GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG THÔN – Tài liệu text

GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG THÔN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (460.03 KB, 94 trang )

GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG THÔN
Hệ đào tạo: Cử nhân hành chính
Chương I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT
TRIỂN NÔNG THÔN
I. Một số khái niệm:
1. Khái niệm về nông thôn:
Các quốc gia trên thế giới trong quá trình phát triển đều phân các vùng lãnh thổ của mình
thành hai khu vực là đô thị và nông thôn. Các nhà xã hội học đã đưa ra một số tiêu chí phân
biệt khu vực nông thôn và khu vực đô thị như thành phần xã hội của dân số, các di sản văn hóa,
sự phồn thịnh, sự phân hóa xã hội dân cư, mức độ phức tạp của cấu trúc và đời sống xã hội,
cường độ và sự đa dạng của mối liên hệ xã hội,… Sự khác nhau căn bản giữa nông thôn và đô
thị được phản ánh rõ nét trong những nguyên lý của xã hội học nông thôn – đô thị. Trong đó
những tiêu chí quan trọng giúp việc phân biệt khu vực nông thôn và khu vực đô thị bao gồm:
sự khác nhau về nghề nghiệp, về môi trường, quy mô cộng đồng, mật độ dân số, tính hỗn tạp và
thuần nhất của dân số, hướng di cư, sự khác biệt xã hội và phân tầng xã hội, hệ thống tương tác
trong từng vùng (phụ lục 1).
Khái niệm về nông thôn khác nhau ở mỗi quốc gia, nó phụ thuộc vào từng thời kỳ lịch sử
và tiến trình phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia khác nhau trên thế giới. Ở những nước
đang phát triển, việc phân biệt nông thôn với đô thị chưa thể tách bạch hoàn toàn, một số nơi
khu vực nông thôn diễn ra quá trình đô thị hóa nhanh chóng nhưng vẫn còn có sự xen lẫn về
đất đai, địa bàn dân cư và các hoạt động kinh tế xã hội (VD: ở các thị tứ, thị trấn).
Hiện nay trên thế giới vẫn chưa có định nghĩa chuẩn xác về nông thôn, còn nhiều quan
điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ
tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị. Quan điểm
khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa và khả
năng tiếp cận thị trường so với đô thị là thấp hơn. Cũng có ý kiến, nên dùng chỉ tiêu mật độ
dân cư và số lượng dân trong vùng để xác định, vùng nông thôn thường có số dân và mật độ
dân thấp hơn vùng đô thị. Một quan điểm khác lại nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cư
làm nông nghiệp là chủ yếu, nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là từ sản xuất nông
nghiệp.
1

Những ý kiến trên chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước, phụ thuộc và
trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế. Đối với những nước
đang thực hiện công nghiệp hóa, đô thị hóa, chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các
ngành công nghiệp và dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thị trấn rải rác ở các vùng nông
thôn thì khái niệm về nông thôn có những đổi khác so với khái niệm trước đây, có thể hiểu
nông thôn hiện nay bao gồm cả những thị trấn, đô thị nhỏ, những trung tâm công nghiệp nhỏ có
quan hệ gắn bó mật thiết với nông thôn, cùng tồn tại hỗ trợ và thúc đẩy nhau phát triển. Và
trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nếu nhìn nhận dưới góc độ quản lý có thể đưa ra khái
niệm về nông thôn như sau:
Nông thôn: Là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp
này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính
trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác.
Với khái niệm này, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, mật độ
dân cư thấp có tinh thần đoàn kết gắn bó tính cộng đồng cao, nhưng số đông có trình độ văn
hóa thấp và lối sống còn mang tính tự do, tùy tiện. Bên cạnh dân cư làm nông nghiệp là chủ
yếu, khu vực nông thôn còn có các làng nghề, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn tạo
nên kinh tế nông thôn
Tóm lại: Nông thôn là địa bàn để người nông dân sinh sống và phát triển, là một bộ phận
quan trọng cấu thành xã hội, đặc biệt là đối với các quốc gia có sản xuất nông nghiệp là nền
tảng như Việt Nam. Nông thôn Việt Nam có chức năng chính: sản xuất, cung ứng nông phẩm
cho xã hội và giữ bản sắc văn hoá truyền thống dân tộc và đảm bảo môi trường sinh thái. Cho
nên, phát triển nông thôn là một tất yếu đặt ra trong giai đoạn hiện nay và mai sau.
2. Phát triển nông thôn:
Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều quan điểm khác
nhau. Đã có nhiều nghiên cứu và triển khai ứng dụng thuật ngữ này ở các quốc gia trên thế
giới. Ở Việt Nam, thuật ngữ phát triển nông thôn được đề cập đến từ lâu và có sự thay đổi về
nhận thức qua các thời kỳ khác nhau.
Phát triển nông thôn là một tổ hợp các hoạt động đa dạng, liên quan đến nhiều ngành,
nhiều chính sách và hoạt động có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến khu vực nông thôn và
đời sống của người dân nông thôn trên các mặt như: kinh tế nông thôn, xã hội nông thôn, điều

kiện tự nhiên và môi trường nông thôn. Tuy nhiên, phát triển nông thôn chỉ có thể thực hiện
hiệu quả một cách dài hạn nếu phạm vi khuôn khổ và chính sách rõ ràng và được thực hiện trên
phạm vi toàn quốc.
2
Hơn nữa, Là thành thành viên chính thức của WTO, đòi hỏi Việt nam phải hòa hợp với
các hiệp định quốc tế và phải điều chỉnh để trở thành thành viên năng động của nền kinh tế
toàn cầu. Khi tiến hành điều chỉnh cho phù hợp với một nền kinh tế mở, nhiều nhóm trong xã
hội có khả năng sẽ không được hưởng lợi từ lợi ích kinh tế (đặc biệt tập trung ở khu vực nông
thôn). Vì vậy, chúng ta phải phát triển nông thôn nhằm mục đích:
– Sản xuất được nhiều nông sản và sản phẩm hàng hóa, chất lượng sản phẩm và năng suất
lao động cao, xuất khẩu tăng, tích lũy tái sản xuất mở rộng không ngừng.
– Phát triển nông thôn là cải thiện đời sống cho phần lớn dân chúng nông thôn: Đời sống
của dân cư nông thôn không ngừng được nâng cao, trình độ học vấn được tăng lên, phát huy
được những truyền thống tốt đẹp của cộng đồng nông thôn, thực hiện được dân chủ công bằng,
văn minh xã hội và giảm đáng kể các tệ nạn xã hội.
– Tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học được bảo vệ và phát triển bền vững, giữ được
cảnh quan và môi trường sinh thái nông thôn.
– Phát triển nông thôn nhằm mục đích giảm thiểu các tác động tiêu cực của quá trình toàn
cầu hóa đến nhóm người dân dễ bị tổn thương (ở khu vực nông thôn thì nhóm người này chính
là nông dân).
Với những mục đích như trên chúng ta có thể khái niệm phát triển nông thôn như sau:
Phát triển nông thôn: là một quá trình tất yếu cải thiện một cách bền vững về kinh tế, văn
hóa, xã hội và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng sống của dân cư nông thôn. Quá trình
này, trước hết chính là do người dân nông thôn với sự hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức khác.
Phát triển nông thôn sẽ thành công khi chính người dân nông thôn tham gia tích cực vào
quá trình phát triển đó. Chính quyền các cấp phải nhận thức đầy đủ, nghiêm túc về phát triển
nông thôn toàn diện, bền vững; xây dựng đề án phát triển nông thôn phải có sự tham gia của
cộng đồng để lôi cuốn người dân vào tiến trình phát triển một cách có ý thức chủ động, năng
động, làm sao để người dân thật sự là trung tâm của sự phát triển, là chủ thể của quá trình phát
triển, họ vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển;

Chính phủ và ngành nông nghiệp PTNT phải có chủ trương để khuyến khích được đội
ngũ cán bộ khuyến nông tham gia vào công tác phát triển nông thôn mới như là một thành phần
quan trọng hỗ trợ cho sự nghiệp phát triển cộng đồng trong hiện tại và tương lai lâu dài.
Theo FAO: “Khuyến nông là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân, đồng thời
giúp họ hiểu được những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật,
kinh nghiệm về quản lý kinh tế, những thông tin thị trường, để họ có đủ khả năng tự giải quyết
3
các vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao
dân trí góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới”
(FAO: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc – Food and agriculture
organization of the United Nations)
Với xuất phát điểm của nền kinh tế Việt Nam và những đòi hỏi của nền kinh tế hội nhập
thì phát triển nông thôn đương nhiên là một tất yếu khách quan. Khi công nghiệp và đô thị chưa
phát triển thì nông nghiệp và khu dân cư nông thôn giữ vị trí bao trùm. Nhưng khi có sự gia
tăng của công nghiệp hóa và đô thị hóa, nông thôn đã bị thu hẹp kể cả về lãnh thổ và dân số.
Song, các làng, bản, ấp, trại vẫn sẽ tồn tại là một địa bàn dân cư nông thôn trong thời đại văn
minh hơn, tiến gần các đô thị hơn. Để quá trình đô thị hóa nông thôn diễn ra thuận lợi theo định
hướng, tất yếu phải tiến hành phát triển nông thôn nhằm xây dựng các khu dân cư nông thôn,
tạo lập các cơ sở vật chất và kỹ thuật thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động sản xuất và tổ
chức cuộc sống của người dân lao động trên địa bàn nông thôn.
Công tác xây dựng phát triển và quản lý các khu dân cư nông thôn trước đây được nghiên
cứu triển khai trên cơ sở nền kinh tế kém phát triển, quy hoạch tản mạn không hợp lý. Khi
chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự điều
tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN thì các phương thức tổ chức hoạt động sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ rất đa dạng; việc tổ chức cuộc sống ở nông thôn xuất hiện nhiều yếu tố
mới. Vì vậy, cần phải sửa đổi, bổ sung quy hoạch và quản lý các khu dân cư nông thôn cho phù
hợp với nền kinh tế xã hội hiện nay; đồng thời xây dựng cuộc sống mới trong tương lai, nâng
cao đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của cư dân nông thôn, thu dần khoảng cách giàu
nghèo trong xã hội.
Việc đẩy mạnh quá trình đô thị hóa nông thôn, tăng cường phát triển về lượng và chất các

đô thị vừa và nhỏ, các điểm dân cư nông thôn theo kiểu đô thị mới vừa hạn chế và kiểm soát
được sự di dân vào các đô thị lớn, vừa cải tạo, nâng cấp được các khu đô thị hiện có, giúp cho
sự phát triển hài hòa, ổn định và bền vững. Đồng thời, giảm được áp lực về dân số và tình trạng
quá tải, xuống cấp của kết cấu hạ tầng, ô nhiễm môi trường và sự phức tạp về an ninh trật tự do
việc di dân từ nông thôn vào các đô thị lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, phát triển nông thôn trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi phải toàn diện hơn, bên
cạnh sự phát triển về vật chất, phải đảm bảo các chỉ số về văn hóa, tinh thần, bình đẳng xã hội,
sự hài hòa giữa con người với tự nhiên, môi trường và sức khỏe của người dân – Đây chính là
các tiêu chí của phát triển nông thôn bền vững.
3. Phát triển nông thôn bền vững
4
Phát triển bền vững là khái niệm mới xuất hiện năm 1987 trong Báo cáo “Tương lai
chung của chúng ta” do Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) đề cập “Phát
triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu của hiện tại mà không gây hại tới khả
năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”.
Từ khái niệm này thì phát triển nông thôn bền vững được hiểu là:
– Phải đảm bảo nhu cầu nông sản của con người hiện nay nhưng phải duy trì được tài
nguyên thiên nhiên cho các thế hệ mai sau, bao gồm giữ gìn được quĩ đất, quĩ nước, rừng,
không khí, khí quyển và tính đa dạng sinh học,…
– Phát triển bền vững phải đảm bảo công bằng xã hội, hoạt động kinh tế của nhóm người
này không gây tổn hại tới nhóm người khác, không ảnh hưởng tới nhu cầu phát triển của thế hệ
tương lai.
Như vậy, phát triển bền vững đối với con người nói chung và người nông dân nói riêng
đòi hỏi phải tuân thủ các nguyên tắc: (1) dân chủ và an toàn; (2) bình đẳng và công bằng xã
hội; (3) bền vững chất lượng cuộc sống cho người dân; (4) sự tham gia của người dân trong
hợp tác với Chính phủ; (5) tôn trọng quá khứ của tổ tiên và quyền lợi của các thế hệ mai sau.
Bền vững trong phát triển nông thôn về kinh tế đòi hỏi: (1) tăng cường và đa dạng hóa
nền kinh tế nông thôn; (2) đảm bảo cho người dân có lợi ích từ các hoạt động của địa phương
họ; (3) thúc đẩy phồn vinh lâu dài ở nông thôn; (4) tránh gây ảnh hưởng và tác động xấu đến
khu vực khác trong nền kinh tế quốc dân; (5) thay đổi mô hình và công nghệ sản xuất, mô hình

tiêu dùng theo hướng sạch hơn và thân thiện với môi trường; (6) thực hiện quá trình “công
nghiệp hoá sạch”; (7) phát triển bền vững vùng và xây dựng các cộng đồng địa phương phát
triển bền vững.
Trên phương diện quản lý thì chương trình hành động của phát triển nông thôn bền vững
thể hiện: (1) phát triển bền vững kinh tế nông thôn (nền nông nghiệp bền vững, mở rộng các
nguồn thu nhập phi nông nghiệp); (2) phát triển bền vững xã hội nông thôn; (3) an toàn môi
trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên; (4) thể chế bền vững.
4. Quản lý nhà nước đối với phát triển nông thôn:
Quản lý nhà nước đối với phát triển nông thôn: Là hoạt động thực hiện quyền lực nhà
nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước trên
cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội
để đạt được mục đích ổn định và phát triển nông thôn trong điều kiện biến động của môi
trường.
5
Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để tạo môi trường và điều kiện cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế ở nông thôn trong nền kinh tế thị trường. Bảo đảm
sự ổn định về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, duy trì pháp luật trật tự an toàn xã hội, thi hành
nhất quán các chính sách và thể chế theo hướng đổi mới, khống chế lạm phát, điều tiết các quan
hệ thị trường. Tạo môi trường tâm lý trong quá trình nhận thức của người nông dân về cơ chế
thị trường, giúp họ nhận thức được tính hai mặt của cơ chế này.
Vì thế, quản lý nhà nước đối với phát triển nông thôn bao gồm các vấn đề:
– Quản lý và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tổ chức lại sản xuất và xây
dựng quan hệ sản xuất phù hợp;
– Quản lý và phát triển các thành phần kinh tế ở nông thôn;
– Quản lý, quy hoạch xây dựng các điểm dân cư nông thôn;
– Quản lý, xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn.
II. Vai trò của phát triển nông nghiệp và nông thôn đối với phát triển kinh tế – xã hội
1. Phát triển nông thôn đảm bảo cho quá trình sản xuất, cung cấp lương thực, thực
phẩm và các nguyên liệu gia dụng khác cho đời sống con người.
Nông nghiệp luôn luôn đóng một vai trò quan trọng vì nó là ngành tạo ra lương thực, thực

phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu hàng đầu của con người là nhu cầu ăn uống;
Nông nghiệp là bộ phận cấu thành chủ yếu của kinh tế nông thôn, nó có vai trò ngày càng
lớn trong việc bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên
của đất nước và xóa đói giảm nghèo, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nói chung;
Nông thôn là địa bàn sản xuất và cung cấp lương thực thực phẩm cho tiêu dùng của cả xã
hội. Người nông dân sản xuất lương thực thực phẩm không những để nuôi sống họ mà còn
cung cấp cho toàn xã hội.
2. Sự phát triển của kinh tế nông thôn sẽ góp phần tạo ra những tiền đề quan trọng
và thực hiện có hiệu quả tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Cung cấp lương thực, thực phẩm; cung cấp nguyên liệu để công nghiệp hóa; cung cấp
một phần vốn; khu vực nông thôn là thị trường quan trọng của các ngành công nghiệp và dịch
vụ.
Ngân hàng Thế giới đã nhận định: “tăng trưởng nông nghiệp chính là yếu tố tiên phong
của các cuộc cách mạng công nghiệp đã xảy ra trên khắp thế giới từ Anh (giữa thế kỷ XVIII)
cho đến Nhật Bản (cuối thế kỷ XIX). Gần đây, tốc độ tăng trưởng nông nghiệp nhanh chóng
6
của Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam cũng là tiền đề cho sự phát triển công nghiệp”. (Trích
Báo cáo phát triển thế giới 2008, Ngân hàng Thế giới)
3. Phát triển nông thôn là nhân tố kích thích các ngành phi nông nghiệp phát triển.
Khi nông nghiệp, nông thôn phát triển sử dụng ngày càng nhiều loại máy cơ khí phục vụ
nông nghiệp hơn và nếu áp dụng tốt thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại vào nông nghiệp thì
năng suất nông nghiệp tăng lên, các sản phẩm nông nghiệp ngày càng đáp ứng được với thị
hiếu người tiêu dùng, người dân ưa chuộng hàng nội địa nhiều hơn, các nhu cầu về hàng hóa và
dịch vụ để hỗ trợ cho sản xuất cũng tăng – đây chính là những yếu tố kích thích các ngành phi
nông nghiệp phát triển theo.
4. Phát triển bền vững nông thôn góp phần to lớn trong việc bảo vệ và sử dụng tiết
kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái, đáp ứng nhu cầu nghỉ
ngơi, du lịch và phòng chống, ngăn ngừa thiên tai.
Nông thôn nước ta bao gồm những khu vực rộng lớn. Ở đây, tài nguyên của đất nước
chiếm tuyệt đại bộ phận như: đất đai, khoáng sản, động thực vật, rừng biển, nguồn nước Phát

