Phẩm chất của người nông dân trong xã hội cũ

Văn mẫu lớp 9: Số phận và tính cách của nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn Lão Hạc thuộc bài viết số 7 lớp 9 đề 2. Mang tới dàn ý chi tiết cùng 13 bài văn mẫu, giúp học sinh lớp 9 ôn tập thật tốt môn Ngữ Văn lớp 9.

Nội dung chính

  • Số phận và tính cách của nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn Lão Hạc
  • Dàn ý số phận và tính cách nhân vật Lão Hạc
  • Bài văn mẫu Số phận và tính cách nhân vật Lão Hạc
  • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 1
  • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 2
  • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 3
  • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 4
  • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 5
  • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 6
  • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 7
  • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 8
  • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 9
  • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 10
  • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 11
  • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 12
  • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 13
  • Video liên quan

Lão Hạc với số phận xấu số, nghèo nàn nhưng vẫn sáng lên vẻ đẹp chất phác, hiền lành, nhân hậu, giàu lòng tự trọng. Vậy mời những em cùng theo dõi bài viết dưới đây của Download. vn để có thêm nhiều ý tưởng sáng tạo mới hoàn thành xong bài viết của mình :

Số phận và tính cách của nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn Lão Hạc

  • Dàn ý số phận và tính cách nhân vật Lão Hạc
  • Bài văn mẫu Số phận và tính cách nhân vật Lão Hạc
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 1
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 2
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 3
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 4
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 5
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 6
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 7
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 8
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 9
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 10
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 11
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 12
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 13

Dàn ý số phận và tính cách nhân vật Lão Hạc

I. Mở bài:

  • Cùng với Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng,… Nam Cao là một cái tên không thể thiếu khi nhắc tới những nhà văn hiện thực nhân đạo.
  • Các sáng tác của ông vừa rất mực chân thực, vừa có một ý vị triết lý mang ý nghĩa nhân bản sâu sắc.
  • Truyện ngắn “Lão Hạc” là một trong những tác phẩm tiêu biểu như thế!
  • Nhân vật Lão Hạc đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về một người nông dân hiền lành, chất phác, giàu lòng nhân ái, tự trọng đáng kính.

II. Thân bài:

1. Cuộc đời cảnh ngộ của Lão Hạc: Người nông dân nghèo khó, gặp nhiều bất hạnh:

  • Vợ mất sớm, nhà nghèo, con trai phẫn chí bỏ đi đồn điền cao su.
  • Sống cô đơn trong tuổi già, đối diện với nhiều rủi ro: ốm nặng, yếu, không có việc, hoa màu bị bão phá sạch.
  • Có con chó vàng làm bầu bạn nhưng phải bán đi vì cảnh nghèo.
  • Luôn canh cánh thương con, vì chưa lo được cho con trọn vẹn.
  • Cùng đường, phải tìm đến cái chết thương tâm.

2. Phẩm chất, nhân cách của Lão Hạc:

a. Giàu lòng nhân ái, có tấm lòng vị tha, nhân hậub. Là người cha vô cùng thương con, lo ngại cho conc. Giàu lòng tự trọng .

3. Cái chết của Lão Hạc: Là một biến cố điển hình để nhân vật bộc lộ tính cách điển hình:

  • Chết để tự giải thoát kiếp sống mòn.
  • Chết vì quá thương con, muốn giữ trọn vốn liếng cho con, giữ tiếng cho con.
  • Chết để tránh bị đẩy vào con đường tha hóa, biến chất.
  • Đau đớn tự trừng phạt vì đã bán con Vàng (đã đánh lừa nó)
  • Cái chết như một sự hi sinh tàn khốc vì tương lai, nó chứng tỏ sự bế tắc của hiện tại.
  • Minh chứng cho tấm lòng lương thiện.
  • Minh chứng cho nỗi bất hạnh và phẩm giá của người nông dân Việt Nam trước cách mạng.

4. Suy nghĩ, đánh giá về nhân vật:

  • Thương xót một con người bất hạnh.
  • Trân trọng lòng tự trọng đáng quý.
  • Yêu quý một con người giàu lòng nhân ái, yêu thương con.

III. Kết bài:

  • Nhân vật Lão Hạc là một thành công nghệ thuật của Nam Cao trong việc xây dựng hình tượng người nông dân trước cách mạng tháng Tám: nghèo khổ, giàu lòng thương con, chất phác, đôn hậu, giàu lòng tự trọng…
  • Nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật.
  • Cảm xúc của cá nhân (trân trọng, yêu quý nhân vật. Nhân vật đã để lại suy nghĩ gì cho bản thân?)

Bài văn mẫu Số phận và tính cách nhân vật Lão Hạc

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 1

Xuôi dòng văn học hiện thực Nước Ta những năm 1930 – 1945, nếu nói Ngô Tất Tố là cây cổ thụ khai sáng cho thể loại này thì Nam Cao lại chính là người đưa chúng đến đỉnh điểm nghệ thuật và thẩm mỹ. Để tạo ra sự sự thành công xuất sắc của Nam Cao, phải kể đến tác phẩm Lão Hạc đã khắc họa xuất sắc hình tượng người nông dân với số phận xấu số nhưng vẫn sáng ngời những phẩm chất tốt đẹp .Những năm nửa đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp cơ bản triển khai xong xong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Xã hội Nước Ta có nhiều dịch chuyển, chia thành nhiều giai cấp mà trong đó, khổ cực nhất vẫn là người nông dân. Cuộc sống làng quê bị bao trùm bởi cái đói, miếng ăn và nước mắt. Khi ấy, giữa những tiếng khóc oan trái kêu trời không thấu ấy, Nam Cao đã cất ngòi bút, nói hộ nỗi lòng và tình cảm biết bao nhiêu người dân bấy giờ. Tác phẩm Lão Hạc sinh ra trong thực trạng đó. Nhân vật lão Hạc được nhìn nhận và miêu tả qua cái nhìn và tấm lòng của nhân vật ông giáo .Trước hết, lão Hạc hiện lên với số phận bi đát, cuộc sống xấu số. Cũng như bao người nông dân khác, cuộc sống lão Hạc bị bủa vây bởi trong sự nghèo khó. Không có ruộng cày, hàng loạt gia tài của lão chỉ có con chó và một mảnh vườn. Nhưng mảnh vườn ấy cũng còm cõi, xơ xác, hoa màu chỉ đủ cho lão bòn mót. Cho nên lão phải làm thuê, làm mướn, đem sức mình đổi lấy miếng. Rồi sự túng quẫn ngày càng rình rập đe dọa lão. Sau một trận ốm lê dài hai tháng mười tám ngày, lão yếu đi ghê lắm, tiền bấy lâu nay tích góp đều hết sạch, lão lại không có việc làm. Rồi bão đến, phá sạch sành sanh hoa màu trong vườn, giá gạo thì cứ đẩy cao mãi lên. Cái đói, cái nghèo cứ đeo đẳng, để đến một lúc lão cũng phải thốt lên : Cái kiếp chỉ nhỉnh hơn kiếp một con chó .Đã nghèo, đời sống của lão Hạc còn bị bủa vây bởi số phận xấu số. Vợ mất sớm, lão một mình gà trống nuôi con. Nhưng sợi dây tình cảm ấy cũng không giữ được mãi. Chính cái nghèo đã khiến lão bó tay trước niềm hạnh phúc không thành của đứa con trai độc nhất. Cái nghèo không cho lão dựng vợ cho con để trọn đạo làm cha. Cũng do đó mà anh con trai phải bỏ đi đồn điền cao su đặc. Thế là cái nghèo cũng cướp luôn đứa con trai khỏi tay lão. Kể với ông giáo mà nước mắt lão ngân ngấn : Thẻ của nó, người ta giữ. Hình của nó, người ta chụp rồi. Nó lại đã lấy tiền của người ta. Nó là người của người ta rồi, chứ đâu còn là con tôi nữa ? Câu nói của lão đã nhói lên một nỗi đau bởi nó đã khái quát cả một đời người trong xã hội cũ. Anh con trai đi biền biệt, lão sống thui thủi một mình trong nỗi buồn ngày đêm chồng chất, chỉ có con Vàng làm bạn. Vậy mà tình cảnh thiếu thốn quẫn đã buộc lão phải chia tay với nó, chia ta với niềm vui, niềm an ủi ở đầu cuối của mình. Và có lẽ rằng đây cũng chính là khoảng thời gian ngắn đau đớn nhất của lão. Nỗi xấu số chưa dừng ở đó. Sau những ngày ăn khoai, củ chuối, sung luộc, đời sống bế tắc, cùng quẫn đã đẩy lão đến cái chết bằng bả chó. Cái chết vô cùng kinh hoàng và bi thảm : Lão Hạc đang vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xuề xòa, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, nẩy lên. Hai người đàn ông lực lưỡng phải ngồi đè lên người lão. Lão vật vã đến hai giờ đồng hồ đeo tay rồi mới chết. Lão đang ở đỉnh điểm của cuộc hành xác. Chính nghèo khó đã đẩy lão đến cái chết thảm khốc chưa từng thấy. Như vậy, không miêu tả quá nhiều, chỉ với một nét chấm phá đã đủ đặc tả đời sống thấm thía kiếp nghèo tủi nhục của người nông dân lớp bần cùng hóa. Hiện tại thì cùng quẫn, tương lai thì mịt mờ không lối thoát. Liệu còn gì đau khổ hơn, đen tối hơn những gì mà người nông dân xưa phải chịu ?Dù thực trạng cùng quẫn, số phận xấu số nhưng chính trong cảnh đời thê thảm ấy, ta thấy bừng sáng lên vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách cao quý của người nông dân xưa. Lão Hạc hiện lên là người nông dân giàu tình yêu thương con thâm thúy. Khi không đủ tiền cưới vợ cho con, lão thương con lắm nhưng biết làm thế nào được. Đó là tình yêu thương con đầy bất lực của người cha nghèo. Sau đó, anh con trai phẫn chí bỏ đi đồn điền cao su đặc. Một lần nữa, nỗi đau mất con của người cha chỉ biết khóc chứ còn biết làm thế nào nữa. Tiếng khóc của nỗi đau bất lực khi để đứa con tuột khỏi tay mình. Đến khi con đi, lão tự xóa đi quyền sở hữu của mảnh đất để làm thuê. Bởi lão nghĩ vườn của mẹ nó tậu thì nó hưởng. Đến cảnh nghèo nàn, lão vẫn nghĩ cho con : tiêu một xu cũng là tiêu vào tiền của cháu. Tiêu lắm chỉ tổ chết nó. Cũng vì con, lão đã bán đi đứa con niềm tin của mình – cậu Vàng đã sớm hôm bên cạnh. Để rồi sau cuối, lão đã tuyên sinh bằng bằng bả chó để bảo toàn niềm hạnh phúc cho đứa con, vì con. Không được học tập, không biết chữ nghĩa nhưng cái chết kinh hoàng của lão chính là vật chứng cảm động về tình phụ tự nguyên sơ, mộc mạc mà thiêng liêng nhường nào .Không chỉ là một người cha yêu thương con hết mực, lão còn là một người nông dân chất phác, hiền lành, nhân hậu. Đó là cái tình của lão so với cậu Vàng được ghi lại qua những con chữ xúc động. Lão gọi nó là cậu Vàng như bà mẹ khan hiếm gọi đứa con cầu tự, lão bắt rận, mắng yêu, tắm cho nó. Lão coi nó nhưng đứa cháu, bạn hiền trong nhà mà yêu dấu. Để rồi khi bán chó, lão chìm xuống đáy của bể thảm kịch. Lương tâm của ông lão đau nhói, lão đã khóc vì trót lừa một con chó : tôi già bằng này tuổi đầu mà còn đánh lừa một con chó. Phải có trái tim vô cùng nhân hậu và trong sáng thì ông lão mới bị dày vò đau đớn như vậy .Đặc biệt, dù là người nông dân nghèo, ở lão Hạc vẫn sáng ngời lòng tự trọng. Dù phải sống với cái đói gieo đói dắt, ăn những món ăn tự chế nhưng lão vẫn phủ nhận sự giúp sức của ông giáo gần như là hách dịch. Đó là một lão nông dân còn tiền nhưng lại gửi ông giáo để khi lão chết có tiền làm ma, không muốn làm phiền đến hàng xóm. Lòng tự trọng không được cho phép lão làm phiền đến người khác. Cuối cùng, lão phải quyên sinh bằng bả chó. Lòng tự trọng không được cho phép lão làm trái với lương tâm của mình : đói cho sạch, rách nát cho thơm. Không giàu sức mạnh phản kháng như chị Dậu nhưng sự phản kháng, đấu tranh với chính mình mới là đại chiến quyết liệt nhất. Cái đói khiếp thật, miếng ăn quý thật nhưng vì nó mà đánh đổi nhân cách thì thật đáng buồn. Lão đã chọn cái chết để bảo toàn nhân cách trong khi đã có biết bao nhiêu người ngã khuỵu trước miếng ăn : những Chí Phèo, Binh Tư, bà cái Tí, Đó chính là vẻ đẹp tiềm ẩn trong người dân nghèo .Như vậy, Nam Cao đã khắc họa thành công xuất sắc hình tượng lão Hạc qua thẩm mỹ và nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sinh động với những dòng trạng thái phức tạp, đối nghịch mà rất biện chứng. Cái mới của Nam Cao còn là đã học được ở phương Tây thẩm mỹ và nghệ thuật thiết kế xây dựng nhân vật nghịch dị có sự trái chiều với tính cách. Nhân vật lão Hạc được soi chiếu qua nhiều cái nhìn và góc nhìn khác nhau. Nam Cao còn gây ấn tượng bởi cách hòn đảo ngược dòng thời hạn kể. Qua hình tượng lão Hạc, Nam Cao đã khắc họa thành công xuất sắc những số phận đau khổ, xấu số trong xã hội cũ mà cội nguồn của nó chính là sự thối nát, bất công của xã hội cũ. Nhưng trong thực trạng ấy, họ vẫn sáng lên chất người. Chưa từng đọc sách thánh hiền, không được đi học nhưng cả cuộc sống và vẻ đẹp của họ chính là dẫn chứng cảm động và rất đầy đủ nhất về nhân cách con người. Đó chính là thái độ trân trọng, ngợi ca, niềm tin của tác giả dành cho người nông dân. Đó cũng chính là giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm .Ngày nay, đời sống nghèo nàn, buồn đau đã đi vào dĩ vãng. Nhưng mỗi lần đọc Lão Hạc ta càng thấy xót xa cho ông cha ta thuở trước, thêm tin yêu đời sống mới .

