tộc bản địa của Lai Châu đang làm lại rất tốt. Về vĩnh viễn cần có chương trình và kêu gọi được doanh nghiệp CNTT tham gia tương hỗ đồng bào. Nếu doanh nghiệp CNTT không tham gia ( sợ lỗ, không có chủ trương tương hỗ họ ) thì rất khó nói đến quy đổi số tại những địa phương vốn gặp nhiều khó khăn vất vả nói chung, quy đổi số nói riêng .Cần xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ khi CĐS công tác dân tộc - Ảnh 1.Ông Nguyễn Ngọc Hà nêu những điểm đáng quan tâm về kế hoạch quy đổi số trong công tác làm việc dân tộc bản địa năm 2021 .

Nhìn theo hướng ngược lại thì đâu là những địa phương Top cuối? Nguyên nhân khách quan, chủ quan là gì khiến họ đang ở cuối bảng xếp hạng?

Ông Nguyễn Ngọc Hà: Chúng tôi chưa xây dựng chỉ số đánh giá ứng dụng CNTT trong công tác dân tộc ở các tỉnh. Trên cơ sở Bộ chỉ số do Bộ TT&TT xây dựng thì thấy những tỉnh đứng ở Top cuối cũng nằm trong những tỉnh Top cuối về ứng dụng CNTT trong chỉ số ICT Index. Tuy nhiên, như đã nói ở trên cũng có những tỉnh như Lai Châu lại rất tốt, đã tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu, phần mềm hỗ trợ hoạch định chính sách…

Về cơ bản là ứng dụng CNTT còn rất hạn chế. Những khó khăn vất vả sống sót đến giờ vẫn là những khó khăn vất vả chung. Chúng tôi mong ước phải có khuynh hướng hoặc chương trình tương hỗ kêu gọi được doanh nghiệp CNTT lên những vùng này để góp vốn đầu tư. Đầu tư ở đó rất khó có lãi. Phải thế nào ? Nếu không thì không ai lên. Chính doanh nghiệp CNTT là nền tảng, lực lượng chính để Giao hàng cho việc quy đổi số của những tỉnh nói chung cũng như quy đổi số công tác làm việc dân tộc bản địa nói riêng. Nếu chưa có chủ trương thì cũng khó.

Chuyển đổi số trước tiên là chuyển đổi nhận thức

Xin ông cho biết những điểm đáng chú ý trong Kế hoạch chuyển đổi số công tác dân tộc năm 2021 là gì? Định hướng chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả công tác dân tộc đến năm 2025 và 2030 cần chú trọng những vấn đề gì?

Ông Nguyễn Ngọc Hà: Kế hoạch ứng dụng CNTT của UBDT, trước tiên là Kế hoạch triển khai giai đoạn 2021-2025 được triển khai với đầy đủ các trụ cột: Chính quyền số, Kinh tế số, Xã hội số…

Tuy nhiên, quy đổi số là cả quy trình, nhưng quy trình nhận thức phải nhanh và cần quy đổi thứ nhất. Do vậy, tiên phong UBDT đã xây dựng những giải pháp tuyên truyền, huấn luyện và đào tạo cho cán bộ làm công tác làm việc hiểu quy đổi số là gì.

Kế đến là xây dựng hạ tầng CNTT cho chuyển đổi số. Trước hết là hạ tầng điện toán đám mây có vai trò quan trọng và thời gian tới UBDT sẽ có những bước đi cụ thể để xây dựng hạ tầng này.

Thứ 3 là huấn luyện và đào tạo trực tuyến cho cán bộ làm công tác làm việc dân tộc bản địa ở địa phương lẫn Trung ương ; sau đó là giảng dạy CNTT cho cả đồng bào vùng được chọn. Thứ 4 là hạ tầng CNTT ngành làm công tác làm việc dân tộc bản địa cũng sẽ được tăng cường. Thực tế, việc tiến hành ứng dụng CNTT vùng đồng bào không hề làm riêng không liên quan gì đến nhau, do đó UBDT cần sự chung tay sát cánh của nhiều Bộ, ngành, trong đó có Bộ TT&TT. Thứ 5, UBDT đang xây dựng những điểm ship hàng truy vấn / tiếp cận, ứng dụng CNTT vùng đồng bào dân tộc bản địa. Mục tiêu là 100 % đồng bào được tiếp cận thông tin, với những điểm truy vấn nằm ngay tại những xã khó khăn vất vả. Thứ 6, UBDT sẽ tổ chức triển khai những buổi hội thảo chiến lược tuyên truyền tổng thể và toàn diện ứng dụng CNTT, quy đổi số cho cán bộ và đồng bào để hiểu hơn những khái niệm và lộ trình thực thi.