triển kinh tế nông thôn cho phép khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên,
đồng thời bảo vệ chúng trong quá trình sử dụng.
Nông thôn nước ta vốn là vùng kinh tế, văn hóa lạc hậu, sản xuất và sinh hoạt phân tán,
nhiều hủ tục. Tuy nhiên, nó cũng là nơi có truyền thống văn hóa cộng đồng còn sâu đậm Phát
triển kinh tế nông thôn sẽ tạo điều kiện để vừa giữ gìn, bảo tồn và phát huy truyền thống văn
hóa xã hội tốt đẹp, bài trừ văn hóa lạc hậu cũ, vừa tổ chức tốt đời sống văn hóa và tinh thần ở
nông thôn.
5. Phát triển nông thôn tạo điều kiện cho xuất khẩu thu ngoại tệ, tạo tích lũy ban
đầu đầu tư trở lại cho phát triển kinh tế xã hội.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) tổng kim ngạch
xuất khẩu nông sản năm 2010 đạt kỷ lục với 19,15 tỉ USD, tăng trên 22% so với năm 2009.
– Xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính đạt gần 10 tỉ USD, tăng hơn 24%;
– Thủy sản đạt gần 5 tỉ USD, tăng trên 16%;
– Lâm sản và đồ gỗ đạt hơn 3,6 tỉ USD, tăng gần 30%.
Có ba mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 3 tỉ USD là thủy sản, đồ gỗ và gạo; một mặt
hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỉ USD là cao su và hai sản phẩm có kim ngạch xuất khẩu
hơn 1 tỉ USD là cà phê và điều.
Hiện nay, Việt Nam đã có những mặt hàng gia nhập được WTO như: Thủy sản, vàng.
7
6. Phát triển nông thôn có vai trò tích cực trong tạo việc làm cho người nông dân,
nhất là đối với những nước có tiềm năng phát triển nông, lâm, ngư nghiệp.
Cả nước có khoảng 1.500 làng nghề, trong đó trên 300 là làng nghề truyền thống, 80%
làng nghề theo quy mô Hộ gia đình, tạo việc làm ổn định cho hơn 4 triệu lao động (Theo thống
kê của Bộ LĐTB và XH).
Đến tháng 2009, đã có 135.437 trang trại, góp phần tích cực cho vấn đề lao động của
người nông dân nông thôn.
7. Góp phần ổn định chính trị xã hội, an ninh trật tự được giữ vững.
Phát triển kinh tế nông thôn sẽ làm cho các hoạt động ở nông thôn trở nên sôi động hơn.
Cơ cấu kinh tế, phân công lao động chuyển dịch đúng hướng có hiệu quả. Công nghiệp gắn bó
chặt chẽ với nông nghiệp tại chỗ. Vấn đề đô thị hoá sẽ được giải quyết theo phương thức đô thị

hoá nông thôn. Vấn đề việc làm cho người lao động sẽ được gia tăng ngày càng nhiều trên địa
bàn nông thôn. Trên cơ sở đó, tăng thu nhập, cải thiện từng bước đời sống vật chất và tinh thần
của mọi tầng lớp dân cư; giảm sức ép của sự chênh lệch kinh tế và đời sống giữa thành thị và
nông thôn, giữa vùng phát triển và vùng kém phát triển;
Tăng trưởng trong nông nghiệp sẽ kích thích các ngành phi nông nghiệp phát triển. Sự
tăng trưởng của các ngành phi nông nghiệp tại nông thôn lại tạo việc làm cho nông dân vì thế
tốc độ di dân vào các thành phố lớn cũng giảm một cách tự nhiên, thành phố sẽ giảm tải về dân
số, đỡ phức tạp về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường;
Như vậy, tăng trưởng trong nông nghiệp sẽ dẫn đến tăng trưởng chung của nông thôn và
thành thị, hỗ trợ việc ổn định xã hội do các cơ hội làm ăn được phân bố một cách hợp lý, đồng
đều và nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm được bảo đảm.
8. Sự phát triển của kinh tế nông thôn sẽ tạo cơ sở vật chất cho sự phát triển văn hoá
ở nông thôn.
Nông thôn nước ta trước đây vốn là vùng có kinh tế, văn hóa lạc hậu, sản xuất và sinh
hoạt phân tán, nhiều hủ tục. Nhưng, đây cũng là nơi có truyền thống văn hóa cộng đồng còn
sâu đậm Vì thế, phát triển kinh tế nông thôn sẽ tạo điều kiện để vừa giữ gìn, bảo tồn và phát
huy truyền thống văn hóa xã hội tốt đẹp, vừa bài trừ những văn hóa lạc hậu để tổ chức tốt hơn
đời sống văn hóa và tinh thần cho người dân khu vực nông thôn.
III. Quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
1. Về thành tựu
1.1. Sơ lược về quá trình phát triển của nông nghiệp, nông thôn Việt Nam.
8
Nông nghiệp Việt Nam là một nền nông nghiệp truyền thống ở Đông Nam Á, đây là một
trong những cái nôi của nền văn minh lúa nước, nơi xuất hiện sớm nhất loại hình sản xuất nông
nghiệp của loài người.
– Các triều đại phong kiến trước đây: Triều đại nào quan tâm đến nông nghiệp, có chính
sách hợp lý được nhân dân ủng hộ thì đất nước hưng thịnh. Triều đại nào không chú ý đến
nông nghiệp, đề ra sưu cao, thuế nặng, để vỡ đê điều, chỉ lo ăn chơi sa đọa thì sản xuất trì trệ,
đói kém.
– Từ sau Cách mạng tháng Tám (1945): Vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn được

Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo, mang lại thành công rực rỡ trong hoạt động thực tiễn
ở cả 2 giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng XHCN. Theo Người, vấn đề nông
dân không chỉ ở mặt chính trị, mà còn gắn liền với vấn đề gốc rễ của nó là kinh tế nông nghiệp.
Công nghiệp, nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế.
Vận dụng sáng tạo Tư tưởng Hồ Chí Minh, ở mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước, đường
lối phát triển kinh tế xã hội của Đảng ta đều xác định rõ vai trò, vị trí quan trọng hàng đầu của
nông nghiệp và kinh tế nông thôn phù hợp với quá trình phát triển của đất nước.
– Năm 1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IV) ban hành Chỉ thị số 100 cho phép
cải tiến nông nghiệp theo hướng gắn trách nhiệm của người lao động đến kết quả cuối cùng
bằng hình thức khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong các hợp tác xã, tập đoàn sản
xuất trên phạm vi cả nước. Đây là chìa khoá vàng mở ra thời kỳ mới của nông nghiệp và kinh
tế nông thôn cho nước ta.
– Năm 1988 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 10 về “Đổi mới quản lý kinh tế nông
nghiệp” với những điều chỉnh lớn nhằm giải phóng tư liệu sản xuất trong nông nghiệp nông
thôn, chuyển giao chúng cho các hộ nông dân quản lý và sử dụng lâu dài, hộ nông dân thành
những đơn vị tự chủ trong sản xuất nông nghiệp. Người nông dân được tự chủ điều hành, sử
dụng lao động, tự chủ đầu tư, tự chủ hợp tác sản xuất, lưu thông và phân phối sản phẩm làm ra,
thực hiện chính sách một giá, thương mại hóa vật tư,…
– Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương lần thứ 5 (khóa VII) về tiếp tục đổi mới và
phát triển toàn diện kinh tế xã hội nông thôn (1993) với mục tiêu là biến nền kinh tế chủ yếu là
nông nghiệp của nước ta thành nền kinh tế có cơ cấu hướng ngoại, tăng tỷ trọng công nghiệp và
dịch vụ nông thôn nhưng số lượng tuyệt đối của sản phẩm nông nghiệp vẫn cứ tăng lên. Cụ thể:
+ Phát triển nhanh, vững chắc và có hiệu quả các ngành công nghiệp dịch vụ ở nông thôn,
trên cơ sở đó tăng nhanh tỷ trọng các ngành này trong cơ cấu kinh tế công – nông – dịch vụ ở
mỗi vùng và mỗi địa phương. Chú trọng những ngành công nghiệp dịch vụ phục vụ nông
nghiệp;
9
+ Tăng nhanh tỷ trọng ngành chăn nuôi trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đa dạng hóa
sản phẩm chăn nuôi và chú trọng chăn nuôi xuất khẩu;
+ Phát triển các vùng và tiểu vùng trọng điểm sản xuất các sản phẩm lương thực, cây

công nghiệp chủ yếu (cao su, cà phê, điều,…) để phát huy thế mạnh của mỗi vùng, trên cơ sở
đó thực hiện thâm canh tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu trong
nước và xuất khẩu;
+ Phát triển mạnh ngành thủy sản trên tất cả các mặt: nuôi trồng, đánh bắt, chế biến, để
khai thác có hiệu quả tiềm năng mặt nước và biển của nước ta;
+ Phát triển ngành lâm nghiệp theo hướng bảo vệ rừng hiện có, chăm sóc và tái sinh vốn
rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, kết hợp hợp lý giữa khai thác và chế biến lâm sản.
– Nghị quyết Trung ương khóa IX của Ban chấp hành Trung ương Đảng về đẩy nhanh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2002 – 2010.
Các quyết sách nói trên tạo ra bước ngoặt lớn về sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn
và cơ chế quản lý nông nghiệp. Thực chất, đây là các giải pháp điều chỉnh các mối quan hệ của
sở hữu, quản lý và phân phối trong tổng thể công cuộc đổi mới toàn diện về kinh tế xã hội
nhằm tăng cường sức sản xuất trong nông thôn và từng hộ nông dân, đã tạo ra động lực quan
trọng thúc đẩy nông nghiệp phát triển đạt được nhiều thành tựu.
1.2. Đánh giá về thành tựu của nông nghiệp, nông thôn Việt Nam.
a) Thứ nhất, sản xuất nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện, liên tục và với tốc độ
khá cao
b) Thứ hai, kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành
nghề; các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục đổi mới.
c) Thứ ba, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn được tăng cường, bộ mặt nhiều vùng
nông thôn thay đổi.
d) Thứ tư, đời sống vật chất, tinh thần của dân cư ở hầu hết các vùng nông thôn ngày càng
được cải thiện. Xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả to lớn.
e) Thứ năm, hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường, dân chủ cơ sở
được phát huy. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Vị thế chính trị của
nông dân ngày càng được nâng cao.
Những thành tựu này góp phần quan trọng vào sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội của
đất nước, đồng thời tiếp tục khẳng định vị trí quan trọng của nông nghiệp, nông thôn và vai trò
quản lý của Nhà nước về nông nghiệp và phát triển nông thôn trong thời đại mới.
10

2. Tồn tại và yếu kém:
a) Thứ nhất, nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng
giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt các nguồn lực cho phát triển sản xuất. Việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất
nhỏ, phân tán, năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng còn thấp.
b) Thứ hai, công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn.
c) Thứ ba, các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển
mạnh sản xuất hàng hóa.
d) Thứ tư, nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế
xã hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai
còn nhiều hạn chế.
e) Thứ năm, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ
nghèo còn cao, chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng còn lớn, phát
sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc.
g)Thứ sáu, thị trường tiêu thụ nông sản hàng hóa gặp nhiều khó khăn, khả năng cạnh
tranh của nông sản hàng hóa yếu;
h) Thứ bảy, lao động dư thừa nhiều.
3. Nguyên nhân của các tồn tại, yếu kém:
– Do xuất phát điểm của nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thấp, chất lượng kết cấu hạ
tầng và dịch vụ phục vụ nông nghiệp, nông thôn thấp;
– Do chưa thực hiện nghiêm túc đường lối đúng đắn trong các Nghị quyết của Đảng đã đề
ra là: Coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn
– Công tác xây dựng chính sách chưa chuyên nghiệp, thiếu các nghiên cứu phân tích căn
cứ cụ thể, thiếu hệ thống giám sát theo dõi gây ra tình trạng lãng phí và trục lợi làm giàu bất
chính.
– Cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn chưa thông thoáng,
thiếu đồng bộ, thiếu tính đột phá và tính khả thi chưa cao nhưng chậm được điều chỉnh, bổ
sung nên chưa phù hợp với nền sản xuất hàng hóa quy mô lớn và xuất khẩu, nhất là các chính
sách về đất đai, khoa học, công nghệ, tín dụng, thị trường,…

– Việc tổ chức thực hiện còn nhiều yếu kém: Chủ trương, chính sách ban hành nhiều
nhưng thực hiện chưa hiệu quả, thiếu kiểm tra, đôn đốc. Trách nhiệm của cấp uỷ và chính
11
quyền các cấp không được làm rõ và xử lý nghiêm túc khi không thực hiện tốt, còn tình trạng
làm được đến đâu hay đến đó, chạy theo thành tích. Kinh nghiệm tốt ít được tổng kết nhân
rộng, nhiều phong trào thi đua mang tính hình thức ít phát huy tác dụng trong thực tiễn. Sự
phối hợp của các ngành, các cấp, sự tham gia của các tổ chức đoàn thể còn yếu kém.
– Việc nghiên cứu vận dụng các kinh nghiệm quản lý tiên tiến trên thế giới vào điều kiện
của nước ta còn nhiều hạn chế
– Đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn thấp, chưa xứng đáng với vai trò của nó trong nền
kinh tế
– Trong điều hành chưa chú ý nắm bắt thực tiễn, không kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng
mắc, uốn nắn sai lầm, lệch lạc trong thực hiện chủ trương, chính sách; chậm tổng kết kinh
nghiệm và những mô hình mới, những nhân tố mới của quần chúng của các đơn vị cơ sở.
– Kinh tế nhà nước chưa được củng cố để phát huy vai trò chủ đạo và hướng dẫn, hỗ trợ
kinh tế hộ, kinh tế hợp tác, kinh tế tư nhân.
– Công nghiệp, thương nghiệp chưa liên kết chặt chẽ nên chưa phục vụ tốt sản xuất nông
nghiệp và xây dựng nông thôn mới
– Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của nông nghiệp,
nông thôn và yêu cầu tăng cường khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và
tầng lớp trí thức trong thời kỳ công nghiệp hóa.
– Một số địa phương chưa xác định đúng tiềm năng, nội lực kinh tế cần tập trung phát huy
là ở nông nghiệp, nông thôn. Hệ thống quản lý, chỉ đạo nông nghiệp và phát triển nông thôn
còn phân tán, hiệu quả thấp, chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
– Chưa có quy hoạch khoa học về xây dựng làng xã nên không có cơ sở và công cụ quản
lý trật tự xây dựng. Đội ngũ cán bộ có chuyên môn và nghiệp vụ xây dựng chưa có, thiếu sự
chỉ đạo và các văn bản hướng dẫn thống nhất trong quản lý.
IV. Khái quát nội dung quản lý đối với phát triển nông thôn
Hiện nay, Việt Nam vẫn đang tiếp tục xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
vận động theo cơ chế thị trường định hướng XHCN nên việc quản lý, điều tiết của Nhà nước về

kinh tế – xã hội là tất yếu khách quan.
1. Hoạch định phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Dựa trên đường lối, chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Nhà nước và chính
quyền địa phương phải thống nhất xác định các quan điểm, mục tiêu và biện pháp mang tính
định hướng phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
12
hóa nhằm phát huy tiềm năng các nguồn lực và lợi thế so sánh của từng vùng để phát triển nền
nông nghiệp hàng hóa trên quy mô lớn.
2. Xây dựng đồng bộ và ban hành hệ thống thể chế tạo môi trường pháp lý cho phát
triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Trong bối cảnh mới của nền kinh tế toàn cầu, hệ thống chính sách và các biện pháp được
Nhà nước xây dựng cũng đòi hỏi phải cải tiến đồng bộ, toàn diện và luôn phù hợp, thích ứng
với sự thay đổi của các hoạt động kinh tế – xã hội và các điều kiện thực tiễn khách quan khác,
nhằm khai thác mọi nguồn lực, tiềm năng, sức mạnh. Đồng thời, khuyến khích động viên mọi
thành phần kinh tế tham gia phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo đúng đường lối,
chính sách và mục tiêu mà Nhà nước đặt ra.
3. Quy hoạch phát triển các lĩnh vực trong nông nghiệp, lâm, ngư nghiệp và hoạt
động kinh tế nông thôn
Đẩy nhanh tiến độ quy hoạch sản xuất nông nghiệp trên cơ sở nhu cầu thị trường và lợi
thế từng vùng, sử dụng đất nông nghiệp tiết kiệm, có hiệu quả, duy trì diện tích đất lúa đảm bảo
vững chắc an ninh lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài.
Cơ cấu lại nghành nông nghiệp, gắn sản xuất với chế biến và thị trường
Phát triển sản xuất với quy mô hợp lý các loại nông sản hàng hóa xuất khẩu có lợi thế,
nông sản thay thế nhập khẩu.
Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ ở các vùng nông thôn theo quy hoạch. Khuyến
khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp chế biến tinh, chế biến sâu gắn với
vùng nguyên liệu và thị trường; đẩy mạnh sản xuất tiểu thủ công nghiệp, triển khai chương
trình bảo tồn và phát triển làng nghề.
Phát triển nhanh và nâng cao chất lượng các loại dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống của
dân cư nông thôn.