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 2

Nhắc đến Nam Cao – một cây bút hiện thực bậc thầy của văn học Nước Ta, tất cả chúng ta nghĩ ngay tới Chí Phèo nhưng nếu nói : Nam Cao nhà văn của tình thương, ta nghĩ ngay tới Lão Hạc. Số phận cuộc sống và vẻ đẹp, tính cách của Lão Hạc chính là thông điệp về tình thương của tác giả .Lão Hạc là một truyện ngắn xuất sắc của Nam Cao viết về người nông dân trong xã hội phong kiến cũ, đăng báo lần đầu năm 1943. Khi thực dân Pháp đã cơ bản hoàn thành xong xong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, đem đến nhiều đổi khác, dịch chuyển cho xã hội Nước Ta. Người nông dân trong xã hội phong kiến đã chẳng dễ sống nay còn phải chịu cảnh Một cổ hai tròng. Nhân vật chính câu truyện là người nông dân người cha góa vợ, chỉ còn đứa con trai và chú chó Vàng được đặt trong cái nhìn của ông giáo. Vì phẫn chí không có tiền lấy vợ mà con lão bỏ đi đồn điền cao su đặc, để lại mình lão với con chó. Lão coi Vàng như một người con trong nhà mà chăm nom nhưng mất mùa, rồi lại đói kém, nhịn ăn không được lão quyết định hành động bán Cậu Vàng và chọn cho mình cái chết vì không muốn phạm vào tiền để cho con. Câu chuyện là cái nhìn chân thực, đau đớn nhất về số phận bi thảm của người nông dân trong xã hội cũ, đồng thời làm sáng ngời vẻ đẹp của tình yêu thương, lòng tự trọng và tình người .Trước hết, Lão Hạc hiện lên là nạn nhân của cái nghèo, cái đói của xã hội cũ. Toàn bộ gia tài của người nông dân ấy chỉ có một mảnh vườn và con chó. Vì nghèo mà lão không có đủ tiền để lo đám cưới cho con, để đứa con phải phẫn chí đi làm xa. Cái nghèo khiến lão không làm tròn nghĩa vụ và trách nhiệm của một người cha cần phải làm. Cái nghèo bắt lão phải sống cảnh đơn độc, hiu quạnh trong tuổi xế chiều. Rồi cái đói ập đến, nó khiến lão phải sống khổ sở. Mảnh vườn thì còm cõi, xơ xác chỉ đủ cho lão bòn mót. Lão phải làm thuê, làm mướn để đổi lấy miếng ăn nhưng chẳng thể so với người trẻ. Rồi lại một trận ốm làm lão yếu đi ghê lắm. tiền lâu nay tích góp đều hết sạch. Cái nghèo, cái đói còn bủa vây khiến có lúc lão phải thốt lên rằng : Cái kiếp chỉ nhỉnh hơn kiếp một con chó .Lão Hạc còn là nạn nhân của những khổ đau. Vợ mất sớm, sợi dây tình cảm với người con trai cũng chẳng giữ được. Không thể làm tròn chức trách một người cha, để rồi mỗi lần nhắc về con là mỗi lần nước mắt lại rơi : Thẻ của nó, người ta giữ. Hình của nó, người ta chụp rồi. Nó lại đã lấy tiền của người ta. Nó là người của người ta rồi, chứ đâu còn là con tôi nữa ?. Chỉ còn mỗi con chó Vàng làm bạn, làm người thân trong gia đình. Nhưng còn gì đau đớn hơn khi phải bán đi chính thứ mình đã coi là một phần máu thịt, là con của mình. Đến cuối hành trình dài, vẫn là cái chết bi thảm và kinh hoàng : Lão Hạc đang vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xuề xòa, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, nẩy lên. Hai người đàn ông lực lưỡng phải ngồi đè lên người lão. Lão vật vã đến hai giờ đồng hồ đeo tay rồi mới chết. Lão đang ở đỉnh điểm của sự hành xác. Làm sao quên được cái chết đau đớn ấy, khác nào cái chết của một con vật ! Hiện tại thì tối tăm, tương lai thì sầm uất và bế tắc. Liệu còn khì khổ đau hơn những điều người nông dân xưa phải chịu ?Nhưng Nam Cao không phải chỉ là nhà hiện thực hờ hững, ông còn là sứ giả của tình thương. Ông đã dùng tấm lòng nhân đạo của mình để thấy được vẻ đẹp trong tính cách của Lão Hạc. Trước hết, đó là người cha giàu tình yêu thương con. Khi không đủ tiền để cưới vợ cho con : lão thương con lắm nhưng biết làm thế nào được. Câu nói đầy bất lực của một tấm lòng chan chứa yêu thương. Nhìn con trai phẫn chí bỏ đi đồn điền cao su đặc mà lão chỉ biết khóc chứ còn biết làm thế nào nữa. Tiếng khóc bất lực của người cha khi để con tuột khỏi tay mình. Ở nhà, lão tự tước đi quyền sở hữu mảnh đất. Bởi vườn của mẹ nó tậu thì nó hưởng và tiêu một xu cũng là tiêu vào tiền của cháu. Tiêu lắm chỉ tổ chết nó. Cũng cho nên vì thế mà lão đã bán đi đứa con niềm tin của mình – cậu Vàng. Để rồi, cái chết cuối truyện cũng chỉ là để bảo toàn niềm hạnh phúc cho đứa con. Không được học tập, cũng chẳng được dạy chữ nghĩa nhưng chính những điều lão làm là dẫn chứng cảm động nhất về tình phụ tử nguyên sơ, mộc mạc mà thiêng liêng .Lão Hạc còn là một người nông dân nghèo giàu lòng tự trọng. Đó là khi dẫu bị cái đói, cái nghèo làm khổ sở, phải ăn những món tự chế nhưng chưa một lần ông nhận sự trợ giúp của ai. Đó là khi còn tiền nhưng lão vẫn gửi tiền ông giáo để có tiền làm ma, để không phải làm phiền hàng xóm. Cái chết của lão cũng là dẫn chứng cho câu nói : đói cho sạch, rách nát cho thơm. Lòng tự trọng ấy, không cần phải kinh hoàng như sự phản kháng can đảm và mạnh mẽ của chị dậu nhưng lại là lòng tự trọng phải đánh đổi kinh hoàng nhất. Khi đứng trước miếng ăn, có những con người đã gục ngã : Binh Tư, bà cái Tí hay trượt dài trên con đường tha hóa : Chí Phèo thì Lão Hạc vẫn hoàn toàn có thể giữ vững mình trên bờ vực, trước ranh giới của sự tha hóa. Đó chính là vẻ đẹp, phẩm giá của con người Nước Ta, người nông dân Nước Ta .Đặc biệt, Nam Cao đã tò mò ở Lão Hạc một phẩm cách rất đặc biệt quan trọng, tính người và tính đồng loại. Với người khác, chó chỉ là một vật nuôi, vật trao đổi hay cùng lắm là một người bạn mua vui. Nhưng với lão, đó không đơn thuần như vậy. Lão gọi nó là cậu Vàng như bà mẹ khan hiếm gọi đứa con cầu từ, rồi lão bắt rận, mắng yêu nó, tắm cho nó. Và khi bán chó, lão chìm xuống đáy của thảm kịch. Lòng lão đau nhói, những giọt nước mắt như rỉ ra từ đó : những nếp nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra rồi lão hu hu khóc như con nít. Con người ta tự khi nào phân định mình tách biệt với tự nhiên, là bậc cao hơn với động vật hoang dã ? Chỉ có lão Hạc coi cậu Vàng như thể một sinh linh, một mạng sống. Những giọt nước mắt đưa con người về thời nguyên sơ, thuần khiết nhất, trở lại với bản tính của mình, hòa nhập cùng vạn vật thiên nhiên. Bởi thế, Nam Cao mới coi giọt nước mắt là giọt châu của loài người, biểu lộ tính người .Như vậy, bằng năng lực của một cây bút văn học trong việc xây dựng hình tượng nhân vật, tạo dựng chi tiết cụ thể và trường hợp giật mình, Nam Cao đã vẽ lên bức tranh số phận và vẻ đẹp của người nông dân trong xã hội đen tối qua hình ảnh cuộc sống lão Hạc. Bằng tác phẩm của mình, tác giả không chỉ tố cáo hiện thực mà còn bộc lộ tấm lòng nhân đạo của mình. Với ông, văn học chính là một mô hình của yêu thương mà mỗi tác giả phải là sứ giả của tình thương, mỗi tác phẩm là thông điệp của tình thương .Bởi những giá trị và tầm tư tưởng ấy, Lão Hạc chưa và không khi nào rời khỏi một góc yêu thương của người đọc mọi thế hệ .