Các CSDL là yếu tố rất quan trọng trong quá trình chuyển đổi số? Quá trình xây dựng và triển khai CSDL chuyên ngành công tác dân tộc đang gặp những khó khăn, vướng mắc gì? Hướng tháo gỡ ra sao, thưa ông?

Ông Nguyễn Ngọc Hà: Chúng ta làm công nghệ thì biết CSDL rất quan trọng. Từ những dữ liệu nhỏ đến dữ liệu lớn. Trong công nghệ 4.0, Big Data thì ai cũng phải nói đến. Đối với công tác dân tộc, đây là điều rất quan trọng. Việc hoạch định, xây dựng chính sách phải dựa vào CSDL. Ví dụ giải quyết bài toán đất ở, phải dựa vào data: Mỗi người dân có đất ở, đất sản xuất không? Với hơn 14 triệu đồng bào, đây là bài toán rất lớn? Dữ liệu vô cùng quan trọng.

Khó khăn lớn nhất của việc xây dựng CSDL là không đồng nhất, mỗi tỉnh một khác, chưa có toàn diện và tổng thể chuẩn, nhờ vào năng lượng, góp vốn đầu tư của mỗi tỉnh. Nếu không có bài toán toàn diện và tổng thể thì khó hoạch định chủ trương toàn nước. Bài toán về dữ liệu lớn rất quan trọng. Một trong những khó khăn vất vả lớn nhất là sự phân tán, không đồng điệu, nôm na là chắp vá, không được update tiếp tục. Nếu xử lý được bài toán này mới xử lý được bài toán tổng thể và toàn diện chủ trương cho đồng bào dân tộc bản địa. Có CSDL rồi thì khai thác cũng là một yếu tố. Dữ liệu nhiều mà không có công nghệ tiên tiến thì nhiều khi người làm chủ trương hoa mắt. Phải yên cầu có công nghệ tiên tiến, trí tuệ tự tạo. Không thể mò mẫm từng dữ liệu để làm mà phải có thuật toán, nghiên cứu và điều tra khoa học bằng máy, thiết bị. Nếu không sẽ dễ sai lầm đáng tiếc. Dữ liệu và công nghệ tiên tiến giải quyết và xử lý dữ liệu, đặc biệt quan trọng là AI rất thiết yếu.

Đội ngũ nhân lực, đặc biệt là các chuyên gia về chuyển đổi số đã và đang được hệ thống các cơ quan từ trung ương tới địa phương đầu tư xây dựng như thế nào để tạo được bứt phá cho tiến trình chuyển đổi số công tác dân tộc?

Ông Nguyễn Ngọc Hà: Con người là quan trọng. Con người khai thác, ứng dụng CNTT hạn chế thì sẽ rất khó khăn. Theo Quyết định 414 của Thủ tướng Chính phủ, việc đào tạo CNTT cho cán bộ làm công tác dân tộc sẽ phải thay đổi.

Thực tế, trình độ cán bộ cơ sở hạn chế nên việc ứng dụng CNTT và quy đổi số của UBDT thời hạn qua cũng bị hạn chế. Do đó, nâng cao năng lượng CNTT của cán bộ làm công tác làm việc dân tộc bản địa là một trong những trách nhiệm trọng tâm của Đề án 414 – ứng dụng CNTT tương hỗ đồng bào DTTS đang được UBDT tích cực tiến hành.

Là “người trong cuộc”, ông có đề xuất, kiến nghị gì với Bộ TT&TT và các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp liên quan để nâng cao hơn nữa hiệu quả chuyển đổi số công tác dân tộc trong thời gian tới?

Ông Nguyễn Ngọc Hà: Đơn vị chủ trì vẫn là Bộ TT&TT. Tôi thấy Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng là người đi nhiều, nói nhiều về chuyển đổi số; đến làm việc các đơn vị đều hỏi rõ các đơn vị có đặt hàng gì Bộ TT&TT không? Với sự vào cuộc quyết liệt của Bộ TT&TT, sự hưởng ứng của các Bộ, ngành nói riêng, trong đó có UBDT, chắc chắn công cuộc chuyển đổi số sẽ có những thành quả rõ nét thời gian tới.

Có thể thấy, Bộ TT&TT nói chung, Bộ trưởng nói riêng như ” con thoi ” và rất tích cực tuyên truyền, khuyến khích về quy đổi số, không riêng gì những nghành như Y tế, Giáo dục đào tạo, GTVT … UBDT cũng không nằm ngoài ” guồng quay ” ấy. Tôi tin chắc 5 năm tới, bộ mặt ứng dụng CNTT không riêng gì của UBDT chắc như đinh sẽ có những bước chuyển biến rõ nét khi có sự sát cánh, tương hỗ của Bộ TT&TT.