4. Thực hiện quản lý toàn diện trên tất cả mọi lĩnh vực, mọi địa bàn và với tất cả các
thành phần kinh tế, các tổ chức cá nhân theo đúng quy định của pháp luật.
Tăng cường vai trò chủ đạo của Kinh tế nhà nước trong sản xuất nông nghiệp và kinh tế
nông thôn; phát triển kinh tế hợp tác và HTX, khuyến khích kinh tế hợp tác liên kết với kinh tế
nhà nước để tạo thành nền tảng của nông nghiệp và kinh tế nông thôn; khuyến khích phát triển
kinh tế hộ gia đình theo hướng sản xuất hàng hóa.
5. Tạo lập và huy động mọi nguồn vốn đầu tư, mở rộng hệ thống quỹ tín dụng để
phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, xây dựng các quỹ bảo hộ sản xuất, quỹ phòng
chống thiên tai, quỹ xóa đói giảm nghèo, quỹ khuyến nông – lâm – ngư, quỹ tiêu thụ hàng hóa
13
để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, kinh tế nông thôn theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa phù hợp với xu thế hội nhập khu vực và thế giới.
6. Nâng cao năng lực lãnh dạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự tham gia của các
đoàn thể chính trị – xã hội trong lĩnh vực nông nghiệp – phát triển nông thôn
7. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối, chính sách, các thể chế quản lý của
Nhà nước, uốn nắn các sai lầm lệch lạc, xử lý nghiêm các vi phạm.
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1
1. Phân tích khái niệm nông thôn? Những điểm khác biệt cơ bản của nông thôn với đô thị
là gì?
2. Nêu khái niệm về phát triển nông thôn? Phát triển nông thôn nhằm mục đích gì?
3. Tại sao phát triển nông thôn là một tất yếu khách quan?
4. Trình bày các nội dung về phát triển nông thôn bền vững?
5. Quản lý nhà nước đối với phát triển nông thôn là gì? Phân tích vai trò của phát triển
nông thôn đối với phát triển kinh tế – xã hội?
6. Trình bày khái quát về quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam?
7. Nêu nội dung quản lý của Nhà nước đối với phát triển nông thôn?
14
Chương II: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP,
NÔNG THÔN NƯỚC TA
I. Quan điểm, mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam

1. Quan điểm: Phát triển nông thôn bền vững trên các mặt:
a) Phát triển bền vững kinh tế nông thôn, thể hiện:
– Quan điểm trong phát triển nền nông nghiệp bền vững:
+ Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế
biến, ngành nghề; gắn sản xuất với thị trường để hình thành sự liên kết công – nông nghiệp –
Dịch vụ và thị trường; gắn công nghiệp hóa với dân chủ hóa và nâng cao dân trí, tạo ra sự phân
công lao động mới, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo, thu hẹp dần
khoảng cách về mức sống giữa thành thị và nông thôn; thực hiện mục tiêu dân số và kế hoạch
hóa gia đình có hiệu quả.
+ Phát huy lợi thế của từng vùng và cả nước, áp dụng nhanh các tiến bộ khoa học và công
nghệ để phát triển nông nghiệp hàng hóa đa dạng, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu nông sản
thực phẩm và nguyên liệu công nghiệp, đồng thời hướng tới xuất khẩu đa dạng các mặt hàng.
+ Phát triển nền nông nghiệp với nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ
vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể, hợp tác xã dần dần trở thành nền tảng; hướng dẫn kinh
tế tư nhân phát triển theo đúng pháp luật
+ Tiếp tục phát triển nhiều hình thức kinh tế hợp tác, các loại hình hợp tác xã dịch vụ cho
kinh tế hộ nông dân, từng bước xây dựng HTX nông nghiệp theo Luật Hợp tác xã, chú trọng
liên kết kinh tế Nhà nước với các thành phần kinh tế khác, tạo điều kiện và khuyến khích mạnh
mẽ hộ nông dân và những người có khả năng đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nông
nghiệp, công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn.
– Quan điểm trong việc mở rộng các nguồn thu nhập phi nông nghiệp:
15
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Coi trọng thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong phát triển nông nghiệp (lâm, ngư
nghiệp) và xây dựng nông thôn, đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn. Đây là
nhiệm vụ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, là cơ sở để ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã
hội, củng cố liên minh công nông với tầng lớp trí thức đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước theo định hướng XHCN.
– Quan điểm đối với phát triển bền vững xã hội nông thôn:

+ Giải quyết việc làm cho nông dân là nhiệm vụ ưu tiên xuyên suốt trong mọi chương
trình phát triển kinh tế – xã hội của cả nước; bảo đảm hài hoà giữa các vùng, thu hẹp khoảng
cách phát triển giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị;
+ Có kế hoạch cụ thể về đào tạo nghề và chính sách đảm bảo việc làm cho nông dân, nhất
là ở các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động từ nông thôn;
triển khai kế hoạch hợp tác sản xuất nông nghiệp với một số quốc gia có nhu cầu;
+ Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu và khám chữa bệnh; thực hiện tốt
chính sách bảo hiểm y tế, dân số, giảm tỉ lệ sinh ở nông thôn;
+ Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân
tộc;
+ Xây dựng hệ thống an sinh xã hội ở nông thôn. Thí điểm bảo hiểm nông nghiệp, bảo
đảm mức sống tối thiểu cho cư dân nông thôn. Rà soát, giảm thiểu các khoản đóng góp có tính
chất bắt buộc đối với nông dân. Tiếp tục chỉ đạo hoàn thiện và thực hiện đầy đủ quy chế dân
chủ cơ sở;
+ Đấu tranh, ngăn chặn các hành vi tiêu cực, giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội, giải
quyết kịp thời các vụ việc khiếu kiện của nhân dân, không để gây thành những điểm nóng ở
nông thôn. Thực hiện bình đẳng giới, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, năng lực và vị thế
của phụ nữ ở nông thôn.
– Giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo quan điểm Nghị quyết
Trung ương 7 khóa X:
+ Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển
kinh tế – xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn,
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh tháii của đất nước;
16
+ Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với
quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn
thì nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các

cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện,
hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt;
+ Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân
phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của
từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết
là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế
quốc tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực;
đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học,
công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhõn lực, nâng cao dân trí
nông dân;
+ Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính
trị và toàn xã hội; trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực tự cường vươn lên
của nông dân. Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hoà thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa
phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông
thôn mới, nâng cao đời sống nông dân.
b) Phát triển kinh tế nông thôn theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
– Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân
phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của
từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết
là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế
quốc tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực;
đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học,
công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhõn lực, nâng cao dân trí
nông dân;
– Nhà nước quản lý, điều tiết các quá trình phát triển kinh tế xã hội nông thôn bằng hệ
thống pháp luật. Tuy nhiên, vẫn tạo môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế hoạt động
có hiệu quả;
17
– Nhà nước khuyến khích các hộ làm giàu và cũng có chính sách xoá đói giảm nghèo,
khuyến khích các vùng nông thôn phát triển, có chính sách hỗ trợ các vùng nghèo, vùng tụt

hậu;
– Khuyến khích tự do cạnh tranh, nhưng cũng có biện pháp làm lành mạnh hoá sự cạnh
tranh, thực hiện công bằng, dân chủ trong nông thôn.
c) Quan điểm tăng cường bảo vệ và quản lý môi trường thiên nhiên.
Coi trọng bảo vệ môi trường; quản lý, khai thác hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên thiên
nhiên, đảm bảo cân bằng sinh thái; chủ động phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi
khí hậu.
2. Mục tiêu.
* Mục tiêu tổng quát:
– Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hòa giữa
các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào
tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính
trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới;
– Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất
hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững
chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài;
– Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và
các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch
vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được
nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo
của Đảng được tăng cường;
– Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân – nông dân – trí thức vững
mạnh, tạo nền tảng kinh tế – xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Để đạt được mục tiêu trên, Đảng và Nhà nước ta đã xác định các mục tiêu cụ thể cần phải
hướng tới như sau:
– Tốc độ tăng trưởng nông, lâm, thủy sản đạt 3,5 – 4%/năm; sử dụng đất nông nghiệp tiết
kiệm và hiệu quả; duy trì diện tích đất lúa đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia
trong mọi tình huống. Phát triển nông nghiệp kết hợp với phát triển công nghiệp, dịch vụ và
ngành nghề nông thôn, giải quyết cơ bản việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn lên

gấp 2,5 lần so với hiện nay, xóa hộ đói, giảm tỷ lệ hộ nghèo.
18
– Lao động nông nghiệp được chuyển dịch còn khoảng 30% trong tổng lực lượng lao
động xã hội, tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt trên 50%, số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn
mới khoảng 50%. (Quyết định số 491 của Thủ tướng Chính phủ ngày 16/4/2009 về việc ban
hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới)
– Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, tăng
nhanh khối lượng sản phẩm hàng hóa, nhất là hàng nông, lâm, thủy sản qua chế biến; tăng kim
ngạch xuất khẩu; giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ trong cơ
cấu kinh tế nông thôn
– Phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn.
+ Phát triển hệ thống đường giao thông bảo đảm thông suốt đến trung tâm xã, có đủ
trường học, trạm y tế, nước sạch và điện, cải tạo quy hoạch xây dựng làng, bản, xóm, ấp theo
mô hình nông thôn mới.
+ Đảm bảo tưới tiêu chủ động cho toàn bộ diện tích đất lúa, mở rộng diện tích tưới cho
rau màu, cây công nghiệp; cấp thoát nước chủ động cho nuôi trồng thủy sản, làm muối
+ Xây dựng các cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và hạ tầng nghề cá
+ Cấp điện sinh hoạt cho dân cư, các cơ sở công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn
+ Hệ thống ngăn mặn, chống nước biển dâng, phòng chống bão lũ, ô nhiễm môi trường
+ Đảm bảo đủ trường học, trạm y tế và hệ thống cấp nước sạch cho sinh hoạt.
– Bằng nhiều biện pháp để giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn,
xoá hộ đói, giảm tỷ lệ nghèo;
– Tăng cường công tác giáo dục đào tạo, nâng cao trình độ học vấn cho mọi tầng lớp dân
cư.
– Bảo vệ môi trường sinh thái, ngăn chặn nạn phá rừng, có chính sách huy động nhân dân
và các thành phần kinh tế tích cực; khoanh nuôi, tái sinh, bảo vệ và trồng rừng, tăng tỷ lệ che
phủ của rừng.
– Nâng cao năng lực, hiệu quả đánh bắt thủy, hải sản, chú trọng thâm canh và đẩy mạnh
nuôi trồng thủy hải sản phục vụ xuất khẩu, phấn đấu để sớm đứng vào hàng ngũ những quốc
gia có sản lượng thủy, hải sản lớn trong khu vực và thế giới.

– Thực hiện tốt quy chế dân chủ, đảm bảo ổn định chính trị xã hội và xây dựng nếp sống
văn minh ở nông thôn
– Quy hoạch, cải tạo xây dựng, nâng cấp và hiện đại hóa các khu dân cư nông thôn.
19
II. Định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
1. Thực hiện có hiệu quả việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông
thôn theo hướng đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động, hình thành
nền công nghiệp hóa lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái của từng
vùng. Đưa nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp đạt mức trung bình
tiên tiến trong khu vực về trình độ công nghệ và về giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích.
Tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng, mở rộng sản phẩm tiêu thụ nông sản trong và
ngoài nước. Đẩy mạnh điện khí hóa, cơ giới hóa ở nông thôn. Tăng đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế xã hội nông thôn, xây dựng cuộc sống văn minh, dân chủ, công bằng ở nông thôn.
Tuy nhiên, để thực hiện được định hướng này Nhà nước phải có chính sách hỗ trợ và
động viên sự tham gia của toàn xã hội, đảm bảo phát triển hài hoà giữa kinh tế, xã hội, bảo vệ
môi trường, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá làng, xã Việt Nam theo hướng:
• Công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp;
• Đô thị thúc đẩy nông thôn;
• Doanh nghiệp tác động và hỗ trợ nông dân;
• Khoa học – công nghệ tác động và làm thay đổi phong tục, tập quán và phương thức sản
xuất.
2. Xây dựng hợp lý cơ cấu sản xuất nông nghiệp.
Muốn xây dựng hợp lý cơ cấu sản xuất nông nghiệp cần chú ý tới các phương hướng sau:
– Quy hoạch phù hợp và ổn định các vùng sản xuất lương thực, nâng cao giá trị và hiệu
quả xuất khẩu gạo, có chính sách bảo đảm lợi ích của người sản xuất lương thực.
Trên cơ sở chuyển một bộ phận nông nghiệp sang các ngành nghề khác, từng bước tập
trung ruộng đất tăng quỹ đất canh tác cho lao động nông nghiệp, tăng việc làm và thu nhập của
dân cư nông thôn.
Giá trị sản lượng nông nghiệp tăng bình quân hàng năm khoảng 4 – 5%. Mức xuất khẩu
gạo hàng năm đạt 4 triệu tấn.

Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP khoảng 16 – 17%; tỷ trọng ngành chăn nuôi trong tổng
giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 25%. Thủy sản đạt sản lượng 3,0 – 3,5 triệu tấn. Bảo vệ 10
triệu ha rừng tự nhiên, hoàn thành trồng mới 5 triệu ha rừng. Kim ngạch xuất khẩu nông lâm,
thủy sản đạt khoảng 3,5 tỷ USD (năm 2008, 2009 xuất khẩu thủy sản đạt 4,5 tỷ USD).
20
– Phát triển các vùng cây công nghiệp đáp ứng yêu cầu nguyên vật liệu cho công nghiệp
và xuất khẩu, hình thành các vùng cây ăn quả có giá trị cao, khai thác tiềm năng rau quả vụ
đông, phát triển các cơ sở bảo quản và chế biến.
VD: Các cây có giá trị xuất khẩu và làm nguyên vật liệu cho công nghiệp chúng ta cần
phải phát triển đó là: Bông, dâu tằm, cao su, cà phê, hạt điều, mía, lạc,…
– Phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả chăn nuôi gia súc, gia cầm; tăng tỷ trọng
ngành chăn nuôi trong nông nghiệp.
– Phát huy lợi thế của ngành thủy sản tạo thành một ngành xuất khẩu mũi nhọn, vươn lên
hàng đầu trong khu vực. Phát triển mạnh nuôi trồng thủy hải sản theo hướng thâm canh, giữ gìn
môi trường sông, nước và biển, bảo đảm sự tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản.
– Phát triển tài nguyên rừng, nâng độ che phủ của rừng; kết hợp lâm nghiệp với nông
nghiệp để định canh, định cư, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân miền núi. Đẩy mạnh
trồng rừng kinh tế, tạo nguồn gỗ nguyên liệu cho công nghiệp như: Làm giấy, đồ gỗ gia dụng
và mỹ nghệ xuất khẩu,…
3. Tăng tiềm lực khoa học và công nghệ trong nông nghiệp, đưa nhanh công nghệ
mới vào sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến. Nâng cao năng lực quản lý và chuyên
môn của cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư.
Ứng dụng công nghệ sạch trong nuôi, trồng và chế biến rau quả, thực phẩm,…Công nghệ
sinh học trong lai tạo, sản xuất giống, trình độ thâm canh,…
4. Hoàn thiện về cơ bản hệ thống thủy lợi ngăn mặn, giữ ngọt, kiểm soát lũ, tưới tiêu
đảm bảo an toàn, ổn định cho sản xuất nông nghiệp và đời sống nông dân. Đối với những
khu vực thường bị bão lũ, cùng với các giải pháp hạn chế tác hại của thiên tai, phải điều
chỉnh quy hoạch sản xuất và dân cư thích nghi với điều kiện thiên nhiên.
5. Hình thành các khu vực tập trung công nghiệp, các điểm công nghiệp, các làng
nghề với công nghệ thích hợp gắn với thị trường trong nước và xuất khẩu. Thu hút đầu

tư của mọi thành phần kinh tế vào việc phát triển công nghiệp và dịch vụ nông thôn.
6. Quy hoạch, xây dựng và cải tạo các điểm dân cư nông thôn;
7. Xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn đồng bộ và ngày càng hiện đại.
III. Chính sách về phát triển nông nghiệp, nông thôn
Chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn là các biện pháp kinh tế và biện pháp khác
của Nhà nước tác động đến nông nghiệp, nông thôn và các ngành, lĩnh vực có liên quan trực
21
tiếp đến nông nghiệp, nông thôn nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra trong phát triển kinh tế
xã hội.
1. Vai trò của chính sách nông nghiệp, nông thôn.
– Chính sách nông nghiệp, nông thôn là mặt chủ yếu tạo lập các môi trường pháp lý và
kinh tế để khuyến khích nông nghiệp, nông thôn phát triển phù hợp với mục tiêu phát triển
nông nghiệp, nông thôn trong từng giai đoạn;
+ Nó là môi trường pháp lý trong việc khuyến khích khai thác tiềm năng đất đai, sức lao
động và các yếu tố tự nhiên thuận lợi để phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn;
+ Nó là môi trường pháp lý cho việc phát triển các thành phần kinh tế nhằm khai thác các
thành phần kinh tế nông thôn.
– Điều tiết, hạn chế sự phát triển không phù hợp; xóa bỏ những xu hướng phát triển mang
tính tiêu cực và hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế thị trường;
+ Hạn chế sự phát triển tự phát của nuôi trồng thủy sản dẫn đến phá hoại môi trường;
+ Hạn chế và phá bỏ việc trồng cây thuốc phiện gây nên tệ nạn xã hội;
– Điều tiết các mối quan hệ trong nông nghiệp, nông thôn và giữa các vùng trong nông
thôn;
+ Chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi trong mối tương quan với trồng trọt;
+ Phát triển ngành nghề trong mối tương quan với nông nghiệp;
+ Ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ngân sách cho các vùng đặc biệt khó khăn
trong mối tương quan với các vùng nông thôn khác…
– Phát huy vai trò dân chủ, kết hợp giữa phát triển nông nghiệp với kinh tế, văn hóa, xã
hội nông thôn, xây dựng nông thôn mới;
2. Đặc điểm của chính sách nông nghiệp, nông thôn:

– Phần lớn là mang tính hỗ trợ vì nông nghiệp, nông thôn là lĩnh vực có điều kiện sản xuất
khó khăn hơn, phụ thuộc nhiều vào các điều kiện tự nhiên;
– Chính sách nông nghiệp, nông thôn có tính vùng, tính khu vực rõ rệt;
Cũng là mục tiêu khai thác đất hoang hóa nhưng đất hoang hóa ở vùng Trung du và Miền
núi khác với đất hoang hóa vùng bãi bồi ven sông, ven biển. Vì thế, Nhà nước có QĐ 327 với
khai thác đất trống đồi núi trọc và QĐ 773 với khai thác đất bãi bồi, ven sông, ven biển.
– Chính sách nông nghiệp, nông thôn có cả tính kinh tế và tính phi kinh tế;
22
– Việc tổ chức triển khai văn bản chính sách phụ thuộc vào các đặc điểm tâm lý, tập quán
của người nông dân, của nguồn lao động nông thôn;
Điều kiện, dân trí ở nông thôn thấp; Hoạt động nông nghiệp chịu sự tác động nhiều của
các điều kiện tự nhiên đã tạo tâm lý thực dụng của người nông dân. Do đó, chính sách tác động
đến nông dân phải có những biện pháp tổ chức thích hợp mới mang lại hiệu quả cao.
3. Một số chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn.
3.1. Chính sách đất đai.
Chính sách đất đai trong phát triển nông nghiệp, nông thôn là tổng thể các biện pháp kinh
tế và phi kinh tế của Nhà nước tác động đến quá trình vận động của đất đai và tạo lập các môi
trường cho đất đai vận động nhằm khai thác đất đai một cách đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả,
gắn khai thác sử dụng với bảo vệ, nâng cao chất lượng đất đai phục vụ cho sản xuất kinh doanh
nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn.
* Chính sách đất đai có vị trí quan trọng nhất trong phát triển nông nghiệp, nông
thôn:
– Nó là cơ sở pháp lý để quản lý, bảo vệ đất nông nghiệp – Tư liệu sản xuất trong sản xuất
nông nghiệp;
– Nó là cơ sở tạo quỹ đất đai cho xây dựng hệ thống hạ tầng, các cơ sở kinh tế của các
ngành phi nông nghiệp.
* Vai trò của chính sách đất đai trong phát triển nông nghiệp, nông thôn
– Chính sách đất đai hợp lý sẽ tạo động lực cho việc sử dụng có hiệu quả đất đai.
– Chính sách đất đai hợp lý là động lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn;

Khi Nhà nước khuyến khích và hỗ trợ nông dân, ngư dân, diêm dân, người làm nghề rừng
thực hiện quy hoạch đất đai, tập trung đất đai hình thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung;
khuyến khích phát triển một số ngành hàng có tiềm năng; phát triển cây ăn quả, chăn nuôi gia
súc, gia cầm, nuôi trồng thuỷ sản Công việc này chính là để chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn;
– Chính sách đất đai có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển nền nông nghiệp nước ta
sang sản xuất hàng hóa.
Việc dồn điền đổi thửa, tạo các môi trường kinh tế cho chuyển nhượng đất đai hợp pháp,
… tạo điều kiện cho việc đưa KHCN và máy móc vào sản xuất các loại cây con có giá trị kinh
tế cao, thị trường tiêu thụ tốt.
23
Hệ thống chính sách pháp luật đất đai trong những năm qua không ngừng được hoàn thiện
đã tạo môi trường pháp lý tốt cho người nông dân và các thành phần kinh tế yên tâm đầu tư
phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, để phát huy vai trò của đất đai đối phát
triển nông nghiệp, nông thôn thì chính sách đất đai cần phải đảm bảo các mục tiêu:
– Khuyến khích việc sử dụng đất đai một cách đầy đủ, tiết kiệm và có hiệu quả;
– Gắn việc sử dụng với việc bảo vệ môi trường đất, cải tạo, khôi phục chất lượng đất đai,
không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh và hạn chế sự tác
động của biến đổi khí hậu đến nguồn tài nguyên đất;
– Nâng cao hiệu quả sử dụng đất thông qua việc khuyến khích chuyển đổi cơ cấu cây
trồng, vật nuôi và quá trình tích tụ đất đai thông qua chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê hình
thành vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh theo hướng CNH – HĐH nông nghiệp, nông
thôn để đưa ra các sản phẩm nông nghiệp sạch đáp ứng thị trường tiêu thụ ngày càng hiện đại.
Để thực hiện được các mục tiêu đã đề cập, các chính sách đất đai cần tập trung vào các
vấn đề:
– Đảm bảo các quyền lợi của người sử dụng đất nông – lâm – ngư – diêm nghiệp. Đây là
đặc điểm cơ bản nhằm mục đích gắn người sử dụng với đất đai, gắn việc khai thác với bảo vệ
môi trường đất, nâng cao chất lượng đất đai, thể hiện:
+ Nhà nước giao đất, cho thuê đất để các tổ chức cá nhân ổn định lâu dài. Nhà nước định
giá đất công khai căn cứ vào từng loại đất, từng vùng và mức độ đầu tư xây dựng kết cấu hạ

tầng làm cơ sở để xây dựng chính sách chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mức độ đền bù khi
thu hồi, thế chấp khi vay vốn,…(Nghị định số 64/NĐ – CP ngày 27/9/1993 ban hành quy định
về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích
sản xuất nông nghiệp; Thông tư 14 ngày 01/10/2009 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất;)
+ Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
+ Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất;
+ Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp;
+ Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp;
+ Được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp
của mình;
+ Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của
mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai;
24
+ Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử
dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền được bồi thường
khi Nhà nước thu hồi đất.
– Xác định thời gian giao đất, cho thuê đất một cách phù hợp và linh hoạt để người dân
yên tâm đầu tư cải tạo đất;
– Quy định mức hạn điền hợp lý để kích thích sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất
hàng hóa;
– Quy định việc chuyển quyền thừa kế, chuyển nhượng đất nông nghiệp hợp lý tránh tình
trạng làm nhỏ lẻ, manh mún đất nông nghiệp gây khó khăn cho việc áp dụng khoa học kỹ thuật
vào sản xuất;
– Tạo điều kiện về môi trường pháp lý và kinh tế gắn với đất đai được xác lập. Các văn
bản pháp luật phải được quy định cụ thể, rõ thẩm quyền về tổ chức thực hiện và chế tài xử lý vi
phạm. Thanh tra, kiểm tra việc sử dụng đất phải được chú trọng và diễn ra thường xuyên, kết
hợp với việc tạo điều kiện về vốn vay, hỗ trợ mở rộng sản xuất có hiệu quả;
– Kiểm soát, chặt chẽ việc thực hiện các quy định về nghĩa vụ trong sử dụng đất nông –
lâm – ngư – diêm nghiệp:

+ Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định về sử dụng độ sâu
trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất và tuân
theo các quy định khác của pháp luật;
+ Đăng ký quyền sử dụng đất, làm đầy đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhượng, cho
thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền
sử dụng đất theo quy định của pháp luật;
+ Thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật;
+ Thực hiện các biện pháp bảo vệ đất;
+ Tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp
của người sử dụng đất có liên quan;
+ Tuân theo các quy định của pháp luật về việc tìm thấy vật trong lòng đất;
+ Giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất hoặc khi hết thời hạn sử dụng đất.
– Tiếp tục thực hiện việc giao đất, khoán rừng trong lâm nghiệp; điều chỉnh chính sách
khuyến khích nhân dân tham gia bảo vệ rừng tự nhiên và phát triển trồng rừng kinh tế và cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài, ổn định cho nông dân, giải quyết dứt điểm những
tranh chấp và khiếu kiện về đất đai; (Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004; Nghị định số
25
Những quan điểm trên chỉ đúng khi đặt trong toàn cảnh đơn cử của từng nước, phụ thuộc vào vàtrình độ tăng trưởng, cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính, chính sách vận dụng cho từng nền kinh tế tài chính. Đối với những nướcđang thực thi công nghiệp hóa, đô thị hóa, chuyển từ sản xuất thuần nông sang tăng trưởng cácngành công nghiệp và dịch vụ, thiết kế xây dựng những khu đô thị nhỏ, thị xã rải rác ở những vùng nôngthôn thì khái niệm về nông thôn có những đổi khác so với khái niệm trước đây, hoàn toàn có thể hiểunông thôn lúc bấy giờ gồm có cả những thị xã, đô thị nhỏ, những TT công nghiệp nhỏ cóquan hệ gắn bó mật thiết với nông thôn, cùng sống sót tương hỗ và thôi thúc nhau tăng trưởng. Vàtrong điều kiện kèm theo lúc bấy giờ ở Nước Ta, nếu nhìn nhận dưới góc nhìn quản lý hoàn toàn có thể đưa ra kháiniệm về nông thôn như sau : Nông thôn : Là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợpnày tham gia vào những hoạt động giải trí kinh tế tài chính, văn hóa truyền thống, xã hội và thiên nhiên và môi trường trong một thể chế chínhtrị nhất định và chịu ảnh hưởng tác động của những tổ chức triển khai khác. Với khái niệm này, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là hầu hết, mật độdân cư thấp có ý thức đoàn kết gắn bó tính hội đồng cao, nhưng số đông có trình độ vănhóa thấp và lối sống còn mang tính tự do, tùy tiện. Bên cạnh dân cư làm nông nghiệp là chủyếu, khu vực nông thôn còn có những làng nghề, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn tạonên kinh tế tài chính nông thônTóm lại : Nông thôn là địa phận để người nông dân sinh sống và tăng trưởng, là một bộ phậnquan trọng cấu thành xã hội, đặc biệt quan trọng là so với những vương quốc có sản xuất nông nghiệp là nềntảng như Nước Ta. Nông thôn Nước Ta có tính năng chính : sản xuất, đáp ứng nông phẩmcho xã hội và giữ truyền thống văn hoá truyền thống cuội nguồn dân tộc bản địa và bảo vệ môi trường sinh thái. Chonên, tăng trưởng nông thôn là một tất yếu đặt ra trong quá trình lúc bấy giờ và tương lai. 2. Phát triển nông thôn : Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều quan điểm khácnhau. Đã có nhiều điều tra và nghiên cứu và tiến hành ứng dụng thuật ngữ này ở những vương quốc trên thếgiới. Ở Nước Ta, thuật ngữ tăng trưởng nông thôn được đề cập đến từ lâu và có sự đổi khác vềnhận thức qua những thời kỳ khác nhau. Phát triển nông thôn là một tổng hợp những hoạt động giải trí phong phú, tương quan đến nhiều ngành, nhiều chủ trương và hoạt động giải trí có tác động ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến khu vực nông thôn vàđời sống của người dân nông thôn trên những mặt như : kinh tế tài chính nông thôn, xã hội nông thôn, điềukiện tự nhiên và môi trường tự nhiên nông thôn. Tuy nhiên, tăng trưởng nông thôn chỉ hoàn toàn có thể thực hiệnhiệu quả một cách dài hạn nếu khoanh vùng phạm vi khuôn khổ và chủ trương rõ ràng và được triển khai trênphạm vi toàn nước. Hơn nữa, Là thành thành viên chính thức của WTO, yên cầu Việt nam phải hòa hợp vớicác hiệp định quốc tế và phải kiểm soát và điều chỉnh để trở thành thành viên năng động của nền kinh tếtoàn cầu. Khi thực thi kiểm soát và điều chỉnh cho tương thích với một nền kinh tế tài chính mở, nhiều nhóm trong xãhội có năng lực sẽ không được hưởng lợi từ quyền lợi kinh tế tài chính ( đặc biệt quan trọng tập trung chuyên sâu ở khu vực nôngthôn ). Vì vậy, tất cả chúng ta phải tăng trưởng nông thôn nhằm mục đích mục tiêu : – Sản xuất được nhiều nông sản và loại sản phẩm sản phẩm & hàng hóa, chất lượng loại sản phẩm và năng suấtlao động cao, xuất khẩu tăng, tích góp tái sản xuất lan rộng ra không ngừng. – Phát triển nông thôn là cải tổ đời sống cho hầu hết dân chúng nông thôn : Đời sốngcủa dân cư nông thôn không ngừng được nâng cao, trình độ học vấn được tăng lên, phát huyđược những truyền thống lịch sử tốt đẹp của hội đồng nông thôn, triển khai được dân chủ công minh, văn minh xã hội và giảm đáng kể những tệ nạn xã hội. – Tài nguyên vạn vật thiên nhiên, đa dạng sinh học được bảo vệ và tăng trưởng vững chắc, giữ đượccảnh quan và môi trường sinh thái nông thôn. – Phát triển nông thôn nhằm mục đích mục tiêu giảm thiểu những tác động ảnh hưởng xấu đi của quy trình toàncầu hóa đến nhóm người dân dễ bị tổn thương ( ở khu vực nông thôn thì nhóm người này chínhlà nông dân ). Với những mục tiêu như trên tất cả chúng ta hoàn toàn có thể khái niệm tăng trưởng nông thôn như sau : Phát triển nông thôn : là một quy trình tất yếu cải tổ một cách vững chắc về kinh tế tài chính, vănhóa, xã hội và thiên nhiên và môi trường, nhằm mục đích nâng cao chất lượng sống của dân cư nông thôn. Quá trìnhnày, trước hết chính là do người dân nông thôn với sự tương hỗ của nhà nước và những tổ chức triển khai khác. Phát triển nông thôn sẽ thành công xuất sắc khi chính người dân nông thôn tham gia tích cực vàoquá trình tăng trưởng đó. Chính quyền những cấp phải nhận thức rất đầy đủ, trang nghiêm về phát triểnnông thôn tổng lực, vững chắc ; kiến thiết xây dựng đề án tăng trưởng nông thôn phải có sự tham gia củacộng đồng để hấp dẫn người dân vào tiến trình tăng trưởng một cách có ý thức dữ thế chủ động, năngđộng, làm thế nào để người dân thật sự là TT của sự tăng trưởng, là chủ thể của quy trình pháttriển, họ vừa là động lực, vừa là tiềm năng của sự tăng trưởng ; nhà nước và ngành nông nghiệp PTNT phải có chủ trương để khuyến khích được độingũ cán bộ khuyến nông tham gia vào công tác làm việc tăng trưởng nông thôn mới như thể một thành phầnquan trọng tương hỗ cho sự nghiệp tăng trưởng hội đồng trong hiện tại và tương lai lâu dài hơn. Theo FAO : “ Khuyến nông là cách đào tạo và giảng dạy và rèn luyện kinh nghiệm tay nghề cho nông dân, đồng thờigiúp họ hiểu được những chủ trương, chủ trương về nông nghiệp, những kiến thức và kỹ năng về kỹ thuật, kinh nghiệm tay nghề về quản lý kinh tế tài chính, những thông tin thị trường, để họ có đủ năng lực tự giải quyếtcác yếu tố của mái ấm gia đình và hội đồng nhằm mục đích tăng nhanh sản xuất, cải tổ đời sống, nâng caodân trí góp thêm phần thiết kế xây dựng và tăng trưởng nông thôn mới ” ( FAO : Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc – Food and agricultureorganization of the United Nations ) Với xuất phát điểm của nền kinh tế tài chính Nước Ta và những yên cầu của nền kinh tế tài chính hội nhậpthì tăng trưởng nông thôn đương nhiên là một tất yếu khách quan. Khi công nghiệp và đô thị chưaphát triển thì nông nghiệp và khu dân cư nông thôn giữ vị trí bao trùm. Nhưng khi có sự giatăng của công nghiệp hóa và đô thị hóa, nông thôn đã bị thu hẹp kể cả về chủ quyền lãnh thổ và dân số. Song, những làng, bản, ấp, trại vẫn sẽ sống sót là một địa phận dân cư nông thôn trong thời đại vănminh hơn, tiến gần những đô thị hơn. Để quy trình đô thị hóa nông thôn diễn ra thuận tiện theo địnhhướng, tất yếu phải triển khai tăng trưởng nông thôn nhằm mục đích kiến thiết xây dựng những khu dân cư nông thôn, tạo lập những cơ sở vật chất và kỹ thuật thuận tiện cho việc tiến hành những hoạt động giải trí sản xuất và tổchức đời sống của người dân lao động trên địa phận nông thôn. Công tác kiến thiết xây dựng tăng trưởng và quản lý những khu dân cư nông thôn trước kia được nghiêncứu tiến hành trên cơ sở nền kinh tế tài chính kém tăng trưởng, quy hoạch tản mạn không hài hòa và hợp lý. Khichuyển sang nền kinh tế tài chính sản phẩm & hàng hóa nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường có sự điềutiết của Nhà nước theo khuynh hướng XHCN thì những phương pháp tổ chức triển khai hoạt động giải trí sản xuất, kinh doanh thương mại, dịch vụ rất phong phú ; việc tổ chức triển khai đời sống ở nông thôn Open nhiều yếu tốmới. Vì vậy, cần phải sửa đổi, bổ trợ quy hoạch và quản lý những khu dân cư nông thôn cho phùhợp với nền kinh tế tài chính xã hội lúc bấy giờ ; đồng thời kiến thiết xây dựng đời sống mới trong tương lai, nângcao đời sống vật chất, văn hóa truyền thống và niềm tin của dân cư nông thôn, thu dần khoảng cách giàunghèo trong xã hội. Việc tăng nhanh quy trình đô thị hóa nông thôn, tăng cường tăng trưởng về lượng và chất cácđô thị vừa và nhỏ, những điểm dân cư nông thôn theo kiểu đô thị mới vừa hạn chế và kiểm soátđược sự di dân vào những đô thị lớn, vừa tái tạo, tăng cấp được những khu đô thị hiện có, giúp chosự tăng trưởng hòa giải, không thay đổi và bền vững và kiên cố. Đồng thời, giảm được áp lực đè nén về dân số và tình trạngquá tải, xuống cấp trầm trọng của kiến trúc, ô nhiễm môi trường tự nhiên và sự phức tạp về bảo mật an ninh trật tự doviệc di dân từ nông thôn vào những đô thị lớn như Thành Phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, tăng trưởng nông thôn trong tiến trình lúc bấy giờ yên cầu phải tổng lực hơn, bêncạnh sự tăng trưởng về vật chất, phải bảo vệ những chỉ số về văn hóa truyền thống, ý thức, bình đẳng xã hội, sự hòa giải giữa con người với tự nhiên, môi trường tự nhiên và sức khỏe thể chất của dân cư – Đây chính làcác tiêu chuẩn của tăng trưởng nông thôn vững chắc. 3. Phát triển nông thôn bền vữngPhát triển bền vững và kiên cố là khái niệm mới Open năm 1987 trong Báo cáo “ Tương laichung của tất cả chúng ta ” do Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển ( WCED ) đề cập “ Pháttriển bền vững và kiên cố là sự tăng trưởng phân phối được những nhu yếu của hiện tại mà không gây hại tới khảnăng phân phối nhu yếu của những thế hệ tương lai ”. Từ khái niệm này thì tăng trưởng nông thôn bền vững và kiên cố được hiểu là : – Phải bảo vệ nhu yếu nông sản của con người lúc bấy giờ nhưng phải duy trì được tàinguyên vạn vật thiên nhiên cho những thế hệ tương lai, gồm có giữ gìn được quĩ đất, quĩ nước, rừng, không khí, khí quyển và tính đa dạng sinh học, … – Phát triển bền vững và kiên cố phải bảo vệ công minh xã hội, hoạt động giải trí kinh tế tài chính của nhóm ngườinày không gây tổn hại tới nhóm người khác, không tác động ảnh hưởng tới nhu yếu tăng trưởng của thế hệtương lai. Như vậy, tăng trưởng bền vững và kiên cố so với con người nói chung và người nông dân nói riêngđòi hỏi phải tuân thủ những nguyên tắc : ( 1 ) dân chủ và bảo đảm an toàn ; ( 2 ) bình đẳng và công minh xãhội ; ( 3 ) bền vững và kiên cố chất lượng đời sống cho người dân ; ( 4 ) sự tham gia của người dân tronghợp tác với nhà nước ; ( 5 ) tôn trọng quá khứ của tổ tiên và quyền lợi và nghĩa vụ của những thế hệ tương lai. Bền vững trong tăng trưởng nông thôn về kinh tế tài chính yên cầu : ( 1 ) tăng cường và phong phú hóanền kinh tế tài chính nông thôn ; ( 2 ) bảo vệ cho dân cư có quyền lợi từ những hoạt động giải trí của địa phươnghọ ; ( 3 ) thôi thúc phồn vinh lâu bền hơn ở nông thôn ; ( 4 ) tránh gây tác động ảnh hưởng và tác động ảnh hưởng xấu đếnkhu vực khác trong nền kinh tế tài chính quốc dân ; ( 5 ) đổi khác quy mô và công nghệ tiên tiến sản xuất, mô hìnhtiêu dùng theo hướng sạch hơn và thân thiện với môi trường tự nhiên ; ( 6 ) triển khai quy trình ” côngnghiệp hoá sạch ” ; ( 7 ) tăng trưởng vững chắc vùng và thiết kế xây dựng những hội đồng địa phương pháttriển vững chắc. Trên phương diện quản lý thì chương trình hành vi của tăng trưởng nông thôn bền vữngthể hiện : ( 1 ) tăng trưởng vững chắc kinh tế tài chính nông thôn ( nền nông nghiệp vững chắc, lan rộng ra cácnguồn thu nhập phi nông nghiệp ) ; ( 2 ) tăng trưởng vững chắc xã hội nông thôn ; ( 3 ) bảo đảm an toàn môitrường và bảo vệ tài nguyên vạn vật thiên nhiên ; ( 4 ) thể chế vững chắc. 4. Quản lý nhà nước so với tăng trưởng nông thôn : Quản lý nhà nước so với tăng trưởng nông thôn : Là hoạt động giải trí triển khai quyền lực tối cao nhànước của những cơ quan trong cỗ máy nhà nước nhằm mục đích triển khai những công dụng của nhà nước trêncơ sở những quy luật tăng trưởng xã hội, nhằm mục đích sử dụng có hiệu suất cao nhất những tiềm năng, những cơ hộiđể đạt được mục tiêu không thay đổi và tăng trưởng nông thôn trong điều kiện kèm theo dịch chuyển của môitrường. Nhà nước sử dụng quyền lực tối cao của mình để tạo thiên nhiên và môi trường và điều kiện kèm theo cho hoạt động giải trí sảnxuất kinh doanh thương mại của những thành phần kinh tế tài chính ở nông thôn trong nền kinh tế thị trường. Bảo đảmsự không thay đổi về chính trị, kinh tế tài chính, văn hóa truyền thống, xã hội, duy trì pháp lý trật tự bảo đảm an toàn xã hội, thi hànhnhất quán những chủ trương và thể chế theo hướng thay đổi, khống chế lạm phát kinh tế, điều tiết những quanhệ thị trường. Tạo môi trường tự nhiên tâm ý trong quy trình nhận thức của người nông dân về cơ chếthị trường, giúp họ nhận thức được tính hai mặt của chính sách này. Vì thế, quản lý nhà nước so với tăng trưởng nông thôn gồm có những yếu tố : – Quản lý và tăng nhanh vận động và di chuyển cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính nông thôn, tổ chức triển khai lại sản xuất và xâydựng quan hệ sản xuất tương thích ; – Quản lý và tăng trưởng những thành phần kinh tế tài chính ở nông thôn ; – Quản lý, quy hoạch thiết kế xây dựng những điểm dân cư nông thôn ; – Quản lý, kiến thiết xây dựng kiến trúc ở nông thôn. II. Vai trò của tăng trưởng nông nghiệp và nông thôn so với tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hội1. Phát triển nông thôn bảo vệ cho quy trình sản xuất, phân phối lương thực, thựcphẩm và những nguyên vật liệu gia dụng khác cho đời sống con người. Nông nghiệp luôn luôn đóng một vai trò quan trọng vì nó là ngành tạo ra lương thực, thựcphẩm nhằm mục đích thoả mãn nhu yếu số 1 của con người là nhu yếu nhà hàng ; Nông nghiệp là bộ phận cấu thành đa phần của kinh tế tài chính nông thôn, nó có vai trò ngày cànglớn trong việc bảo vệ bảo mật an ninh lương thực, nâng cao hiệu suất cao sử dụng những nguồn tài nguyêncủa quốc gia và xóa đói giảm nghèo, góp thêm phần thôi thúc tăng trưởng nói chung ; Nông thôn là địa phận sản xuất và cung ứng lương thực thực phẩm cho tiêu dùng của cả xãhội. Người nông dân sản xuất lương thực thực phẩm không những để nuôi sống họ mà còncung cấp cho toàn xã hội. 2. Sự tăng trưởng của kinh tế tài chính nông thôn sẽ góp thêm phần tạo ra những tiền đề quan trọngvà thực thi có hiệu suất cao tiến trình công nghiệp hóa, tân tiến hóa quốc gia. Cung cấp lương thực, thực phẩm ; phân phối nguyên vật liệu để công nghiệp hóa ; cung cấpmột phần vốn ; khu vực nông thôn là thị trường quan trọng của những ngành công nghiệp và dịchvụ. Ngân hàng Thế giới đã đánh giá và nhận định : “ tăng trưởng nông nghiệp chính là yếu tố tiên phongcủa những cuộc cách mạng công nghiệp đã xảy ra trên khắp quốc tế từ Anh ( giữa thế kỷ XVIII ) cho đến Nhật Bản ( cuối thế kỷ XIX ). Gần đây, vận tốc tăng trưởng nông nghiệp nhanh chóngcủa Trung Quốc, Ấn Độ và Nước Ta cũng là tiền đề cho sự tăng trưởng công nghiệp ”. ( TríchBáo cáo tăng trưởng quốc tế 2008, Ngân hàng Thế giới ) 3. Phát triển nông thôn là tác nhân kích thích những ngành phi nông nghiệp tăng trưởng. Khi nông nghiệp, nông thôn tăng trưởng sử dụng ngày càng nhiều loại máy cơ khí phục vụnông nghiệp hơn và nếu vận dụng tốt thành tựu khoa học kỹ thuật tân tiến vào nông nghiệp thìnăng suất nông nghiệp tăng lên, những loại sản phẩm nông