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 3

Cùng với Nguyễn Công Hoan và Ngô Tất Tố, Nam Cao là tác giả tiêu biểu vượt trội của dòng văn học hiện thực phê phán, luôn hướng về người nông dân, phản ánh hiện thực đời sống của người nông dân trước Cách mạng. Truyện ngắn Lão Hạc là tác phẩm rực rỡ của Nam Cao, nó như một điểm son trong sự nghiệp sáng tác của ông .Nam Cao luôn trăn trở về số phận của người nông dân lương thiện trong xã hội phong kiến. Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên là chân dung của một lão nông Nước Ta đáng thương và đáng kính. Số phận của Lão Hạc thật đáng thương bởi cái nghèo nàn, túng thiếu. Vợ mất sớm, lão dồn tình thương nuôi con khôn lớn. Khi đứa con trai đến tuổi lấy vợ, lão tính chuyện cưới vợ cho con, nhưng vì nghèo túng mà người ta lại thách cưới nặng quá nên con trai không cưới được vợ. Thất vọng, đứa con bỏ nhà ra đi làm phu đồn điền ở Nam Kì. Khi con đi rồi, lão đơn độc, sống trong hiu quạnh. Bấy giờ, chỉ có con Vàng là nguồn vui của lão. Cậu Vàng được lão chăm nom chu đáo. Lão xem cậu Vàng như một đứa trẻ cần sự chăm nom, yêu thương. Lão nhân hậu ngay cả với con chó của mình. Tội nghiệp cho số phận ông lão. Cuộc đời túng quẫn, nghèo khó cứ đeo đẳng bên ông. Vợ chết để lại mảnh vườn ba sào, nhưng lão nhất quyết không bán dù cho nghèo khó. Lão tự bảo : Cái vườn là của con ta … của mẹ nó tậu thì nó được hưởng. Lão nghĩ vậy và làm đúng như vậy. Tất cả hoa lợi thu được lão bán để tích góp riêng chờ ngày con về cưới vợ. Cảm thương cho ông lão đã vò võ trông con về làng, lão chắc mẩm thế nào đến lúc con lão về cũng có được trăm đồng bạc. Nhưng kỳ vọng chẳng có, tuyệt vọng lại về, lão bị một trận ốm đúng hai tháng mười tám ngày, bao nhiêu vốn liếng tích góp được đều sạch nhẵn. Sau trận ốm, người lão yếu quá, không làm được việc nặng, việc nhẹ thì người ta tranh hết, lão phải cầm hơi qua ngày bằng củ chuối, củ ráy, con ốc, con trai …Vì không kiếm được tiền để sống, lại sợ tiêu lạm vào tiền của con nên lão quyết định hành động tìm đến cái chết. Lão chết để con lão khỏi trắng tay. Thật cảm động biết bao về tấm lòng yêu thương bát ngát và đức hi sinh cao quý của một người cha khốn khổ ! Số phận của lão thật bi thương. Nghèo đến nỗi phải bán đi con Vàng mà lão yêu thương, gắn bó. Kể lại việc bán chó với ông giáo, lão đau đớn xót xa : mặt lão đùng một cái rúm lại, những nếp nhăn xô lại với nhau ép cho nước mắt chảy ra, cái đầu ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít, lão hu hu khóc … lão khóc vì thương chó, và cảm thấy mình là kẻ lừa dối khi bán cậu Vàng. Số phận của lão thật bi thương nhưng lão không đánh mất phẩm giá của mình. Đến bước đường cùng lão luôn nghĩ đến con mà chẳng nghĩ đến mình. Lão đủ can đảm và mạnh mẽ để nghĩ đến chuyện kết thúc cuộc sống để không làm phiền đến ai. Lão phủ nhận mọi sự thương hại của người khác, mặc dầu đó là sự nuôi nấng chân tình. Ngay cả ông giáo, người hàng xóm thân thiện nhất và tin yêu nhất, ông cũng khước từ sự trợ giúp. Lão Hạc còn nghĩ đến cái chết không làm phiền lòng người khác. Lão nhịn ăn, tích góp được hai lăm đồng cộng với năm đồng bán chó, lão gửi ông giáo nhờ làm đám ma cho lão. Trước khi chết, lão còn nghĩ đến niềm hạnh phúc của con. Lão viết văn tự nhượng mảnh vườn cho ông giáo để không ai còn mơ tưởng, dòm ngó đến, khi nào con lão về thì sẽ nhận vườn làm. Tuy lão nghèo khó, lại bị xã hội bỏ rơi nhưng lão vẫn giàu đức hi sinh, giàu tình thương và giữ vững phẩm chất cao đẹp của mình .Hình ảnh Lão Hạc chết thật thê thảm. Lão mượn miếng bả chó để tự kết liễu đời mình. Tội nghiệp cho lão quá ! Lão vật vã trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xuề xòa, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra … Cái chết đau đớn của lão đã làm sáng tỏ thêm phẩm chất cao đẹp của người nông dân hướng thiện. Tuy sống trong cái xã hội đầy bóng tối, nhưng tâm lý lão vẫn sáng ngời, tính cách của lão thật cao quí. Cả đời lão nghèo khó nhưng không làm mất đi tấm lòng đôn hậu, trong sáng của mình .Với bút pháp miêu tả tâm lí nhân vật, xen kẽ tự sự, Nam Cao đã gợi cho ta niềm cảm thương vô hạn so với những người nông dân nghèo khó. Ngòi viết của Nam Cao là lời nói cảnh tỉnh về một xã hội thiếu công minh, không chăm sóc đến người nghèo, chà đạp lên số phận của con người lương thiện .

