Tạo môi trường thúc đẩy nông nghiệp xanh ở Việt Nam

Nhiều nội hàm của nền nông nghiệp xanh đã được làm rõ tại toạ đàm khoa học : “ Kinh tế và kinh doanh thương mại nông nghiệp trong toàn cảnh lúc bấy giờ : Những yếu tố đặt ra ” do Đại học Kinh tế quốc dân tổ chức triển khai ngày 16/11/2021. Phát biểu tại tọa đàm, ông Lê Minh Hoan – Ủy viên T.Ư Đảng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn san sẻ về những thời cơ thôi thúc tăng trưởng xanh thích ứng với toàn cảnh mới. Để tăng trưởng nền nông nghiệp xanh thì Việt Nam cần chuyển từ tư duy “ sản xuất nông nghiệp ” sang tư duy “ kinh tế tài chính nông nghiệp ” ; chuyển từ theo đuổi giá trị ngày càng tăng sang vừa tạo ra giá trị ngày càng tăng, vừa giảm thiểu chi phí sản xuất, ngân sách xã hội, ngân sách môi trường tự nhiên.

Tạo môi trường thúc đẩy nông nghiệp xanh ở Việt Nam

Đặc biệt theo người đứng đầu ngành Nông nghiệp, cần mạnh dạn chuyển từ “ nền nông nghiệp sản lượng cao ” sang “ nền nông nghiệp công nghệ cao, sinh thái xanh, nghĩa vụ và trách nhiệm, bền vững và kiên cố ” ; chuyển từ “ chuỗi link đáp ứng nông sản ” sang “ chuỗi link giá trị ngành hàng ” ; chuyển từ “ tăng trưởng đơn ngành ” sang tiềm năng “ tăng trưởng tích hợp liên ngành ”, từ tiềm năng “ đơn giá trị ” sang tiềm năng “ tích hợp đa giá trị ”.

Bộ trưởng Hoan cũng chia sẻ, ngay giữa đợt dịch Covid-19, những dàn xe chở nông sản xuất hiện trên phố Hà Nội với biển hiệu “giải cứu nông sản” khiến ông rất trăn trở. Đích thân ông đã trao đổi với một số địa phương cùng các cơ quan truyền thông không dùng khái niệm “giải cứu” mà thay vào đó chuyển sang các slogan mà Bộ trưởng là tác giả như “Nâng niu giá trị nông sản Việt”, “Kết nối nông sản – san sẻ yêu thương – vượt qua đại dịch”.

“ Cần củng cố niềm tin xã hội so với nông sản Việt Nam nói riêng và loại sản phẩm kinh tế tài chính Việt Nam nói chung. Niềm tin xã hội cũng chính là nguồn vốn rất quý của tất cả chúng ta ” – ông Lê Minh Hoan nói.

Bên cạnh đó, ông Lê Minh Hoan nhấn mạnh cần chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp để hình thành hệ sinh thái kinh tế nông thôn; gắn kết chặt chẽ giữa nông nghiệp và công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ bằng các mô hình “cụm liên kết ngành trong nông nghiệp”, du lịch nông nghiệp nông thôn; khởi tạo chuyển đổi số một cách phù hợp trong nông nghiệp, nông dân; quản lý bài bản, khoa học các khâu canh tác, sản xuất, thu hoạch, phân phối.

Phân tích sâu khía cạnh phát triển chuỗi cung ứng xanh của một nền nông nghiệp xanh ở Việt Nam qua nghiên cứu ngành hàng thuỷ sản xuất khẩu ở Việt Nam, nhóm nghiên cứu của TS Tạ Văn Lợi, Viện trưởng Viện Thương mại và kinh tế quốc tế (ĐH Kinh tế quốc dân) cho biết, quá trình xanh hoá diễn ra thiếu đồng bộ trong chuỗi cung ứng xuất khẩu thuỷ sản ở Việt Nam. Nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy áp lực từ cộng động và định hướng môi trường của doanh nghiệp có tác động nhiều nhất đến việc thực hành chuỗi cung ứng xanh.

“ Để quy trình xanh hoá nông nghiệp ở Việt Nam cũng như xanh hoá chuỗi đáp ứng hang nông sản được diễn ra can đảm và mạnh mẽ, cần có sự vào cuộc của cả nhà nước, những hiệp hội, địa phương và doanh nghiệp chứ đây không phải việc riêng của doanh nghiệp ” – nhóm điều tra và nghiên cứu khuyến nghị. Tại toạ đàm, quan điểm 1 số ít chuyên viên cũng cho rằng, trong toàn cảnh tăng trưởng mới, ngành nông nghiệp cần tái cơ cấu tổ chức theo hướng khai thác tiềm năng và lợi thế ; trong đó, tập trung chuyên sâu liên kết chuỗi đáp ứng nông sản trong nước và quốc tế ; kiến thiết xây dựng tên thương hiệu nông sản và xác định giá trị của nông sản Việt trên thị trường nông sản quốc tế. Hình thành và kiến thiết xây dựng những khu nông sản đặc trưng, chuỗi hoa quả rực rỡ, tích hợp những lợi thế để tạo vị thế mới cho nông nghiệp. Đặc biệt theo quan điểm của tiến sỹ Nguyễn Quang Dũng, Trưởng Bộ môn Truyền thông ( Đại học Kinh tế quốc dân ), Việt Nam cần dữ thế chủ động có kế hoạch truyền thông online cho nông sản trong nước với những giá trị : minh bạch – nghĩa vụ và trách nhiệm – vững chắc. Bởi theo ông Dũng, trong toàn cảnh mới, những tên thương hiệu trong đó có tên thương hiệu nông sản nay đã được liên kết với những giá trị độc lạ thay cho việc tên thương hiệu chỉ liên kết với một giá trị nhất định .