nghiệp ngày càng phân phối được với thịhiếu người tiêu dùng, người dân ưu thích hàng trong nước nhiều hơn, những nhu yếu về sản phẩm & hàng hóa vàdịch vụ để tương hỗ cho sản xuất cũng tăng – đây chính là những yếu tố kích thích những ngành phinông nghiệp tăng trưởng theo. 4. Phát triển bền vững và kiên cố nông thôn góp thêm phần to lớn trong việc bảo vệ và sử dụng tiếtkiệm, hiệu suất cao tài nguyên vạn vật thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái, phân phối nhu yếu nghỉngơi, du lịch và phòng chống, ngăn ngừa thiên tai. Nông thôn nước ta gồm có những khu vực to lớn. Ở đây, tài nguyên của đất nướcchiếm tuyệt đại bộ phận như : đất đai, tài nguyên, động thực vật, rừng biển, nguồn nước Pháttriển kinh tế tài chính nông thôn được cho phép khai thác và sử dụng hài hòa và hợp lý những nguồn tài nguyên vạn vật thiên nhiên, đồng thời bảo vệ chúng trong quy trình sử dụng. Nông thôn nước ta vốn là vùng kinh tế tài chính, văn hóa truyền thống lỗi thời, sản xuất và hoạt động và sinh hoạt phân tán, nhiều hủ tục. Tuy nhiên, nó cũng là nơi có truyền thống cuội nguồn văn hóa truyền thống hội đồng còn sâu đậm Pháttriển kinh tế tài chính nông thôn sẽ tạo điều kiện kèm theo để vừa giữ gìn, bảo tồn và phát huy truyền thống lịch sử vănhóa xã hội tốt đẹp, diệt trừ văn hóa truyền thống lỗi thời cũ, vừa tổ chức triển khai tốt đời sống văn hóa truyền thống và ý thức ởnông thôn. 5. Phát triển nông thôn tạo điều kiện kèm theo cho xuất khẩu thu ngoại tệ, tạo tích góp banđầu góp vốn đầu tư trở lại cho tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội. Theo báo cáo giải trình của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ( NN&PTNT ) tổng kim ngạchxuất khẩu nông sản năm 2010 đạt kỷ lục với 19,15 tỉ USD, tăng trên 22 % so với năm 2009. – Xuất khẩu những mẫu sản phẩm nông sản chính đạt gần 10 tỉ USD, tăng hơn 24 % ; – Thủy sản đạt gần 5 tỉ USD, tăng trên 16 % ; – Lâm sản và đồ gỗ đạt hơn 3,6 tỉ USD, tăng gần 30 %. Có ba loại sản phẩm đạt kim ngạch xuất khẩu trên 3 tỉ USD là thủy hải sản, đồ gỗ và gạo ; một mặthàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỉ USD là cao su đặc và hai loại sản phẩm có kim ngạch xuất khẩuhơn 1 tỉ USD là cafe và điều. Hiện nay, Nước Ta đã có những loại sản phẩm gia nhập được WTO như : Thủy sản, vàng. 6. Phát triển nông thôn có vai trò tích cực trong tạo việc làm cho người nông dân, nhất là so với những nước có tiềm năng tăng trưởng nông, lâm, ngư nghiệp. Cả nước có khoảng chừng 1.500 làng nghề, trong đó trên 300 là làng nghề truyền thống cuội nguồn, 80 % làng nghề theo quy mô Hộ mái ấm gia đình, tạo việc làm không thay đổi cho hơn 4 triệu lao động ( Theo thốngkê của Bộ LĐTB và XH ). Đến tháng 2009, đã có 135.437 trang trại, góp thêm phần tích cực cho yếu tố lao động củangười nông dân nông thôn. 7. Góp phần không thay đổi chính trị xã hội, bảo mật an ninh trật tự được giữ vững. Phát triển kinh tế tài chính nông thôn sẽ làm cho những hoạt động giải trí ở nông thôn trở nên sôi động hơn. Cơ cấu kinh tế tài chính, phân công lao động vận động và di chuyển đúng hướng có hiệu suất cao. Công nghiệp gắn bóchặt chẽ với nông nghiệp tại chỗ. Vấn đề đô thị hoá sẽ được xử lý theo phương pháp đô thịhoá nông thôn. Vấn đề việc làm cho người lao động sẽ được ngày càng tăng ngày càng nhiều trên địabàn nông thôn. Trên cơ sở đó, tăng thu nhập, cải tổ từng bước đời sống vật chất và tinh thầncủa mọi những tầng lớp dân cư ; giảm sức ép của sự chênh lệch kinh tế tài chính và đời sống giữa thành thị vànông thôn, giữa vùng tăng trưởng và vùng kém tăng trưởng ; Tăng trưởng trong nông nghiệp sẽ kích thích những ngành phi nông nghiệp tăng trưởng. Sựtăng trưởng của những ngành phi nông nghiệp tại nông thôn lại tạo việc làm cho nông dân vì thếtốc độ di dân vào những thành phố lớn cũng giảm một cách tự nhiên, thành phố sẽ giảm tải về dânsố, đỡ phức tạp về những yếu tố kinh tế tài chính, chính trị, xã hội và môi trường tự nhiên ; Như vậy, tăng trưởng trong nông nghiệp sẽ dẫn đến tăng trưởng chung của nông thôn vàthành thị, tương hỗ việc không thay đổi xã hội do những thời cơ làm ăn được phân bổ một cách hài hòa và hợp lý, đồngđều và nguồn phân phối lương thực, thực phẩm được bảo vệ. 8. Sự tăng trưởng của kinh tế tài chính nông thôn sẽ tạo cơ sở vật chất cho sự tăng trưởng văn hoáở nông thôn. Nông thôn nước ta trước đây vốn là vùng có kinh tế tài chính, văn hóa truyền thống lỗi thời, sản xuất và sinhhoạt phân tán, nhiều hủ tục. Nhưng, đây cũng là nơi có truyền thống lịch sử văn hóa truyền thống hội đồng cònsâu đậm Vì thế, tăng trưởng kinh tế tài chính nông thôn sẽ tạo điều kiện kèm theo để vừa giữ gìn, bảo tồn và pháthuy truyền thống lịch sử văn hóa truyền thống xã hội tốt đẹp, vừa tiêu diệt những văn hóa truyền thống lỗi thời để tổ chức triển khai tốt hơnđời sống văn hóa truyền thống và niềm tin cho người dân khu vực nông thôn. III. Quá trình tăng trưởng nông nghiệp, nông thôn Việt Nam1. Về thành tựu1. 1. Sơ lược về quy trình tăng trưởng của nông nghiệp, nông thôn Nước Ta. Nông nghiệp Nước Ta là một nền nông nghiệp truyền thống cuội nguồn ở Khu vực Đông Nam Á, đây là mộttrong những cái nôi của nền văn minh lúa nước, nơi Open sớm nhất mô hình sản xuất nôngnghiệp của loài người. – Các triều đại phong kiến trước đây : Triều đại nào chăm sóc đến nông nghiệp, có chínhsách hài hòa và hợp lý được nhân dân ủng hộ thì quốc gia hưng thịnh. Triều đại nào không quan tâm đếnnông nghiệp, đề ra sưu cao, thuế nặng, để vỡ đê điều, chỉ lo ăn chơi sa đọa thì sản xuất ngưng trệ, đói kém. – Từ sau Cách mạng tháng Tám ( 1945 ) : Vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn đượcChủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng phát minh sáng tạo, mang lại thành công xuất sắc bùng cháy rực rỡ trong hoạt động giải trí thực tiễnở cả 2 quy trình tiến độ cách mạng dân tộc bản địa dân chủ và cách mạng XHCN. Theo Người, yếu tố nôngdân không chỉ ở mặt chính trị, mà còn gắn liền với yếu tố nền tảng của nó là kinh tế tài chính nông nghiệp. Công nghiệp, nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế tài chính. Vận dụng phát minh sáng tạo Tư tưởng Hồ Chí Minh, ở mỗi tiến trình lịch sử dân tộc của quốc gia, đườnglối tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội của Đảng ta đều xác lập rõ vai trò, vị trí quan trọng số 1 củanông nghiệp và kinh tế tài chính nông thôn tương thích với quy trình tăng trưởng của quốc gia. – Năm 1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ( khóa IV ) phát hành Chỉ thị số 100 cho phépcải tiến nông nghiệp theo hướng gắn nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động đến tác dụng cuối cùngbằng hình thức khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong những hợp tác xã, tập đoàn lớn sảnxuất trên khoanh vùng phạm vi cả nước. Đây là chìa khoá vàng mở ra thời kỳ mới của nông nghiệp và kinhtế nông thôn cho nước ta. – Năm 1988 Bộ Chính trị phát hành Nghị quyết 10 về “ Đổi mới quản lý kinh tế tài chính nôngnghiệp ” với những kiểm soát và điều chỉnh lớn nhằm mục đích giải phóng tư liệu sản xuất trong nông nghiệp nôngthôn, chuyển giao chúng cho những hộ nông dân quản lý và sử dụng vĩnh viễn, hộ nông dân thànhnhững đơn vị chức năng tự chủ trong sản xuất nông nghiệp. Người nông dân được tự chủ quản lý, sửdụng lao động, tự chủ góp vốn đầu tư, tự chủ hợp tác sản xuất, lưu thông và phân phối mẫu sản phẩm làm ra, thực thi chủ trương một giá, thương mại hóa vật tư, … – Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương lần thứ 5 ( khóa VII ) về liên tục thay đổi vàphát triển tổng lực kinh tế tài chính xã hội nông thôn ( 1993 ) với tiềm năng là biến nền kinh tế tài chính đa phần lànông nghiệp của nước ta thành nền kinh tế tài chính có cơ cấu tổ chức hướng ngoại, tăng tỷ trọng công nghiệp vàdịch vụ nông thôn nhưng số lượng tuyệt đối của loại sản phẩm nông nghiệp vẫn cứ tăng lên. Cụ thể : + Phát triển nhanh, vững chãi và có hiệu suất cao những ngành công nghiệp dịch vụ ở nông thôn, trên cơ sở đó tăng nhanh tỷ trọng những ngành này trong cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính công – nông – dịch vụ ởmỗi vùng và mỗi địa phương. Chú trọng những ngành công nghiệp dịch vụ ship hàng nôngnghiệp ; + Tăng nhanh tỷ trọng ngành chăn nuôi trong cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính nông nghiệp, phong phú hóasản phẩm chăn nuôi và chú trọng chăn nuôi xuất khẩu ; + Phát triển những vùng và tiểu vùng trọng điểm sản xuất những mẫu sản phẩm lương thực, câycông nghiệp chủ yếu ( cao su đặc, cafe, điều, … ) để phát huy thế mạnh của mỗi vùng, trên cơ sởđó thực thi thâm canh tăng hiệu suất, nâng cao chất lượng loại sản phẩm, cung ứng nhu yếu trongnước và xuất khẩu ; + Phát triển mạnh ngành thủy hải sản trên tổng thể những mặt : nuôi trồng, đánh bắt cá, chế biến, đểkhai thác có hiệu suất cao tiềm năng mặt nước và biển của nước ta ; + Phát triển ngành lâm nghiệp theo hướng bảo vệ rừng hiện có, chăm nom và tái sinh vốnrừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, phối hợp hài hòa và hợp lý giữa khai thác và chế biến lâm sản. – Nghị quyết Trung ương khóa IX của Ban chấp hành Trung ương Đảng về đẩy nhanhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2002 – 2010. Các quyết sách nói trên tạo ra bước ngoặt lớn về sản xuất nông nghiệp, kinh tế tài chính nông thônvà chính sách quản lý nông nghiệp. Thực chất, đây là những giải pháp kiểm soát và điều chỉnh những mối quan hệ củasở hữu, quản lý và phân phối trong tổng thể và toàn diện công cuộc thay đổi tổng lực về kinh tế tài chính xã hộinhằm tăng cường sức sản xuất trong nông thôn và từng hộ nông dân, đã tạo ra động lực quantrọng thôi thúc nông nghiệp tăng trưởng đạt được nhiều thành tựu. 1.2. Đánh giá về thành tựu của nông nghiệp, nông thôn Nước Ta. a ) Thứ nhất, sản xuất nông nghiệp tăng trưởng tương đối tổng lực, liên tục và với tốc độkhá caob ) Thứ hai, kinh tế tài chính nông thôn chuyển dời theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngànhnghề ; những hình thức tổ chức triển khai sản xuất liên tục thay đổi. c ) Thứ ba, kiến trúc kinh tế tài chính xã hội nông thôn được tăng cường, bộ mặt nhiều vùngnông thôn đổi khác. d ) Thứ tư, đời sống vật chất, ý thức của dân cư ở hầu hết những vùng nông thôn ngày càngđược cải tổ. Xóa đói, giảm nghèo đạt hiệu quả to lớn. e ) Thứ năm, mạng lưới hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường, dân chủ cơ sởđược phát huy. An ninh chính trị, trật tự bảo đảm an toàn xã hội được giữ vững. Vị thế chính trị củanông dân ngày càng được nâng cao. Những thành tựu này góp thêm phần quan trọng vào sự không thay đổi và tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội củađất nước, đồng thời liên tục khẳng định chắc chắn vị trí quan trọng của nông nghiệp, nông thôn và vai tròquản lý của Nhà nước về nông nghiệp và tăng trưởng nông thôn trong thời đại mới. 102. Tồn tại và yếu kém : a ) Thứ nhất, nông nghiệp tăng trưởng còn kém vững chắc, vận tốc tăng trưởng có xu hướnggiảm dần, sức cạnh tranh đối đầu thấp, chưa phát huy tốt những nguồn lực cho tăng trưởng sản xuất. Việcchuyển dịch cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính và thay đổi phương pháp sản xuất còn chậm, thông dụng vẫn là sản xuấtnhỏ, phân tán, hiệu suất, chất lượng, giá trị ngày càng tăng nhiều loại sản phẩm còn thấp. b ) Thứ hai, công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề tăng trưởng chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽchuyển dịch cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính và lao động ở nông thôn. c ) Thứ ba, những hình thức tổ chức triển khai sản xuất chậm thay đổi, chưa phân phối nhu yếu phát triểnmạnh sản xuất sản phẩm & hàng hóa. d ) Thứ tư, nông nghiệp và nông thôn tăng trưởng thiếu quy hoạch, kiến trúc kinh tếxã hội còn yếu kém, thiên nhiên và môi trường ngày càng ô nhiễm ; năng lượng thích ứng, đối phó với thiên taicòn nhiều hạn chế. e ) Thứ năm, đời sống vật chất và ý thức của người dân nông thôn còn thấp, tỷ suất hộnghèo còn cao, chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa những vùng còn lớn, phátsinh nhiều yếu tố xã hội bức xúc. g ) Thứ sáu, thị trường tiêu thụ nông sản sản phẩm & hàng hóa gặp nhiều khó khăn vất vả, năng lực cạnhtranh của nông sản sản phẩm & hàng hóa yếu ; h ) Thứ bảy, lao động dư thừa nhiều. 3. Nguyên nhân của những sống sót, yếu kém : – Do xuất phát điểm của nông nghiệp, nông thôn Nước Ta thấp, chất lượng cấu trúc hạtầng và dịch vụ ship hàng nông nghiệp, nông thôn thấp ; – Do chưa thực thi tráng lệ đường lối đúng đắn trong những Nghị quyết của Đảng đã đềra là : Coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn – Công tác thiết kế xây dựng chủ trương chưa chuyên nghiệp, thiếu những điều tra và nghiên cứu nghiên cứu và phân tích căncứ đơn cử, thiếu mạng lưới hệ thống giám sát theo dõi gây ra thực trạng tiêu tốn lãng phí và trục lợi làm giàu bấtchính. – Cơ chế, chủ trương tăng trưởng nông nghiệp, nông dân, nông thôn chưa thông thoáng, thiếu đồng nhất, thiếu tính nâng tầm và tính khả thi chưa cao nhưng chậm được kiểm soát và điều chỉnh, bổsung nên chưa tương thích với nền sản xuất sản phẩm & hàng hóa quy mô lớn và xuất khẩu, nhất là những chínhsách về đất đai, khoa học, công nghệ tiên tiến, tín dụng thanh toán, thị trường, … – Việc tổ chức triển khai triển khai còn nhiều yếu kém : Chủ trương, chủ trương phát hành nhiềunhưng triển khai chưa hiệu suất cao, thiếu kiểm tra, đôn đốc. Trách nhiệm của cấp uỷ và chính11quyền những cấp không được làm rõ và giải quyết và xử lý tráng lệ khi không triển khai tốt, còn tình trạnglàm được đến đâu hay đến đó, chạy theo thành tích. Kinh nghiệm tốt ít được tổng kết nhânrộng, nhiều trào lưu thi đua mang tính hình thức ít phát huy công dụng trong thực tiễn. Sựphối hợp của những ngành, những cấp, sự tham gia của những tổ chức triển khai đoàn thể còn yếu kém. – Việc điều tra và nghiên cứu vận dụng những kinh nghiệm tay nghề quản lý tiên tiến và phát triển trên quốc tế vào điều kiệncủa nước ta còn nhiều hạn chế – Đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn thấp, chưa xứng danh với vai trò của nó trong nềnkinh tế – Trong điều hành quản lý chưa chú ý quan tâm chớp lấy thực tiễn, không kịp thời tháo gỡ khó khăn vất vả, vướngmắc, uốn nắn sai lầm đáng tiếc, xô lệch trong triển khai chủ trương, chủ trương ; chậm tổng kết kinhnghiệm và những quy mô mới, những tác nhân mới của quần chúng của những đơn vị chức năng cơ sở. – Kinh tế nhà nước chưa được củng cố để phát huy vai trò chủ yếu và hướng dẫn, hỗ trợkinh tế hộ, kinh tế tài chính hợp tác, kinh tế tài chính tư nhân. – Công nghiệp, thương nghiệp chưa link ngặt nghèo nên chưa ship hàng tốt sản xuất nôngnghiệp và thiết kế xây dựng nông thôn mới – Một số cán bộ chỉ huy, quản lý chưa nhận thức thâm thúy vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông thôn và nhu yếu tăng cường khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân vàtầng lớp tri thức trong thời kỳ công nghiệp hóa. – Một số địa phương chưa xác lập đúng tiềm năng, nội lực kinh tế tài chính cần tập trung chuyên sâu phát huylà ở nông nghiệp, nông thôn. Hệ thống quản lý, chỉ huy nông nghiệp và tăng trưởng nông thôncòn phân tán, hiệu suất cao thấp, chưa phân phối nhu yếu của tình hình mới. – Chưa có quy hoạch khoa học về kiến thiết xây dựng làng xã nên không có cơ sở và công cụ quảnlý trật tự thiết kế xây dựng. Đội ngũ cán bộ có trình độ và nhiệm vụ thiết kế xây dựng chưa có, thiếu sựchỉ đạo và những văn bản hướng dẫn thống nhất trong quản lý. IV. Khái quát nội dung quản lý so với tăng trưởng nông thônHiện nay, Nước Ta vẫn đang liên tục kiến thiết xây dựng nền kinh tế tài chính sản phẩm & hàng hóa nhiều thành phầnvận động theo cơ chế thị trường khuynh hướng XHCN nên việc quản lý, điều tiết của Nhà nước vềkinh tế – xã hội là tất yếu khách quan. 1. Hoạch định tăng trưởng nông nghiệp và kinh tế tài chính nông thônDựa trên đường lối, kế hoạch tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội của vương quốc. Nhà nước và chínhquyền địa phương phải thống nhất xác lập những quan điểm, tiềm năng và giải pháp mang tínhđịnh hướng tăng trưởng nông nghiệp và kinh tế tài chính nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại12hóa nhằm mục đích phát huy tiềm năng những nguồn lực và lợi thế so sánh của từng vùng để tăng trưởng nềnnông nghiệp sản phẩm & hàng hóa trên quy mô lớn. 2. Xây dựng đồng nhất và phát hành mạng lưới hệ thống thể chế tạo môi trường tự nhiên pháp lý cho pháttriển nông nghiệp và kinh tế tài chính nông thônTrong toàn cảnh mới của nền kinh tế tài chính toàn thế giới, mạng lưới hệ thống chủ trương và những giải pháp đượcNhà nước kiến thiết xây dựng cũng yên cầu phải nâng cấp cải tiến đồng điệu, tổng lực và luôn tương thích, thích ứngvới sự đổi khác của những hoạt động giải trí kinh tế tài chính – xã hội và những điều kiện kèm theo thực tiễn khách quan khác, nhằm mục đích khai thác mọi nguồn lực, tiềm năng, sức mạnh. Đồng thời, khuyến khích động viên mọithành phần kinh tế tài chính tham gia tăng trưởng nông nghiệp và kinh tế tài chính nông thôn theo đúng đường lối, chủ trương và tiềm năng mà Nhà nước đặt ra. 3. Quy hoạch tăng trưởng những nghành nghề dịch vụ trong nông nghiệp, lâm, ngư nghiệp và hoạtđộng kinh tế tài chính nông thônĐẩy nhanh tiến trình quy hoạch sản xuất nông nghiệp trên cơ sở nhu yếu thị trường và lợithế từng vùng, sử dụng đất nông nghiệp tiết kiệm ngân sách và chi phí, có hiệu suất cao, duy trì diện tích quy hoạnh đất lúa đảm bảovững chắc bảo mật an ninh lương thực vương quốc trước mắt và vĩnh viễn. Cơ cấu lại nghành nông nghiệp, gắn sản xuất với chế biến và thị trườngPhát triển sản xuất với quy mô hài hòa và hợp lý những loại nông sản sản phẩm & hàng hóa xuất khẩu có lợi thế, nông sản thay thế sửa chữa nhập khẩu. Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ ở những vùng nông thôn theo quy hoạch. Khuyếnkhích những thành phần kinh tế tài chính góp vốn đầu tư tăng trưởng công nghiệp chế biến tinh, chế biến sâu gắn vớivùng nguyên vật liệu và thị trường ; tăng nhanh sản xuất tiểu thủ công nghiệp, tiến hành chươngtrình bảo tồn và tăng trưởng làng nghề. Phát triển nhanh và nâng cao chất lượng những loại dịch vụ ship hàng sản xuất, đời sống củadân cư nông thôn. 4. Thực hiện quản lý tổng lực trên tổng thể mọi nghành, mọi địa phận và với toàn bộ cácthành phần kinh tế tài chính, những tổ chức triển khai cá thể theo đúng lao lý của pháp lý. Tăng cường vai trò chủ yếu của Kinh tế nhà nước trong sản xuất nông nghiệp và kinh tếnông thôn ; tăng trưởng kinh tế tài chính hợp tác và HTX, khuyến khích kinh tế tài chính hợp tác link với kinh tếnhà nước để tạo thành nền tảng của nông nghiệp và kinh tế tài chính nông thôn ; khuyến khích phát triểnkinh tế hộ mái ấm gia đình theo hướng sản xuất sản phẩm & hàng hóa. 5. Tạo lập và kêu gọi mọi nguồn vốn góp vốn đầu tư, lan rộng ra mạng lưới hệ thống quỹ tín dụng đểphát triển nông nghiệp và kinh tế tài chính nông thôn, thiết kế xây dựng những quỹ bảo hộ sản xuất, quỹ phòngchống thiên tai, quỹ xóa đói giảm nghèo, quỹ khuyến nông – lâm – ngư, quỹ tiêu thụ hàng hóa13để thôi thúc quy trình vận động và di chuyển cơ cấu tổ chức nông nghiệp, kinh tế tài chính nông thôn theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa tương thích với xu thế hội nhập khu vực và quốc tế. 6. Nâng cao năng lượng lãnh dạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự tham gia của cácđoàn thể chính trị – xã hội trong nghành nông nghiệp – tăng trưởng nông thôn7. Kiểm tra, giám sát việc triển khai đường lối, chủ trương, những thể chế quản lý củaNhà nước, uốn nắn những sai lầm đáng tiếc rơi lệch, giải quyết và xử lý nghiêm những vi phạm. CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 11. Phân tích khái niệm nông thôn ? Những điểm độc lạ cơ bản của nông thôn với đô thịlà gì ? 2. Nêu khái niệm về tăng trưởng nông thôn ? Phát triển nông thôn nhằm mục đích mục tiêu gì ? 3. Tại sao tăng trưởng nông thôn là một tất yếu khách quan ? 4. Trình bày những nội dung về tăng trưởng nông thôn vững chắc ? 5. Quản lý nhà nước so với tăng trưởng nông thôn là gì ? Phân tích vai trò của phát triểnnông thôn so với tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hội ? 6. Trình bày khái quát về quy trình tăng trưởng nông nghiệp, nông thôn Nước Ta ? 7. Nêu nội dung quản lý của Nhà nước so với tăng trưởng nông thôn ? 14C hương II : ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN NƯỚC TAI. Quan điểm, tiềm năng tăng trưởng nông nghiệp, nông thôn Việt Nam1. Quan điểm : Phát triển nông thôn vững chắc trên những mặt : a ) Phát triển bền vững và kiên cố kinh tế tài chính nông thôn, bộc lộ : – Quan điểm trong tăng trưởng nền nông nghiệp bền vững và kiên cố : + Đẩy mạnh chuyển dời cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính, gắn tăng trưởng nông nghiệp với công nghiệp chếbiến, ngành nghề ; gắn sản xuất với thị trường để hình thành sự link công – nông nghiệp – Thương Mại Dịch Vụ và thị trường ; gắn công nghiệp hóa với dân chủ hóa và nâng cao dân trí, tạo ra sự phâncông lao động mới, xử lý việc làm, nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo, thu hẹp dầnkhoảng cách về mức sống giữa thành thị và nông thôn ; triển khai tiềm năng dân số và kế hoạchhóa mái ấm gia đình có hiệu suất cao. + Phát huy lợi thế của từng vùng và cả nước, vận dụng nhanh những văn minh khoa học và côngnghệ để tăng trưởng nông nghiệp sản phẩm & hàng hóa phong phú, cung ứng ngày càng cao nhu yếu nông sảnthực phẩm và nguyên vật liệu công nghiệp, đồng thời hướng tới xuất khẩu phong phú những mẫu sản phẩm. + Phát triển nền nông nghiệp với nhiều thành phần kinh tế tài chính, trong đó kinh tế tài chính Nhà nước giữvai trò chủ yếu, cùng với kinh tế tài chính tập thể, hợp tác xã từ từ trở thành nền tảng ; hướng dẫn kinhtế tư nhân tăng trưởng theo đúng pháp lý + Tiếp tục tăng trưởng nhiều hình thức kinh tế tài chính hợp tác, những mô hình hợp tác xã dịch vụ chokinh tế hộ nông dân, từng bước kiến thiết xây dựng HTX nông nghiệp theo Luật Hợp tác xã, chú trọngliên kết kinh tế tài chính Nhà nước với những thành phần kinh tế tài chính khác, tạo điều kiện kèm theo và khuyến khích mạnhmẽ hộ nông dân và những người có năng lực góp vốn đầu tư tăng trưởng sản xuất kinh doanh thương mại nôngnghiệp, công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn. – Quan điểm trong việc lan rộng ra những nguồn thu nhập phi nông nghiệp : 15C ông nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một trách nhiệm quan trọng hàngđầu của quy trình công nghiệp hóa, văn minh hóa quốc gia. Coi trọng triển khai công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong tăng trưởng nông nghiệp ( lâm, ngưnghiệp ) và kiến thiết xây dựng nông thôn, đưa nông nghiệp và kinh tế tài chính nông thôn lên sản xuất lớn. Đây lànhiệm vụ quan trọng cả trước mắt và lâu dài hơn, là cơ sở để không thay đổi tình hình kinh tế tài chính, chính trị, xãhội, củng cố liên minh công nông với những tầng lớp tri thức tăng nhanh công nghiệp hóa, tân tiến hóađất nước theo khuynh hướng XHCN. – Quan điểm so với tăng trưởng vững chắc xã hội nông thôn : + Giải quyết việc làm cho nông dân là trách nhiệm ưu tiên xuyên suốt trong mọi chươngtrình tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hội của cả nước ; bảo vệ hài hoà giữa những vùng, thu hẹp khoảngcách tăng trưởng giữa những vùng, giữa nông thôn và thành thị ; + Có kế hoạch đơn cử về đào tạo và giảng dạy nghề và chủ trương bảo vệ việc làm cho nông dân, nhấtlà ở những vùng quy đổi mục tiêu sử dụng đất. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động từ nông thôn ; tiến hành kế hoạch hợp tác sản xuất nông nghiệp với một số ít vương quốc có nhu yếu ; + Nâng cao chất lượng chăm nom sức khỏe thể chất khởi đầu và khám chữa bệnh ; thực thi tốtchính sách bảo hiểm y tế, dân số, giảm tỉ lệ sinh ở nông thôn ; + Ưu tiên góp vốn đầu tư tăng trưởng giáo dục và giảng dạy ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dântộc ; + Xây dựng mạng lưới hệ thống phúc lợi xã hội ở nông thôn. Thí điểm bảo hiểm nông nghiệp, bảođảm mức sống tối thiểu cho dân cư nông thôn. Rà soát, giảm thiểu những khoản góp phần có tínhchất bắt buộc so với nông dân. Tiếp tục chỉ huy triển khai xong và triển khai vừa đủ quy định dânchủ cơ sở ; + Đấu tranh, ngăn ngừa những hành vi xấu đi, giữ vững bảo mật an ninh, trật tự bảo đảm an toàn xã hội, giảiquyết kịp thời những vấn đề khiếu kiện của nhân dân, không để gây thành những điểm trung tâm ởnông thôn. Thực hiện bình đẳng giới, nâng cao đời sống vật chất, ý thức, năng lượng và vị thếcủa phụ nữ ở nông thôn. – Giải quyết tốt yếu tố nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo quan điểm Nghị quyếtTrung ương 7 khóa X : + Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí kế hoạch trong sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa, thiết kế xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triểnkinh tế – xã hội bền vững và kiên cố, giữ vững không thay đổi chính trị, bảo vệ bảo mật an ninh, quốc phòng ; giữ gìn, phát huy truyền thống văn hóa truyền thống dân tộc bản địa và bảo vệ môi trường sinh tháii của quốc gia ; 16 + Các yếu tố nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được xử lý đồng nhất, gắn vớiquá trình tăng cường công nghiệp hóa, tân tiến hóa quốc gia. Công nghiệp hóa, tân tiến hóanông nghiệp, nông thôn là một trách nhiệm quan trọng số 1 của quy trình công nghiệp hóa, văn minh hóa quốc gia. Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thônthì nông dân là chủ thể của quy trình tăng trưởng, kiến thiết xây dựng nông thôn mới gắn với thiết kế xây dựng cáccơ sở công nghiệp, dịch vụ và tăng trưởng đô thị theo quy hoạch là cơ bản ; tăng trưởng tổng lực, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt ; + Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, niềm tin của nông dânphải dựa trên chính sách kinh tế thị trường xu thế xã hội chủ nghĩa, tương thích với điều kiện kèm theo củatừng vùng, từng nghành nghề dịch vụ, để giải phóng và sử dụng có hiệu suất cao những nguồn lực xã hội, trước hếtlà lao động, đất đai, rừng và biển ; khai thác tốt những điều kiện kèm theo thuận tiện trong hội nhập kinh tếquốc tế cho tăng trưởng lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn ; phát huy cao nội lực ; đồng thời tăng mạnh góp vốn đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh những thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến tiên tiến và phát triển cho nông nghiệp, nông thôn, tăng trưởng nguồn nhõn lực, nâng cao dân trínông dân ; + Giải quyết yếu tố nông nghiệp, nông dân, nông thôn là trách nhiệm của cả mạng lưới hệ thống chínhtrị và toàn xã hội ; trước hết, phải khơi dậy ý thức yêu nước, tự chủ, tự lực tự cường vươn lêncủa nông dân. Xây dựng xã hội nông thôn không thay đổi, hoà thuận, dân chủ, có đời sống văn hóaphong phú, đậm đà truyền thống dân tộc bản địa, tạo động lực cho tăng trưởng nông nghiệp và kiến thiết xây dựng nôngthôn mới, nâng cao đời sống nông dân. b ) Phát triển kinh tế tài chính nông thôn theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. – Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, niềm tin của nông dânphải dựa trên chính sách kinh tế thị trường xu thế xã hội chủ nghĩa, tương thích với điều kiện kèm theo củatừng vùng, từng nghành, để giải phóng và sử dụng có hiệu suất cao những nguồn lực xã hội, trước hếtlà lao động, đất đai, rừng và biển ; khai thác tốt những điều kiện kèm theo thuận tiện trong hội nhập kinh tếquốc tế cho tăng trưởng lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn ; phát huy cao nội lực ; đồng thời tăng mạnh góp vốn đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh những thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến tiên tiến và phát triển cho nông nghiệp, nông thôn, tăng trưởng nguồn nhõn lực, nâng cao dân trínông dân ; – Nhà nước quản lý, điều tiết những quy trình tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội nông thôn bằng hệthống pháp lý. Tuy nhiên, vẫn tạo môi trường tự nhiên thuận tiện cho những thành phần kinh tế tài chính hoạt độngcó hiệu suất cao ; 17 – Nhà nước khuyến khích những hộ làm giàu và cũng có chủ trương xoá đói giảm nghèo, khuyến khích những vùng nông thôn tăng trưởng, có chủ trương tương hỗ những vùng nghèo, vùng tụthậu ; – Khuyến khích tự do cạnh tranh đối đầu, nhưng cũng có giải pháp làm lành mạnh hoá sự cạnhtranh, triển khai công minh, dân chủ trong nông thôn. c ) Quan điểm tăng cường bảo vệ và quản lý thiên nhiên và môi trường vạn vật thiên nhiên. Coi trọng bảo vệ thiên nhiên và môi trường ; quản lý, khai thác hiệu suất cao, tiết kiệm chi phí tài nguyên thiênnhiên, bảo vệ cân đối sinh thái xanh ; chủ động phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổikhí hậu. 2. Mục tiêu. * Mục tiêu tổng quát : – Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, niềm tin của dân cư nông thôn, hài hòa giữacác vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở những vùng còn nhiều khó khăn vất vả ; nông dân được đàotạo có trình độ sản xuất ngang bằng với những nước tiên tiến và phát triển trong khu vực và đủ bản lĩnh chínhtrị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới ; – Xây dựng nền nông nghiệp tăng trưởng tổng lực theo hướng tân tiến, bền vững và kiên cố, sản xuấthàng hóa lớn, có hiệu suất, chất lượng, hiệu suất cao và năng lực cạnh tranh đối đầu cao, bảo vệ vữngchắc bảo mật an ninh lương thực vương quốc cả trước mắt và lâu dài hơn ; – Xây dựng nông thôn mới có kiến trúc kinh tế tài chính – xã hội văn minh ; cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính vàcác hình thức tổ chức triển khai sản xuất hài hòa và hợp lý, gắn nông nghiệp với tăng trưởng nhanh công nghiệp, dịchvụ, đô thị theo quy hoạch ; xã hội nông thôn không thay đổi, giàu truyền thống văn hóa truyền thống dân tộc bản địa ; dân trí đượcnâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ ; mạng lưới hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạocủa Đảng được tăng cường ; – Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân – nông dân – tri thức vữngmạnh, tạo nền tảng kinh tế tài chính – xã hội và chính trị vững chãi cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, thiết kế xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để đạt được tiềm năng trên, Đảng và Nhà nước ta đã xác lập những tiềm năng đơn cử cần phảihướng tới như sau : – Tốc độ tăng trưởng nông, lâm, thủy hải sản đạt 3,5 – 4 % / năm ; sử dụng đất nông nghiệp tiếtkiệm và hiệu suất cao ; duy trì diện tích quy hoạnh đất lúa bảo vệ vững chãi bảo mật an ninh lương thực quốc giatrong mọi trường hợp. Phát triển nông nghiệp tích hợp với tăng trưởng công nghiệp, dịch vụ vàngành nghề nông thôn, xử lý cơ bản việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn lêngấp 2,5 lần so với lúc bấy giờ, xóa hộ đói, giảm tỷ suất hộ nghèo. 