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 4

‘ ‘ Lão Hạc ” của Nam Cao ra đời bạn đọc năm 1943. Câu chuyện về số phận thê thảm của người nông dân Nước Ta trong toàn cảnh đe doạ của nạn đói và đời sống cùng túng đã để lại xúc động sâu xa trong lòng fan hâm mộ. Đặc biệt, tác giả đã diễn đạt tập trung chuyên sâu vào tâm trạng nhân vật chính Lão Hạc xoay quanh việc bán chó đã giúp ta hiểu thêm tấm lòng của một người cha đáng thương, một con người có nhân cách đáng quý và một sự thực phũ phàng phủ chụp lên những cuộc sống lương thiện .Con chó cậu Vàng như cách gọi của lão là hình ảnh kỷ niệm duy nhất của đứa con. Hơn thế, cậu Vàng còn là nguồn an ủi của một ông lão đơn độc. Lão cho cậu ăn trong bát, san sẻ thức ăn, chăm nom, trò chuyện với cậu như với một con người. Bởi thế, cái dự tính ‘ ‘ có lẽ rằng tôi bán con chó đấy ” của lão bao lần chần chừ không triển khai được. Nhưng rồi, ở đầu cuối cậu Vàng cũng đã được bán đi với giá năm đồng bạc .Cậu Vàng bị bán đi ! Có lẽ đó là quyết định hành động khó khăn vất vả nhất đời của lão. Năm đồng bạc Đông Dương kể ra là một món tiền to, nhất là giữa buổi cái đói bám. Nhưng lão bán cậu không phải vì tiền, bởi gạo thì cứ kém mãi đi mà một ngày lo ba hào gạo thì lão không đủ sức. Cậu Vàng trở thành gánh nặng, nhưng bán cậu rồi lão lại đau khổ dày vò chính mình trong tâm trạng nặng trĩu .Khoảnh khắc lão cố làm ra vui tươi cũng không giấu được khuôn mặt cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước. Nỗi đau đớn cố kìm nén của Lão Hạc như cắt nghĩa cho việc làm bất đắc dĩ, khiến ông giáo là người được báo tin cũng không tránh khỏi cảm xúc ái ngại cho lão. Ông giáo hiểu được tâm trạng của một con người phải bán đi con vật bầu bạn trung thành với chủ của mình. Cảm giác ân hận theo đuổi dày vò lão tạo nên đột biến trên khuôn mặt : Mặt lão đùng một cái co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc …. Những tâm lý của một ông lão suốt đời sống lương thiện hoàn toàn có thể làm người đọc phải chảy nước mắt theo : ‘ ‘ Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó “. Bản chất của một con người lương thiện, tính cách của một người nông dân bần hàn mà nhân hậu, tình nghĩa, trung thực và giàu lòng vị tha được thể hiện vừa đủ trong đoạn văn đầy nước mắt này. Nhưng không chỉ có vậy, Lão Hạc còn trải qua những cảm xúc chua chát tủi cực của một kiếp người, ý thức về thân phận của một ông lão nghèo khó, đơn độc cũng từ liên tưởng giữa kiếp người kiếp chó : ‘ ‘ Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hoá kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút ít … kiếp người như kiếp tôi ví dụ điển hình “. Suy cho cùng, việc bán chó cũng xuất phát từ tấm lòng của một người cha thương con và luôn lo ngại cho niềm hạnh phúc, tương lai của con. Tấm lòng ấy đáng được trân trọng ! Hiện thực thật nghiệt ngã đã dứt đứa con ra khỏi vòng tay của lão, cái đói cái nghèo lại liên tục cướp đi của lão người bạn cậu Vàng. Bản thân lão như bị dứt đi từng mảng sự sống sau những biến cố, dù cho cố cười gượng ” một cách khó khăn vất vả nhưng lão có vẻ như đã nhìn thấy trước cái chết của chính mình. Những lời gửi gắm và món tiền trao cho ông giáo giữ hộ sau lúc bán chó có ngờ đâu cũng là những lời trăng trối .Kết cục số phận của Lão Hạc là cái chết được báo trước nhưng vẫn khiến mọi người giật mình, thương cảm. Quyết định kinh hoàng tìm đến cái chết bằng bả chó là giải pháp duy nhất so với Lão Hạc, để lão đứng vững trên bờ lương thiện trước vực sâu tha hoá. Kết thúc thảm kịch cũng là thật sự chấm hết những dằn vặt riêng tư của Lão Hạc, nhưng để lại bao suy ngẫm về số phận những con người nghèo nàn lương thiện trong xã hội cũ .

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 5

Viết về số phận của người nông dân trước cách mạng tháng 8, Lão Hạc là một truyện ngắn rực rỡ của Nam Cao. Truyện ngắn chứa chan tình người, lay động bao nỗi xót thương trước cuộc sống xấu số và cái chết đau đớn của một lão nông dân nghèo nàn. Nhân vật Lão Hạc đã để lại cho tất cả chúng ta bao ám ảnh về số phận của con người, đặc biệt quan trọng là người nông dân trong xã hội cũ .Lão Hạc cũng như hàng triệu người nông dân xưa đều chịu chung thực trạng xấu số, nhưng trong đó điển hình nổi bật lên một phẩm chất tốt đẹp, đáng quý, đáng trân trọng. Lão Hạc – một con người nghèo nàn, xấu số. Ba sào vườn, một túp lều tranh vách nát, một con chó vàng là gia tài, vốn liếng duy nhất của lão. Vợ Lão Hạc mất sớm, sống trong cảnh gà trống nuôi con. Con trai lão không đủ tiền cưới vợ nên buồn chán, phẫn chí đi làm phu đồn điền cao su đặc, đã 5, 6 năm biền biệt chưa về. Vậy nên dân ta thường có câu ” Cao su đi dễ, khó về ” là vậy. Tuổi già cô quạnh, xấu số ngày càng chồng chất. Lão Hạc bị ốm một trận thập tử nhất sinh mà không một người thân trong gia đình bên cạnh đỡ đần, chăm nom một bát cháo một chén thuốc khi ốm đau bệnh tật. Hoàn cảnh của Lão Hạc thật đáng thương. Sau trận bão, vườn tược, hoa màu bị phá sạch. Làng bị thất nghiệp nhiều, trong đó có Lão Hạc vì lão trở nên yếu hẳn sau khi ốm dậy, không ai còn muốn thuê lão làm nữa. Lão với cậu Vàng – con chó mà người con trai trước khi đi đã để lại cho lão, ẩm thực ăn uống mà vẫn đói deo, đói dắt, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. ” Nhưng đời người ta không chỉ đau khổ một lần “. Ông giáo đã nói với Lão Hạc như vậy trước dự tính bán chó của lão. Vì cậu vàng ăn nhiều mà Lão Hạc không đủ năng lực nuôi dưỡng nó nữa. Bán cậu vàng, lão như bị đẩy sâu xuống bờ vực thẳm, cảm thấy mình ích kỉ, tệ bạc, già rồi mà còn đánh lừa một con chó. Đói khổ, túng thiếu, đơn độc thêm nặng nề. Lão Hạc chỉ ăn khoai, củ chuối, củ ráy, sung luộc, vài bữa trai ốc cho qua ngày. Để rồi sau cuối lão phải quyên sinh bằng bả chó, một cái chết đau đớn, thê thảm : đầu tóc rũ rượi, mắt long sòng sọc tru tréo, bọt mép sùi ra, vật vã hai giờ đồng hồ đeo tay mới chết. Một cái chết thật kinh hoàng. Số phận một con người, một kiếp người như Lão Hạc thật đáng thương. Ôi ! Bao niềm xót xa, thương cảm so với những con người nghèo khó, bế tắc phải tìm đến cái chết như Chí Phèo tự sát bằng mũi dao, Lang Rận thắt cổ tự tử và Lão Hạc đã kết thúc cuộc sống mình bằng bả chó. ” Nếu kiếp người đau khổ nốt thì ta nên làm gì cho thật sướng “. Câu nói đó đã biểu lộ cái đau khổ tột cùng của Lão Hạc .Nhưng Lão Hạc có bao phẩm chất tốt đẹp, là một con người hiền lành, chất phác, nhân hậu, là một người cha có nghĩa vụ và trách nhiệm. Lão đau đớn khi đứa con trai độc nhất đi phu đồn điền cao su đặc và lão khóc ” Hình của nó người ta giữ, ảnh của nó người ta chụp, nó là con người ta rồi chứ đâu phải con tôi “. Ba sào vườn là của vợ lão đã thắt lưng buộc bụng để lại trước khi mất. Lão thà chết chứ không chịu bán đi một sào, nhất quyết để lại cho đứa con, một sự hi sinh thầm lặng to lớn, toàn bộ vì con, mãi dành cho con những gì tốt nhất của cuộc sống. Lòng nhân hậu của lão được biểu lộ thâm thúy so với con chó vàng. Chính nó là chỗ dựa ý thức, là niềm an ủi, nguồn động viên, khuyến khích lão trong những tháng ngày đơn độc, vô vọng nhất. Lão coi nó như đứa con, đứa cháu, như một thành viên trong mái ấm gia đình. Lão cho nó ăn cơm trong bát sứ như nhà giàu, lão bắt rận, tắm rửa cho nó. Lão trò chuyện với nó ” Cậu vàng của ông ngoan lắm, ông để ông nuôi … “, lão ăn gì cũng cho cậu vàng ăn. Và cậu vàng đã góp thêm phần toả sáng tâm hồn và làm sáng lên bản tính tốt đẹp của lão, nó là một phần của cuộc sống lão. Vậy nên sau khi bán chó, lão đã tự tử cũng chính bằng bả chó như để tự trừng phạt mình .Và Lão Hạc là một nông dân nghèo khó nhưng trong sáng, giàu lòng tự trọng. Dù có đói khổ, túng thiếu, dù phải ăn củ chuối hay sung luộc nhưng khi ông giáo mời ăn khoai, uống trà thì lão cười hiền hậu bảo để khi khác. Dù ông giáo có ngấm ngầm giúp sức nhưng lão đã phủ nhận gần như là hách dịch. Sau khi bán chó, lão đau khổ, dằn vặt và vẫn luôn giữ nguyên mảnh vườn cho con trai. Lão gửi ông giáo 3 sào vườn và 30 đồng bạc phòng khi chết để không làm phiền tới láng giềng. Lão luôn sống theo quy tắc ” Đói cho sạch, rách nát cho thơm “. Nhà văn Nam Cao đã khôn khéo đưa Binh Tư – một kẻ chuyên đánh bả chó ở cuối truyện để làm điển hình nổi bật lòng tự trọng, trong sáng của lão nông dân bần hàn. Ông giáo đã nói ” Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không hiểu họ thì ta cho rằng họ gàn dở, ngu ngốc và bần tiện ” .Tóm lại cuộc sống Lão Hạc đầy nước mắt, đau thương. Sống thì đơn độc, xấu số, nghèo khó, chết thì quằn quại đau đớn. Lão Hạc cũng đại diện thay mặt cho số phận của bao người nông dân khác. Trong khổ đau, khó khăn, điển hình nổi bật lên một phẩm chất hiền lành, nhân hậu, chất phác và giàu lòng tự trọng. Nam Cao đã bộc lộ niềm cảm thông thâm thúy so với số phận xấu số của những người nông dân trước cách mạng tháng 8 .