18 – Lao động nông nghiệp được chuyển dời còn khoảng chừng 30 % trong tổng lực lượng laođộng xã hội, tỷ suất lao động nông thôn qua huấn luyện và đào tạo đạt trên 50 %, số xã đạt tiêu chuẩn nông thônmới khoảng chừng 50 %. ( Quyết định số 491 của Thủ tướng nhà nước ngày 16/4/2009 về việc banhành Bộ tiêu chuẩn vương quốc về nông thôn mới ) – Chuyển dịch cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, tăngnhanh khối lượng mẫu sản phẩm sản phẩm & hàng hóa, nhất là hàng nông, lâm, thủy hải sản qua chế biến ; tăng kimngạch xuất khẩu ; giảm tỷ suất lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ trong cơcấu kinh tế tài chính nông thôn – Phát triển đồng điệu kiến trúc kinh tế tài chính xã hội nông thôn. + Phát triển mạng lưới hệ thống đường giao thông vận tải bảo vệ thông suốt đến TT xã, có đủtrường học, trạm y tế, nước sạch và điện, tái tạo quy hoạch kiến thiết xây dựng làng, bản, xóm, ấp theomô hình nông thôn mới. + Đảm bảo tưới tiêu dữ thế chủ động cho hàng loạt diện tích quy hoạnh đất lúa, lan rộng ra diện tích quy hoạnh tưới chorau màu, cây công nghiệp ; cấp thoát nước dữ thế chủ động cho nuôi trồng thủy hải sản, làm muối + Xây dựng những cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và hạ tầng nghề cá + Cấp điện hoạt động và sinh hoạt cho dân cư, những cơ sở công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn + Hệ thống ngăn mặn, chống nước biển dâng, phòng chống bão lũ, ô nhiễm môi trường tự nhiên + Đảm bảo đủ trường học, trạm y tế và mạng lưới hệ thống cấp nước sạch cho hoạt động và sinh hoạt. – Bằng nhiều giải pháp để xử lý việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn, xoá hộ đói, giảm tỷ suất nghèo ; – Tăng cường công tác làm việc giáo dục giảng dạy, nâng cao trình độ học vấn cho mọi những tầng lớp dâncư. – Bảo vệ môi trường sinh thái, ngăn ngừa nạn phá rừng, có chủ trương kêu gọi nhân dânvà những thành phần kinh tế tài chính tích cực ; khoanh nuôi, tái sinh, bảo vệ và trồng rừng, tăng tỷ suất chephủ của rừng. – Nâng cao năng lượng, hiệu suất cao đánh bắt cá thủy, món ăn hải sản, chú trọng thâm canh và đẩy mạnhnuôi trồng thủy hải sản Giao hàng xuất khẩu, phấn đấu để sớm đứng vào hàng ngũ những quốcgia có sản lượng thủy, món ăn hải sản lớn trong khu vực và quốc tế. – Thực hiện tốt quy định dân chủ, bảo vệ không thay đổi chính trị xã hội và thiết kế xây dựng nếp sốngvăn minh ở nông thôn – Quy hoạch, tái tạo thiết kế xây dựng, tăng cấp và hiện đại hóa những khu dân cư nông thôn. 19II. Định hướng tăng trưởng nông nghiệp, nông thôn Việt Nam1. Thực hiện có hiệu suất cao việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nôngthôn theo hướng đẩy nhanh chuyển dời cơ cấu tổ chức ngành nghề, cơ cấu tổ chức lao động, hình thànhnền công nghiệp hóa lớn tương thích với nhu yếu thị trường và điều kiện kèm theo sinh thái xanh của từngvùng. Đưa nhanh văn minh khoa học và công nghệ tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp đạt mức trung bìnhtiên tiến trong khu vực về trình độ công nghệ tiên tiến và về giá trị ngày càng tăng trên một đơn vị chức năng diện tích quy hoạnh. Tăng hiệu suất lao động, nâng cao chất lượng, lan rộng ra mẫu sản phẩm tiêu thụ nông sản trong vàngoài nước. Đẩy mạnh điện khí hóa, cơ giới hóa ở nông thôn. Tăng góp vốn đầu tư kiến thiết xây dựng cấu trúc hạtầng kinh tế tài chính xã hội nông thôn, thiết kế xây dựng đời sống văn minh, dân chủ, công minh ở nông thôn. Tuy nhiên, để triển khai được khuynh hướng này Nhà nước phải có chủ trương tương hỗ vàđộng viên sự tham gia của toàn xã hội, bảo vệ tăng trưởng hài hoà giữa kinh tế tài chính, xã hội, bảo vệmôi trường, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá làng, xã Nước Ta theo hướng : • Công nghiệp tương hỗ nông nghiệp ; • Đô thị thôi thúc nông thôn ; • Doanh nghiệp tác động ảnh hưởng và tương hỗ nông dân ; • Khoa học – công nghệ tiên tiến tác động ảnh hưởng và làm đổi khác phong tục, tập quán và phương pháp sảnxuất. 2. Xây dựng hài hòa và hợp lý cơ cấu tổ chức sản xuất nông nghiệp. Muốn thiết kế xây dựng hài hòa và hợp lý cơ cấu tổ chức sản xuất nông nghiệp cần quan tâm tới những phương hướng sau : – Quy hoạch tương thích và không thay đổi những vùng sản xuất lương thực, nâng cao giá trị và hiệuquả xuất khẩu gạo, có chủ trương bảo vệ quyền lợi của người sản xuất lương thực. Trên cơ sở chuyển một bộ phận nông nghiệp sang những ngành nghề khác, từng bước tậptrung ruộng đất tăng quỹ đất canh tác cho lao động nông nghiệp, tăng việc làm và thu nhập củadân cư nông thôn. Giá trị sản lượng nông nghiệp tăng trung bình hàng năm khoảng chừng 4 – 5 %. Mức xuất khẩugạo hàng năm đạt 4 triệu tấn. Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP khoảng chừng 16 – 17 % ; tỷ trọng ngành chăn nuôi trong tổnggiá trị sản xuất nông nghiệp tăng 25 %. Thủy sản đạt sản lượng 3,0 – 3,5 triệu tấn. Bảo vệ 10 triệu ha rừng tự nhiên, triển khai xong trồng mới 5 triệu ha rừng. Kim ngạch xuất khẩu nông lâm, thủy hải sản đạt khoảng chừng 3,5 tỷ USD ( năm 2008, 2009 xuất khẩu thủy hải sản đạt 4,5 tỷ USD ). 20 – Phát triển những vùng cây công nghiệp phân phối nhu yếu nguyên vật liệu cho công nghiệpvà xuất khẩu, hình thành những vùng cây ăn quả có giá trị cao, khai thác tiềm năng rau quả vụđông, tăng trưởng những cơ sở dữ gìn và bảo vệ và chế biến. VD : Các cây có giá trị xuất khẩu và làm nguyên vật liệu cho công nghiệp tất cả chúng ta cầnphải tăng trưởng đó là : Bông, dâu tằm, cao su đặc, cafe, hạt điều, mía, lạc, … – Phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu suất cao chăn nuôi gia súc, gia cầm ; tăng tỷ trọngngành chăn nuôi trong nông nghiệp. – Phát huy lợi thế của ngành thủy hải sản tạo thành một ngành xuất khẩu mũi nhọn, vươn lênhàng đầu trong khu vực. Phát triển mạnh nuôi trồng thủy hải sản theo hướng thâm canh, giữ gìnmôi trường sông, nước và biển, bảo vệ sự tái tạo và tăng trưởng nguồn lợi thủy hải sản. – Phát triển tài nguyên rừng, nâng độ bao trùm của rừng ; phối hợp lâm nghiệp với nôngnghiệp để định canh, định cư, không thay đổi và cải tổ đời sống nhân dân miền núi. Đẩy mạnhtrồng rừng kinh tế tài chính, tạo nguồn gỗ nguyên vật liệu cho công nghiệp như : Làm giấy, đồ gỗ gia dụngvà mỹ nghệ xuất khẩu, … 3. Tăng tiềm lực khoa học và công nghệ tiên tiến trong nông nghiệp, đưa nhanh công nghệmới vào sản xuất, thu hoạch, dữ gìn và bảo vệ, chế biến. Nâng cao năng lượng quản lý và chuyênmôn của cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư. Ứng dụng công nghệ sạch trong nuôi, trồng và chế biến rau quả, thực phẩm, … Công nghệsinh học trong lai tạo, sản xuất giống, trình độ thâm canh, … 4. Hoàn thiện về cơ bản mạng lưới hệ thống thủy lợi ngăn mặn, giữ ngọt, trấn áp lũ, tưới tiêuđảm bảo an toàn, không thay đổi cho sản xuất nông nghiệp và đời sống nông dân. Đối với nhữngkhu vực thường bị bão lũ, cùng với những giải pháp hạn chế tác hại của thiên tai, phải điềuchỉnh quy hoạch sản xuất và dân cư thích nghi với điều kiện kèm theo vạn vật thiên nhiên. 5. Hình thành những khu vực tập trung chuyên sâu công nghiệp, những điểm công nghiệp, những làngnghề với công nghệ tiên tiến thích hợp gắn với thị trường trong nước và xuất khẩu. Thu hút đầutư của mọi thành phần kinh tế tài chính vào việc tăng trưởng công nghiệp và dịch vụ nông thôn. 6. Quy hoạch, thiết kế xây dựng và tái tạo những điểm dân cư nông thôn ; 7. Xây dựng kiến trúc nông thôn đồng nhất và ngày càng văn minh. III. Chính sách về tăng trưởng nông nghiệp, nông thônChính sách tăng trưởng nông nghiệp, nông thôn là những giải pháp kinh tế tài chính và giải pháp kháccủa Nhà nước ảnh hưởng tác động đến nông nghiệp, nông thôn và những ngành, nghành nghề dịch vụ có tương quan trực21tiếp đến nông nghiệp, nông thôn nhằm mục đích đạt được những tiềm năng đặt ra trong tăng trưởng kinh tếxã hội. 1. Vai trò của chủ trương nông nghiệp, nông thôn. – Chính sách nông nghiệp, nông thôn là mặt hầu hết tạo lập những môi trường tự nhiên pháp lý vàkinh tế để khuyến khích nông nghiệp, nông thôn tăng trưởng tương thích với tiềm năng phát triểnnông nghiệp, nông thôn trong từng tiến trình ; + Nó là môi trường tự nhiên pháp lý trong việc khuyến khích khai thác tiềm năng đất đai, sức laođộng và những yếu tố tự nhiên thuận tiện để tăng trưởng nông nghiệp và kinh tế tài chính nông thôn ; + Nó là môi trường tự nhiên pháp lý cho việc tăng trưởng những thành phần kinh tế tài chính nhằm mục đích khai thác cácthành phần kinh tế tài chính nông thôn. – Điều tiết, hạn chế sự tăng trưởng không tương thích ; xóa bỏ những khuynh hướng tăng trưởng mangtính xấu đi và hạn chế mặt xấu đi của kinh tế thị trường ; + Hạn chế sự tăng trưởng tự phát của nuôi trồng thủy hải sản dẫn đến phá hoại môi trường tự nhiên ; + Hạn chế và phá bỏ việc trồng cây thuốc phiện gây nên tệ nạn xã hội ; – Điều tiết những mối quan hệ trong nông nghiệp, nông thôn và giữa những vùng trong nôngthôn ; + Chính sách khuyến khích tăng trưởng chăn nuôi trong mối đối sánh tương quan với trồng trọt ; + Phát triển ngành nghề trong mối đối sánh tương quan với nông nghiệp ; + Ưu tiên góp vốn đầu tư hạ tầng bằng nguồn vốn ngân sách cho những vùng đặc biệt quan trọng khó khăntrong mối đối sánh tương quan với những vùng nông thôn khác … – Phát huy vai trò dân chủ, tích hợp giữa tăng trưởng nông nghiệp với kinh tế tài chính, văn hóa truyền thống, xãhội nông thôn, kiến thiết xây dựng nông thôn mới ; 2. Đặc điểm của chủ trương nông nghiệp, nông thôn : – Phần lớn là mang tính tương hỗ vì nông nghiệp, nông thôn là nghành có điều kiện kèm theo sản xuấtkhó khăn hơn, nhờ vào nhiều vào những điều kiện kèm theo tự nhiên ; – Chính sách nông nghiệp, nông thôn có tính vùng, tính khu vực rõ ràng ; Cũng là tiềm năng khai thác đất hoang hóa nhưng đất hoang hóa ở vùng Trung du và Miềnnúi khác với đất hoang hóa vùng bãi bồi ven sông, ven biển. Vì thế, Nhà nước có QĐ 327 vớikhai thác đất trống đồi núi trọc và QĐ 773 với khai thác đất bãi bồi, ven sông, ven biển. – Chính sách nông nghiệp, nông thôn có cả tính kinh tế tài chính và tính phi kinh tế ; 22 – Việc tổ chức triển khai tiến hành văn bản chủ trương nhờ vào vào những đặc thù tâm ý, tập quáncủa người nông dân, của nguồn lao động nông thôn ; Điều kiện, dân trí ở nông thôn thấp ; Hoạt động nông nghiệp chịu sự ảnh hưởng tác động nhiều củacác điều kiện kèm theo tự nhiên đã tạo tâm ý thực dụng của người nông dân. Do đó, chủ trương tác độngđến nông dân phải có những giải pháp tổ chức triển khai thích hợp mới mang lại hiệu suất cao cao. 3. Một số chủ trương tăng trưởng nông nghiệp, nông thôn. 3.1. Chính sách đất đai. Chính sách đất đai trong tăng trưởng nông nghiệp, nông thôn là toàn diện và tổng thể những giải pháp kinhtế và phi kinh tế của Nhà nước ảnh hưởng tác động đến quy trình hoạt động của đất đai và tạo lập những môitrường cho đất đai hoạt động nhằm mục đích khai thác đất đai một cách rất đầy đủ, hài hòa và hợp lý và có hiệu suất cao, gắn khai thác sử dụng với bảo vệ, nâng cao chất lượng đất đai Giao hàng cho sản xuất kinh doanhnông nghiệp và tăng trưởng kinh tế tài chính nông thôn. * Chính sách đất đai có vị trí quan trọng nhất trong tăng trưởng nông nghiệp, nôngthôn : – Nó là cơ sở pháp lý để quản lý, bảo vệ đất nông nghiệp – Tư liệu sản xuất trong sản xuấtnông nghiệp ; – Nó là cơ sở tạo quỹ đất đai cho thiết kế xây dựng mạng lưới hệ thống hạ tầng, những cơ sở kinh tế tài chính của cácngành phi nông nghiệp. * Vai trò của chủ trương đất đai trong tăng trưởng nông nghiệp, nông thôn – Chính sách đất đai hài hòa và hợp lý sẽ tạo động lực cho việc sử dụng có hiệu suất cao đất đai. – Chính sách đất đai hài hòa và hợp lý là động lực thôi thúc quy trình quy đổi cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính nôngnghiệp, nông thôn ; Khi Nhà nước khuyến khích và tương hỗ nông dân, ngư dân, diêm dân, người làm nghề rừngthực hiện quy hoạch đất đai, tập trung chuyên sâu đất đai hình thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung chuyên sâu ; khuyến khích tăng trưởng 1 số ít ngành hàng có tiềm năng ; tăng trưởng cây ăn quả, chăn nuôi giasúc, gia cầm, nuôi trồng thuỷ sản Công việc này chính là để quy đổi cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính nôngnghiệp, nông thôn ; – Chính sách đất đai có vai trò quan trọng trong quy trình chuyển nền nông nghiệp nước tasang sản xuất sản phẩm & hàng hóa. Việc dồn điền đổi thửa, tạo những môi trường tự nhiên kinh tế tài chính cho chuyển nhượng ủy quyền đất đai hợp pháp, … tạo điều kiện kèm theo cho việc đưa KHCN và máy móc vào sản xuất những loại cây con có giá trị kinhtế cao, thị trường tiêu thụ tốt. 23H ệ thống chủ trương pháp lý đất đai trong những năm qua không ngừng được hoàn thiệnđã tạo môi trường tự nhiên pháp lý tốt cho người nông dân và những thành phần kinh tế tài chính yên tâm đầu tưphát triển kinh tế tài chính nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, để phát huy vai trò của đất đai đối pháttriển nông nghiệp, nông thôn thì chủ trương đất đai cần phải bảo vệ những tiềm năng : – Khuyến khích việc sử dụng đất đai một cách vừa đủ, tiết kiệm chi phí và có hiệu suất cao ; – Gắn việc sử dụng với việc bảo vệ thiên nhiên và môi trường đất, tái tạo, Phục hồi chất lượng đất đai, không làm tổn hại đến quyền lợi chính đáng của người sử dụng đất xung quanh và hạn chế sự tácđộng của đổi khác khí hậu đến nguồn tài nguyên đất ; – Nâng cao hiệu suất cao sử dụng đất trải qua việc khuyến khích quy đổi cơ cấu tổ chức câytrồng, vật nuôi và quy trình tích tụ đất đai trải qua quy đổi, chuyển nhượng ủy quyền, cho thuê hìnhthành vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh theo hướng CNH – HĐH nông nghiệp, nôngthôn để đưa ra những loại sản phẩm nông nghiệp sạch cung ứng thị trường tiêu thụ ngày càng tân tiến. Để thực thi được những tiềm năng đã đề cập, những chủ trương đất đai cần tập trung chuyên sâu vào cácvấn đề : – Đảm bảo những quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất nông – lâm – ngư – diêm nghiệp. Đây làđặc điểm cơ bản nhằm mục đích mục tiêu gắn người sử dụng với đất đai, gắn việc khai thác với bảo vệmôi trường đất, nâng cao chất lượng đất đai, bộc lộ : + Nhà nước giao đất, cho thuê đất để những tổ chức triển khai cá thể không thay đổi lâu dài hơn. Nhà nước địnhgiá đất công khai minh bạch địa thế căn cứ vào từng loại đất, từng vùng và mức độ góp vốn đầu tư thiết kế xây dựng cấu trúc hạtầng làm cơ sở để kiến thiết xây dựng chủ trương chuyển nhượng ủy quyền quyền sử dụng đất, mức độ đền bù khithu hồi, thế chấp ngân hàng khi vay vốn, … ( Nghị định số 64 / NĐ – CP ngày 27/9/1993 phát hành quy địnhvề việc giao đất nông nghiệp cho hộ mái ấm gia đình, cá thể sử dụng không thay đổi vĩnh viễn vào mục đíchsản xuất nông nghiệp ; Thông tư 14 ngày 01/10/2009 lao lý cụ thể về bồi thường, tương hỗ, táiđịnh cư và trình tự, thủ tục tịch thu đất, giao đất, cho thuê đất ; ) + Được cấp giấy ghi nhận quyền sử dụng đất ; + Hưởng thành quả lao động, hiệu quả góp vốn đầu tư trên đất ; + Hưởng những quyền lợi do khu công trình của Nhà nước về bảo vệ, tái tạo đất nông nghiệp ; + Được Nhà nước hướng dẫn và giúp sức trong việc tái tạo, bồi bổ đất nông nghiệp ; + Được Nhà nước bảo lãnh khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp phápcủa mình ; + Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp củamình và những hành vi khác vi phạm pháp lý về đất đai ; 24 + Quyền quy đổi, chuyển nhượng ủy quyền, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, khuyến mãi ngay cho quyền sửdụng đất ; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất ; quyền được bồi thườngkhi Nhà nước tịch thu đất. – Xác định thời hạn giao đất, cho thuê đất một cách tương thích và linh động để người dânyên tâm góp vốn đầu tư tái tạo đất ; – Quy định mức hạn điền hài hòa và hợp lý để kích thích sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuấthàng hóa ; – Quy định việc chuyển quyền thừa kế, chuyển nhượng ủy quyền đất nông nghiệp hài hòa và hợp lý tránh tìnhtrạng làm nhỏ lẻ, manh mún đất nông nghiệp gây khó khăn vất vả cho việc vận dụng khoa học kỹ thuậtvào sản xuất ; – Tạo điều kiện kèm theo về thiên nhiên và môi trường pháp lý và kinh tế tài chính gắn với đất đai được xác lập. Các vănbản pháp lý phải được lao lý đơn cử, rõ thẩm quyền về tổ chức triển khai triển khai và chế tài giải quyết và xử lý viphạm. Thanh tra, kiểm tra việc sử dụng đất phải được chú trọng và diễn ra tiếp tục, kếthợp với việc tạo điều kiện kèm theo về vốn vay, tương hỗ lan rộng ra sản xuất có hiệu suất cao ; – Kiểm soát, ngặt nghèo việc triển khai những lao lý về nghĩa vụ và trách nhiệm trong sử dụng đất nông – lâm – ngư – diêm nghiệp : + Sử dụng đất đúng mục tiêu, đúng ranh giới thửa đất, đúng pháp luật về sử dụng độ sâutrong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ những khu công trình công cộng trong lòng đất và tuântheo những lao lý khác của pháp lý ; + Đăng ký quyền sử dụng đất, làm rất đầy đủ thủ tục khi quy đổi, chuyển nhượng ủy quyền, chothuê, cho thuê lại, thừa kế, Tặng Kèm cho quyền sử dụng đất ; thế chấp ngân hàng, bảo lãnh, góp vốn bằng quyềnsử dụng đất theo pháp luật của pháp lý ; + Thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm kinh tế tài chính theo lao lý của pháp lý ; + Thực hiện những giải pháp bảo vệ đất ; + Tuân theo những pháp luật về bảo vệ môi trường tự nhiên, không làm tổn hại đến quyền lợi hợp phápcủa người sử dụng đất có tương quan ; + Tuân theo những lao lý của pháp lý về việc tìm thấy vật trong lòng đất ; + Giao lại đất khi Nhà nước có quyết định hành động tịch thu đất hoặc khi hết thời hạn sử dụng đất. – Tiếp tục thực thi việc giao đất, khoán rừng trong lâm nghiệp ; kiểm soát và điều chỉnh chính sáchkhuyến khích nhân dân tham gia bảo vệ rừng tự nhiên và tăng trưởng trồng rừng kinh tế tài chính và cấpgiấy ghi nhận quyền sử dụng đất lâu dài hơn, không thay đổi cho nông dân, xử lý dứt điểm nhữngtranh chấp và khiếu kiện về đất đai ; ( Luật bảo vệ và tăng trưởng rừng năm 2004 ; Nghị định số25