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 6

Hình tượng người nông dân trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 được khai thác một cách thâm thúy và triệt để trong văn học. Qua những trang văn của những tác giả, những con người với số phận xấu số nhưng ngời sáng những phẩm chất cao quý được bộc lộ một cách rõ nét. Nếu Ngô Tất Tố thành công xuất sắc với việc khắc họa hình tượng nhân vật chị Dậu, một người phụ nữ yêu chồng thương con, giàu đức hi sinh nhưng cũng có những phút giây vùng lên để chống lại cái xấu, cái ác trong ” Tắt đèn ” thì Nguyễn Công Hoan lại kiến thiết xây dựng hình ảnh một anh Pha dám vùng lên đánh trả lại bọn cường hào ác bá trong ” Bước đường cùng “. Và Nam Cao với hình tượng nhân vật lão Hạc trong tác phẩm cùng tên đã khắc họa thành công xuất sắc hình tượng người nông dân với số phận bần hàn, nghèo khó nhưng lương thiện, chất phác và rất giàu lòng tự trọng .

Lão Hạc có số phận bất hạnh vô cùng.Sự khổ đau, bất hạnh của lão thể hiện ngay từ hình dáng đến cuộc sống của lão. Một ông lão già nua, bất hạnh vì phải chịu cảnh cô đơn, bệnh tật lại nghèo đói. Hoàn cảnh của lão Hạc vô cùng cực khổ.Vợ lão chết sớm, lão phải lâm vào tình cảnh gà trống nuôi con. Vậy nhưng con trai lão cũng bỏ lão mà đi làm tại đồn điền cao su. Lão Hạc cô đơn, buồn tủi với tuổi tác đã già chỉ biết bầu bạn với con chó Vàng. Chính hoàn cảnh khốn cùng ấy với hoàn cảnh neo đơn của lão đã khiến người đọc vô cùng xót xa, thương cảm. Lão coi Vàng như một đứa con, đứa cháu, một người ruột thịt của mình. Lão chia sẻ từng đồ ăn, thức uống, trò chuyện, tâm sự với nó như một con người. Lão Hạc vì bất đắc dĩ phải đành lòng bán đi cậu Vàng, cái tên thân thương mà lão dành cho con chó của mình. Lão vì thương con trai, không muốn tiêu phạm vào số tiền dành dụm cho con. Lão đã tính kĩ mỗi ngày cậu ấy ăn thế cũng mất hai hào. Mà cứ thế này thì lão không lấy tiền đâu mà nuôi được.Đối với lão, giờ đây, tiêu một xu cũng là tiêu vào tiền của con trai. Cảnh tượng lão Hạc chia tay với con chó Vàng vô cùng xúc động. Đọc đoạn văn ấy, người đọc rưng rưng xúc động, đồng cảm sâu sắc với lão Hạc. Nam Cao cũng đã vô cùng thành công khi miêu tả cảnh tượng ấy chỉ bằng những nét chấm phá trên gương mặt đau khổ của lão. Sau khi bán con chó đi, lão Hạc sang nhà ông giáo để chia sẻ. Dù lão cố làm ra vẻ bình thường nhưng không thể nào giấu đi được khuôn mặt biến dạng của con người già nua đầy đau khổ đó. Nam Cao đã vô cùng tinh tế khi miêu tả lại khuôn mặt ấy: “Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…”.Bán đi cậu Vàng, lão đau như cắt từng khúc ruột.Nhưng bởi hoàn cảnh sống, bởi tình thương yêu con vô bờ bến mà lão phải đưa ra quyết định ấy. Chính nỗi khổ tâm của người cha già luôn dằn vặt, đau đáu chuyện vì nghèo, vì khổ mà không cưới được vợ cho con, thêm nữa giờ đây cũng vì hoàn cảnh mà lão đối xử không đàng hoàng đối với một con chó. Lão nhờ ông giáo giữ lại hộ mảnh vườn để mai sau người con trai lão trở về sẽ có nhà để ở, có vườn ruộng làm ăn. Lão tự lo cho hậu sự của mình sau này, lão không muốn nhờ vả hay vay mượn bất cứ ai.

Cảnh sống nghèo khốn khó về vật chất và sự suy sụp về ý thức khiến cho lão Hạc kiệt sức. Lão rơi vào cảnh bần cùng hóa. Không kiếm được việc làm, lại không có đủ sức khỏe thể chất, đơn độc lạc lõng, lão sống vật vờ qua ngày với con ốc, con trai, củ khoai, củ ráy, sung luộc … Cái kết của câu truyện là một cái kết đầy đau xót so với fan hâm mộ. Lão Hạc đã tìm đến cái chết. Sau cùng, con người khốn khổ ấy cũng tìm cho mình một lối giải thoát. Hầu hết khi nghĩ đến việc tự tử, người ta thường nghĩ đến những việc làm sai lầm, xấu đi nhưng với lão Hạc, lão không nào có tội tình gì. Lão chết với lí do muốn giữ lại tiền cho con trai mình, không muốn nhờ vả liên lụy mọi người xung quanh. Cái chết của lão cũng thật đau đớn, xót xa : ” Lão Hạc đang vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xuề xòa, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, nảy lên “. Lão đã tự tử bằng thuốc chuột. Cho đến cuối đời, lão nông khốn khổ ấy vẫn đau đớn và xấu số vô cùng. Một con người, một số phận đầy đau thương .Lão Hạc là một trong những nhân vật nổi bật trong những sáng tác của Nam Cao. Chúng ta tự đặt ra câu hỏi : Phải chăng Nam Cao đã quá lãnh đạm với ngòi bút của chính mình ? Phải chăng số phận của những nhân vật trong những tác phẩm của Nam Cao lại đều đau thương đến vậy ? Thế nhưng ngẫm nghĩ lại, ta lại thấy đằng sau ngòi bút ấy là một tấm lòng chan chứa yêu thương. Càng viết, tác giả như càng muốn trình diện thực sự của chính sách phong kiến gian ác, chính sách đã đàn áp và đưa con người ta đến bước đường cùng. Vậy nhưng trong thực trạng sống khắc nghiệt ấy, những nhân vật của ông luôn ngời sáng lên vẻ đẹp niềm tin. Nhắc đến đây, ta lại nhớ đến nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao. Anh Chí ngật ngưỡng bước ra từ những trang sách của Nam Cao với sự đổi khác về cả nhân hình lẫn nhân tính nhưng có một khát khao lớn là muốn ” làm người “. Thế nhưng chính xã hội bất công ấy đày đọa con người ta đến bước đường cùng. Để rồi sau cuối phải tìm đến cái chết như một sự giải thoát .Có nhiều người cho rằng cách kết thúc tác phẩm của Nam Cao thường là ngõ cụt, mang tính xấu đi. Thế nhưng điều đó làm cho hiện thực đời sống được bộc lộ rõ hơn khi nào hết. Lão Hạc, một cuộc sống đầy nước mắt, khổ đau, bất lực cho đến lúc mất đi nhưng luôn giữ trong mình thực chất lương thiện, hiền lành, nhân hậu. Đó cũng chính là thông điệp mà Nam Cao muốn truyền đến fan hâm mộ về thực chất của văn chương trong những sáng tác của ông : ” Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và phát minh sáng tạo những cái gì chưa có ” .

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 7

Các tác phẩm về đề tài người nông dân trước Cách mạng tháng Tám đã lên án nóng bức xã hội thối nát thời xưa, một xã hội điêu tàn, vô lương, luôn luôn dồn ép những người dân vô tội vào cảnh bần cùng khốn khổ. Đồng thời, những câu truyện cũng ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp, đáng quý của họ. Truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao là một trong những tác phẩm thành công xuất sắc nhất của đề tài này .Ngay từ nhan đề của truyện đã giúp ta biết rằng nhân vật chính của câu truyện là một ông cụ. Sự thực đã là như vậy, câu truyện là cuộc sống của một cụ già vô cùng khắc khổ. Lão khắc khổ từ hình dáng đến số phận của mình. Đó là một ông lão già nua, xấu số vì đơn độc, bệnh tật lại luôn bị sự đói nghèo dằn vặt. Vợ chết sớm, lão phải lâm vào cảnh gà trống nuôi con một thân một mình nhưng khốn thay, con trai lão do không chịu nổi sự khổ cực bần hàn, sự lãnh đạm, đen bạc đã xin đi phu đồn điền cao su đặc .Vậy là vợ con đã đều rời xa lão, lão chỉ còn biết bầu bạn với con chó vàng. Lão coi nó như thể một đứa con, đứa cháu, một người thân trong gia đình của mình để san sẻ từng miếng cơm, manh áo của mình cho nó, ngày ngày bầu bạn, tâm sự với nó. Nhưng, đời sống dồn đẩy đến tận cùng, lão ốm nằm liệt giường, không làm được việc gì, phải ăn bòn vào tiền vườn vẫn để dành cho con. Tiếp sau, làng bị mất nghề vé sợi công ăn việc làm cũng khan hiếm hơn. Lựa chọn duy nhất giờ đây là phải bán con chó đi vì một miệng ăn cũng đã không lo đủ rồi huống chi còn nuôi thêm một con chó ốc còn không mang nổi mình ốc thì làm thế nào vác cọc cho rêu được ! Cái cụ thể lão bán con chó đi làm người đọc như tất cả chúng ta không hề không đau lòng. Hôm bán xong con vàng, lão sang nhà ông giáo để thể hiện. Lão cố làm ra vẻ thông thường nhưng không hề giấu được nỗi đau trong lòng : trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước. Nỗi đau làm biến dạng khuôn mặt của con người già nua đầy đau khổ đó : Mặt lão đùng một cái co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc. Hình ảnh đó càng làm điển hình nổi bật lên phẩm chất đáng quý của lão Hạc, đó là tính lương thiện và lòng thương con vô bờ bến. Lão bán con chó để không dùng vào tiền vườn, tiền để dành cho con về cưới vợ. Tình cha con thâm thúy của người nông dân già cả, nghèo khó khiến người đọc không khỏi cảm động và yêu quý .Lão còn nhờ ông giáo giữ hộ mảnh vườn để tương lai người con trở lại có nhà để ở, có vườn và ruộng để mà làm ăn bằng một văn tự mua và bán hẳn hoi. Thậm chí để lo hậu sự tương lai cho mình lão cũng rất chu tất, chả phiền lụy, nhờ vả, vay mượn ai cả. Hình như theo lão có để lại cho con thì chỉ để gia tài chứ không để lại nợ nần. Tin tưởng trao gửi cả một gia tài lớn so với lão cũng như so với đời sống kinh tế tài chính lúc bấy giờ, mà không chút hoài nghi, do dự phải chăng bắt nguồn từ tấm lòng đầy nhân hậu, vị tha của nhân vật. Từ đó, ta thấy được ẩn sâu trong những con người đầy nghèo nàn và buồn đau này một tấm chân tình cảm động xiết bao .Cái kết của câu truyện mới là cái đáng nói nhất trong tác phẩm Lão Hạc này. Cuối cùng thì lão Hạc cũng chết. Đây không phải là một cái chết thông thường mà là cái chết đau đớn của một con chó : Lão Hạc đang vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo rườm rà, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, nảy lên .. Đọc đến đây tôi thấy rất sợ, không sợ vì cảnh vật vã rồi chết, mà vì đặc thù thâm độc của chính sách thực dân phong kiến xưa kia. Tôi thường nghĩ, phải chăng Nam Cao quá lãnh đạm, vì tác phẩm nào của ông cũng toàn chết chóc, đau thương, những nhân vật đều kết thúc bằng cái chết. Sự thực ngòi bút của ông dù có thương nhân vật đến đâu cũng không thoát khỏi cái quy luật mà xã hội cũ quá ư tàn ác gây ra cho những người dân vô tội. Nó chỉ cho lão Hạc có hai cách sống : Thứ nhất là lão sẽ phải tiêu lẹm vào tiền vườn của con, điều đó đời nào lão chịu. Thứ hai là lão sẽ phải làm những việc vô lương như Binh Tư thì lão lại càng không làm nổi. Con người mà đau khổ không giảm được nhân cách, đã khóc một cách cay đắng vì trót lừa một con chó thì làm thế nào hoàn toàn có thể làm hại ai được ! Nam Cao đã linh động và khôn khéo lồng ghép những chi tiết cụ thể để ở đầu cuối sự lựa chọn duy nhất của lão Hạc là cái chết. Chính vì cụ thể này mà truyện ngắn Lão Hạc đã lên án nóng bức xã hội cũ loạn lạc, mục ruỗng. Nó sẵn sàng chuẩn bị xô đẩy ông lão nghèo nàn đó chọn cái chết như thể giải pháp duy nhất để lão Hạc thoát khỏi đời sống đoạ đày đau khổ mà vẫn giữ nguyên được tấm lòng lương thiện của mình .Qua truyện ngắn của Nam Cao, tất cả chúng ta đã biết thêm được về số phận, cảnh đời của những người nông dân trong xã hội xưa nói chung và lão Hạc nói riêng. Lão Hạc chính là hiện thân cho một nhân cách cao đẹp trong cái bóng đêm bao trùm lên những người dân vô tội khốn khổ khi xưa .

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 8

Văn học hiện thực phê phán 1930 1945 là nơi quy tụ của nhiều cây bút văn xuôi xuất sắc. Mỗi người một đề tài, một phong thái sáng tác riêng tuy nhiên đều tập trung chuyên sâu phản ánh tính cách và số phận của nhiều những tầng lớp người dân thời kì đó. Khi nhân dân ta rơi vào cảnh nước mất, nhà tan, bản thân là kiếp nô lệ thì đời sống không hề khác là sự đọa đày và khổ đau. Điều đó đã được bộc lộ thâm thúy qua truyện ngắn Lão Hạc của nhà văn Nam Cao .Trước hết ông là một người nông dân gặp nhiều nỗi khổ tâm và xấu số, vì nghèo nàn nhưng rất chất phác đôn hậu và giàu lòng yêu thương con. Trong cảnh làng mất nghề, người nghèo khắp nơi thì những người già nghèo như lão Hạc là khổ hơn cả. Lão sức yếu mà không có người đỡ đần, chăm nom khi tuổi già. Đau khổ hơn cho lão Hạc là người con trai đi bặt vô âm tín mấy năm liền. Bản thân lão ốm yếu luôn mà không có tiền chữa bệnh, lão Hạc sống nốt những năm cuối đời trong cảnh đơn độc. Mòn mỏi về bệnh tật và chờ đón đứa con ngày cũng như đêm, đó là nỗi xấu số và khổ tâm rất lớn của lão Hạc. Cô đơn về niềm tin, về vật chất lão Hạc cũng chẳng sung sướng gì. Đói khổ, bàn đầu lão Hạc còn ăn củ khoai, củ sắn, sau thì ăn thức ăn tự tạo lấy : hôm thì ăn củ chuối, hôm thì ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má, với đôi lúc một vài củ ráy, củ khoai hay bữa trai, bữa ốc. Lão đã quỵ ngã vì bệnh tật, vì nhớ mong khắc khoải. Tuổi lão đã cao, lại thêm sự lo toan cho đời sống, thời hạn cứ đánh gục dần lão. Chính cái chính sách thực dân phong kiến ấy đã bần cùng hoá lão, dồn lão đến trước con đường của Binh Tự : con đường vô lương, trộm cắp, đánh bả chó. Mặc dù đã bị dồn đến bức tường ở đầu cuối ấy nhưng lão Hạc vẫn không chịu cúi đầu chui qua cái lỗ nhỏ mà số phận chỉ cho, lão không chịu bán đi hai chữ lương thiện mà gật đầu kết thúc cuộc sống, kết thúc một kiếp người như kiếp chó của mình. Cái chết của lão Hạc thảm thương quá : Lão vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo rườm rà, hai mắt long sòng sọc .. Như vậy đấy, cuộc sống người nông dân trước Cách mạng khổ từ khi sinh ra cho đến tận lúc chết, mà hình ảnh nổi bật là lão Hạc đã được đưa vào văn học .Mặc dù đời sống bị bần cùng hoá đến cùng cực như vậy nhưng lão Hạc vẫn không mất đi những phẩm chất vốn có của người nông dân Nước Ta. Từ lời nói đến việc làm, tâm lý của lão Hạc đều toát lên vẻ ngay thật, chất phác. Lão nói với ông giáo : Tôi cắn rơm, cắn cỏ lạy ông giáo ! Ông giáo có nghĩ cái tình tôi già nua tuổi tác mà thương thì cho tôi gửi .. Nghe lão nói thật thánh thiện mà chất phát quá ! Nhỡ sang tên cho ông giáo rồi, ông ta nghèo quá mà bán đì thì sao ? Ấy là cái tính của người nông dân chọn mặt gửi vàng, tin yêu vào những người có học. Cao hơn cả chất phác, lão Hạc là người có tấm lòng đôn hậu. Ông lão rất thương con, nhất định không dùng đến tiền bán vườn của con. Yêu con nên thấy con không cưới được vợ, lão Hạc rất đau khổ. Sống đơn độc, nghèo nàn, nhưng ngày cũng như đêm, lão đều nghĩ, đều thương đến con. Vì thương con và bất lực trước đời sống, lão mới kết thúc cuộc sống để khỏi xâm phạm đến mảnh vườn của con. Tình yêu con của lão cũng bộc lộ ở sự thương mến, trân trọng kỉ vật của con để lại : một con chó lão gọi nó là cậu Vàng như một bà khan hiếm gọi đứa con cầu tự .Những lúc rỗi rãi, lão tắm cho nó, bắt rận cho nó đầy yêu thương. Lão còn cho nó, ăn trong một cái bát, khi nào cũng tâm sự với nó. Khi bán nó, lão không hề nén được dòng nước mắt như cái lần lão tạm biệt con trai. Có thể hiểu rằng bán coin chó vàng là lão vĩnh viễn không thấy được hình ảnh người con trai .Qua hình ảnh của lão Hạc, ta hoàn toàn có thể nhận thấy rằng, dưới chính sách thực dân phong kiến, thân phận người nông dân tuy đầy đau khổ nhưng tâm hồn họ vô cùng chất phác và đôn hậu .

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 9

Từ xưa đến nay, nói đến Nam Cao là người ta nói ngay đến Lão Hạc. Tác phẩm này được coi là một truyện ngắn xuất sắc trong văn học hiện thực phê phán thời kì 1930 1945. Đó ! à một truyện ngắn chứa chan tình người, lay động bao nỗi xót thương khi tác giả kể về cuộc sống đơn độc, xấu số và cái chết đau đớn của một lão nông bần hàn. Nhân vật lão Hạc đã khắc vào lòng người đọc một cách sâu đậm về hình ảnh một lão nông đáng kính với phẩm chất của con người đôn hậu, giàu lòng tự trọng và rất mực thương con .Cuộc đời lão Hạc là một chuỗi những đau khổ, xấu số, một kiếp đời chua chát và đắng cay từ khi sinh ra cho đến khi ra đi về cõi vĩnh hằng. Góa vợ từ khi còn trẻ, một mình lão gà trống nuôi con trong cảnh đói nghèo, lam lũ, những mong con khôn lớn, trưởng thành làm chỗ lệ thuộc lúc ốm đau, khi tuổi già. Nhưng niềm hạnh phúc nhỏ nhoi ấy đã không đến với lão. Vì không đủ tiền cưới vợ, anh con trai phẫn chí đăng tên đi làm phu đồn điền cao su đặc. cảnh chia li của cha con lão Hạc không hẹn ngày sum vầy. Lão Hạc đã mất vợ nay lại thêm nỗi mất con .Cảnh khốn khó về vật chất hoà trong nỗi đau ý thức thành dòng lệ chảy trong trái tim chờ đón khắc khoải của người cha. Nhưng cuộc sống có vẻ như vẫn chưa buông tha lão. Bất hạnh rồi lại xấu số cứ liên tục giáng xuống đầu người cha già khốn khổ. Kiệt sức vì lam lũ, lầm than, vì mòn mỏi đợi chờ, lão ốm nặng. Sau trận đó, lão yếu đi nhiều, không hề làm được những việc nặng. Làng mất nghề sợi, đàn bà rỗi rãi nhiều, có việc gì nhẹ họ đều tranh hết. Lão Hạc rơi vào cảnh bần cùng hoá trọn vẹn. Lão sống vật vờ với con ốc, con trai, củ khoai, củ ráy, sung luộc, Những thứ ấy cũng chẳng dễ gì kiếm được với một lão già đã hết sạch công sức của con người .Cùng đường sống, lão Hạc tìm đến cái chết, lấy cái chết để tự giải thoát cho mình. Lão đã ăn bả chó để tự tử. Lão chết đau đớn thê thảm đầu tóc rũ rượi, mắt long sòng sọc, mồm tru tréo, bọt mép sùi ra, vật vã đến hai giờ đồng hồ đeo tay rồi mới chết. Cái chết thật kinh hoàng ! Số phận một con người, một kiếp sống như lão thật đáng thương .Với ngòi bút nhân đạo tha thiết, Nam Cao đã nói lên bao tình thương nỗi xót so với những con người đau khổ, bế tắc phải tìm đến cái chết như lão Hạc. Chí Phèo tự sát bằng lưỡi dao, Lang Rận thắt cổ chết, và lão Hạc cũng quyên sinh bằng cái bả chó ! Lão Hạc từng hỏi ông giáo : Nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho thật sướng ?. Câu hỏi ấy bộc lộ nỗi đau khổ tột cùng của một con người .Lão Hạc sống nghèo nàn về vật chất nhưng rất giàu tình cảm. Tình yêu thương con nồng nàn thâm thúy của lão là câu truyện cảm động về tình cha con. Nhìn con đau khổ vì không có tiền để cưới vợ, lão Hạc khổ tâm vô cùng. Lão thấy mình như có lỗi với con và lão day dứt mãi. Khi con phẫn chí đăng tên đi làm phu đồn điền cao su đặc, trái tim người cha thực sự tan nát. Nỗi thương nhớ thường trực trong người cha đã biến thành sự khắc khoải ngóng trông : Thằng cháu nhà tôi dễ đến hơn một năm nay chẳng có giấy má gì ông giáo ạ. Ta đọc được trong câu nói ấy cái tình cảm ấm cúng của người cha. Thương nhớ con, lão dồn tình cảm âu yếm vào cậu Vàng kỉ vật của người con để lại. Cái tên cậu Vàng đã tiềm ẩn tổng thể tình quý mến và thân thương so với một con vật một kỉ vật. Không phải bất kỳ người nào cũng hoàn toàn có thể yêu thương con vật như vậy. Vậy lão không đôn hậu, yêu con đó sao ? Những cơn mưa và bão liên miên, hoa màu trong vườn đều bị phá sạch, việc làm chẳng còn, nếu cứ liên tục như vậy thì sẽ ăn vào số tiền chắt chiu tích góp cho con. Đặt lên bàn cân mà tính, suất ăn của con chó cũng bằng lão, vậy thì tốn quá. Giữa số tiền tích góp cho. con và con chó người bạn tâm tình, lão sẽ chọn ai đây ! Để đi đến quyết định hành động, lão đã phải dằn vặt, đau khổ, lão suy nghĩ nhiều, nhiều lắm mới quả cảm bán con chó. Cuộc lựa chọn khó khăn vất vả, quyết liệt diễn ra trong nước mắt. Nhưng nếu không bán con chó, lão sẽ chết và số tiền tích góp cho con cũng chẳng còn. Lão bán chó đâu phải để ăn mà để lo cho tương lai của đứa con. Hình ảnh lão Hạc miệng méo xệch, khóc hu hu khi nghĩ rằng mình đã đánh lừa một con chó là hiện thân của tấm lòng nhân ái cao quý .Bao nhiêu tình thương yêu con lão dồn cả vào việc quyết giữ bằng được mảnh vườn cho con. Khi đã hết đường sinh nhai, lão Hạc hoàn toàn có thể bán vườn đi, nhưng lão không làm thế, lão thà chết chứ không chịu bán đi một sào. Thậm chí trước khi chết, lão còn tìm nơi nhờ cậy gửi gắm mảnh vườn ấy Cuộc đời lão Hạc thật bi thương. Nhưng giữa cuộc sống khốn khó, lão Hạc vẫn ý thức được nhân phẩm của mình. Lòng tự trọng của một người không được cho phép lão nhận sự trợ giúp của ông giáo mà lão biết cũng chẳng sung sướng hơn gì lão, càng không được cho phép lão phiền lụy đến bà con lối xóm. Ý thức được điều đó một cách thâm thúy, lão Hạc đã nhịn ăn để dành tiền làm ma cho mình. Ta nhận thấy ở lão Hạc một triết lí sống cao đẹp biết nhường nàoDưới một xã hội đen tối, ngột ngạt, không ít người đã đánh mất nhân phẩm, hoặc tha hoá, biến chất. Ta cũng thuận tiện tìm thấy họ trong một loạt những, sáng tác của Nam Cao. Nhưng khác với họ, dù nghèo đến đâu, lão Hạc vẫn sống trong sáng và lương thiện. Chính nhân vật ông giáo đã nhận xét về lão : Binh Tư lại một người láng giềng khác của tôi. Hắn làm nghề ăn trộm nên vốn không ưa gì lão Hạc do tại lão lương thiện quá .. Hết kế sinh nhai lão hoàn toàn có thể chọn con đường theo Binh Tư, nhưng lão Hạc không làm như vậy. Lão thà chết chứ nhất định không bán linh hồn cho quỷ dữ. Một cách sống và xử thế thật đáng trân trọng, tương thích với đạo lí thác trong hơn sống đục của nhân dân ta .Cuộc đời lão Hạc đầy nước mắt, nhiều đau khổ và bất lực. Sống thì bí mật, nghèo nàn đơn độc ; chết thì quằn quại đau đớn. Tuy thế, lão Hạc lại có phẩm chất tốt đẹp như hiền lành, chất phác, vị tha, nhân hậu, trong sáng và tự trọng, Lão Hạc là một nổi bật về người nông dân Nước Ta trong xã hội cũ, được Nam Cao miêu tả chân thực với bao nhiêu trân trọng, xót thương, thấm đượm một tinh thần nhân đạo thống thiết .

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 10

Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc. Lão không chỉ đại diện thay mặt cho số phận cùng cực, xấu số của người nông dân trong xã hội cũ mà lão còn là đại diện thay mặt cho những phẩm chất cao quý, tiềm tàng trong họ .Trước hết lão hạc là người có số phận xấu số. Lão góa vợ, sống một mình nuôi con, vì gia cảnh nghèo khó, số tiền thách cưới lại quá cao nên lão không hề lấy vợ cho con, vì thế trong lòng lão khi nào cũng mang tâm trạng dằn vặt, đau đớn. Cũng bởi việc này mà con trai lão bỏ đi đồn điền cao su đặc, bặt vô âm tín. Về già những tưởng có người chăm nom thì lão lại phải sống trong cảnh đơn độc. Lão không được sống cuộc sống an nhàn, thảnh thơi, dù già nhưng lão vẫn đi làm thuê, để tích cóp cho con. Nhưng số phận trêu đùa, một trận ốm nặng lấy hết tiền lão đã tích góp, trận bão cướp hết hoa màu. Càng trớ trêu hơn khi cậu Vàng kỉ vật con trai lão để lại, lão yêu nó hơn cả bản thân nhưng nay lão lại phải bán nó đi. Lão rơi vào thảm kịch : bán hay không bán cậu Vàng. Nhưng thực tiễn khốn khó, dù vô cùng đau đớn lão cũng đành phải bán cậu Vàng. Sau khi bán cậu Vàng, lão rơi vào khủng hoảng cục bộ tâm lí trầm trọng : Lão cố làm ra vui tươi. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, mặt lão đùng một cái co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc .Lão ân hận, day dứt khi đã bán cậu Vàng. Lão tự kết tội mình là đã đánh lừa một con chó. Trong cuộc sống đầy những khó khăn vất vả, đổi trắng thay đen, người ta lừa lọc nhau để sống nhưng lão Hạc lại ăn năn vì đã bán một con chó. Điều này cho thấy sự ngay thật và nhân cách cao đẹp trong con người lão Hạc. Dù đã bán cậu Vàng những đời sống vẫn lão ngày một nghèo khó, lão vớ được thứ gì ăn thứ đó và sau cuối lão đã tìm đến cái chết như một cách tạ tội với cậu Vàng và giải thoát chính mình. Tuy nhiên, cách giải thoát của lão rất là bi thảm : tự tử bằng việc ăn bả chó. Việc một con người giàu lòng yêu thương, trung thực phải tìm đến cái chết đau đớn vật vã như vậy tự bản thân nó đã bao hàm ý nghĩa lên án, tố cáo xã hội phi nhân tính .Không chỉ vậy, lão còn là một người cha hết mực thương con và có nghĩa vụ và trách nhiệm. Khi con bỏ đi đồn điền cao su đặc, lão luôn cảm thấy đau đớn, xót xa vì đã không làm tròn vai trò của một người cha. Bao nhiêu tình yêu thương con lão dồn hết vào việc chăm nom cậu vàng : lão âu yếm trò chuyện với nó, cho nó ăn cơm trong bát như nhà giàu, Lão không ngừng lao động, chắt chiu, tằn tiện để tích góp cho con. Lão quyết tâm tìm mọi cách để giữ lại mảnh vườn cho con. Những ngày đau ốm, cùng trận bão đã cướp sạch đi tiền của và hoa màu của lão, những ngày sau đó lão sống lay lắt, tằn tiện ở đầu cuối lão quyết định hành động tìm đến cái chết. Trước khi chết lão sang nhà ông giáo gửi gắm lại mảnh vườn, để sau này đứa con trở lại vẫn có nơi làm ăn sinh sống. Lão chu toàn trong tổng thể mọi việc, không riêng gì tâm lý trong hiện tại, mà còn bảo vệ gia tài cho con cả ở tương lai. Ông quả là có tình yêu thương con thâm thúy, tha thiết .Lão Hạc còn là người có lòng tự trọng thâm thúy. Lão luôn sống bằng sức lao động của mình. Dù ông giáo có thiện ý trợ giúp nhưng lão vẫn khước từ : Luôn mấy hôm, tôi thấy lão Hạc chỉ ăn khoai. Rồi thì khoai cũng hết. Bắt đầu từ đấy, lão sản xuất được món gì, ăn món ấy. Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má, với nhiều lúc ăn một vài củ ráy hay bữa ốc. Nhân cách trong sáng của lão còn bộc lộ trong dòng nước mắt, trong lời nói đầy ân hận khi lão đã trót lừa cậu vàng, và lão đã lấy cái chết đau đớn, vật vã như một con chó để tạ lỗi với cậu Vàng. Trước khi chết lão chuẩn bị sẵn sàng rất là chu đáo, lão gửi lại tiền ma chay cho ông giáo để sau này khi chết đi không làm phiền đến hàng xóm. Lão quả thật là một con người có nhân cách cao đẹp đáng trân trọng .Để miêu tả hàng loạt cuộc sống nhân vật, tác giả đã lựa chọn hình thức trần thuật rất là tương thích. Lấy người kể chuyện là ông giáo sẽ đem đến nhiều hiệu suất cao : là người thân mật tận mắt chứng kiến hàng loạt cảnh đời lão Hạc nên câu truyện được thuật lại tự nhiên, chân thực, khách quan. Việc trần thuật từ ngôi thứ nhất khiến cho mạch kể linh động, phối hợp giữa kể, tả và phản hồi. Nghệ thuật thiết kế xây dựng nhân vật rực rỡ : tính cách, phẩm chất của nhân vật được bộc lộ qua ngôn từ, hành vi và sự nhìn nhận của những nhân vật khác. Ngôn ngữ nhân vật mang tính thành viên hóa cao độ .Nhân vật lão Hạc đại diện thay mặt cho người nông dân Nước Ta mang trong mình những phẩm chất tốt đẹp : tình yêu thương và lòng tự trọng, nhân cách cao đẹp. Qua nhân vật này tác giả vừa thể hiện thái độ yêu thương, trân trọng đồng thời bộc lộ sự cảm thông thâm thúy cho số phận xấu số của những người nông dân trước cách mạng .

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 11

Từ xưa đến nay nói đến tình người, ta nói ngay đến ” Lão Hạc “. Tác phẩm này được coi là truyện ngắn xuất sắc của văn học hiện thực phê phán thời kỳ 1930 – 1945. Đó là một truyện ngắn chứa chan tình người, lay động bao nỗi xót thương khi tác giả kể về cuộc sống đơn độc, xấu số và cái chết đau đớn của một lão nông dân nghèo nàn. Nhân vật Lão Hạc đã khắc họa vào lòng người đọc một cách sâu đậm về hình ảnh một lão nông dân đáng kính với phẩm chất của con người đôn hậu, giàu lòng tự trọng và rất mực thương con .Cuộc đời Lão Hạc là một chuỗi những đau khổ xấu số, một kiếp người chua chát và cay đắng từ khi sinh ra cho đến khi ra đi về cõi vĩnh hằng. Góa vợ từ khi còn trẻ, một mình lão gà trống nuôi con trong cảnh đói nghèo, lam lũ những mong con khôn lớn, trưởng thành làm chỗ lệ thuộc lúc ốm đau, khi tuổi già. Nhưng niềm niềm hạnh phúc ấy đã không đến với lão. Vì không đủ tiền cưới vợ, anh con trai phẫn chí đăng tên đi phu làm đồn điền cao su đặc. Cảnh chia lìa của cha con Lão Hạc không hẹn ngày đoàn viên. Lão Hạc mất vợ nay lại thêm nỗi đau mất conCảnh khốn khó về vật chất hòa trong nỗi đau về niềm tin thành dòng lệ chảy trong trái tim chờ đón khắc khoải của người cha. Nhưng cuộc sống có vẻ như vẫn chưa buông tha lão. Bất hạnh rồi xấu số cứ liên tục giáng xuống đầu người cha khốn khổ ấy. Kiệt sức vì lam lũ lầm than, vì mòn mỏi chờ đón. Lão ốm nặng. Sau trận ốm đó lão ốm đi rất nhiều, không hề làm được những việc nặng. Làng mất nghề sợi, đàn bà rỗi rãi nhiều, có việc gì nhẹ họ đều tranh hết. Lão Hạc rơi vào cảnh bần cùng hóa trọn vẹn. Lão sống vật vờ với con ốc, con trai, củ khoai, củ ráy, sung luộc …. Những thứ cũng chẳng dễ gì kiếm được với một lão già đã hết sạch sức lực lao động .Cùng đường sống, Lão Hạc tìm đường đến cái chết, lấy cái chết để tự giải thoát cho mình. Lão đã ăn bả chó để tự tử. Lão chết đau đớn thê thảm ” đầu tóc rũ rượi, mắt long sòng sọc, mồm tru tréo bọt mép sùi ra. Vật vã đến 2 giờ đồng hồ đeo tay rồi mới chết “. Cái chết thật kinh hoàng ! Số phận một con người, một kiếp người như Lão Hạc thật đau thương .Với ngòi bút nhân đạo tha thiết, Nam Cao đã nói lên bao tình thương nỗi xót xa con người đau khổ, bế tắc phải tìm đến cái chết như lão. Chí Phèo tự sát bằng lưỡi dao, Lang Rận thắt cổ chết và Lão Hạc cũng quyên sinh bằng bả chó ! Lão Hạc từng hỏi ông giáo : ” nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho sướng ? “. Câu hỏi ấy bộc lộ nỗi đau khổ tột cùng của một con người sống nghèo khó về vật chất nhưng rất giàu tình cảm. Tình yêu thương con nồng nàn thâm thúy của lão là câu truyện cảm động về tình cha con. Nhìn con đau khổ vì không có tiền cưới vợ, Lão Hạc khổ tâm vô cùng. Lão thấy mình như có lỗi với con và day dứt mãi. Khi con phẫn chí đành trốn đi làm đồn điền cao su đặc ; trái tim người cha thật sự tan nát. Nỗi thương nhớ con thường trực trong người cha đã biến thành sự khắc khoải ngóng trông : ” Thằng cháu nhà tôi dễ đến hơn một năm nay chẳng có giấy má gì ông giáo ạ “. Ta đọc được trong câu nói tình cảm ấm cúng của người cha .Thương nhớ con lão dồn tình cảm âu yếm cậu vàng kỷ vật của người con để lại. Cái tên cậu vàng đã tiềm ẩn tổng thể tình cảm quý mến và thân thương so với một con vật một kỉ vật. Không phải bất kể người nào cũng hoàn toàn có thể yêu thương con vật như vậy. Những cơn mưa và bão liên miên, hoa màu trong vườn đều bị phá sạch, việc làm chẳng còn, nếu cứ liên tục như vậy thì sẽ ăn vào số tiền chắt chiu tích góp cho con. Đặt lên bàn cân mà tính, suất ăn của con chó cũng bằng lão, vậy thì tốn quá. Giữa số tiền tích góp cho con và con chó người bạn tâm tình, lão sẽ chọn ai đây ? Để đi đến quyết định hành động, lão đã phải dằn vặt đau khổ, lão suy nghĩ nhiều, nhiều lắm mới gan góc bán con chó. Cuộc lựa chọn khó khăn vất vả quyết liệt diễn ra trong nước mắt. Nhưng nếu không bán con chó, lão sẽ chết và số tiền tích góp cho con cũng chẳng còn. Lão bán chó đâu phải để ăn mà để lo tương lai cho đứa con. Hình ảnh Lão Hạc ” miệng méo xệch, khóc hu hu ” khi nghĩ rằng mình đã lừa một con chó là hiện thân của tấm lòng cao quý ‘ ‘ .Bao nhiêu tình yêu thương con lão dồn cả vào việc quyết giữ bằng được mảnh vườn cho con. Khi đã hết đường sinh nhai, lão hoàn toàn có thể bán vườn đi, nhưng lão không làm thế, lão thà chết chứ nhất định không chịu bán đi một sào. Thậm chí trước lúc chết lão còn tìm nơi nhờ cậy gửi gắm mảnh vườn ấy … Cuộc đời Lão Hạc thật bi thương. Nhưng giữa cuộc sống khốn khó, Lão Hạc vẫn ý thức được nhân phẩm của mình. Lòng tự trọng của một người không được cho phép lão nhận sự giúp sức của ông giáo mà lão biết chẳng sung sướng gì hơn lão, càng không được cho phép lão phiền lụy đến bà con lối xóm. Ý thức được điều đó một cách thâm thúy, Lão Hạc đã nhịn ăn để dành tiền làm ma chay cho mình. Ta nhận thấy ở lão một triết lí sống cao đẹp biết dường nào .Dưới một xã hội đen tối ngột ngạt, không ít người đã đánh mất nhân phẩm, hoặc tha hóa biến chất. Ta cũng thuận tiện tìm thấy họ qua một loạt sáng tác của Nam Cao. Nhưng khác với họ, dù nghèo đến đâu, Lão Hạc vẫn sống trong sáng và lương thiện. Chính nhân vật ông giáo đã nhận xét về lão : ” Binh Tư là một người láng giềng khác của tôi. Hắn là nghề ăn trộm nên vốn không ưa gì Lão Hạc chính do lão lương thiện quá “. Hết kế sinh nhai lão hoàn toàn có thể chọn con đường theo Binh Tư nhưng lão không làm như vậy. Lão thà chết chứ nhất định không bán linh hồn cho quỷ sứ. Một cách sống và xử thế thật đáng trân trọng, tương thích với đạo lý ” thác trong hơn sống đục ” của nhân dân ta .Cuộc đời của Lão Hạc đầy nước mắt, nhiều đau khổ và bất lực ; sống thì bí mật bần hàn đơn độc ; chết thì quằn quại đau đớn. Tuy thế, Lão Hạc lại có phẩm chất tốt đẹp như hiền lành chất phác, vị tha, nhân hậu, trong sáng và tự trọng …. Lão Hạc là một nổi bật và người nông dân Nước Ta trong xã hội cũ, được Nam Cao miêu tả chân thực với biết bao trân trọng, xót thương, thấm đượm một tinh thần nhân đạo thống thiết .

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 12

Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc trong tiến trình văn học 1930 1945. Qua nhiều tác phẩm, tác giả đã vẽ nên khung cảnh tiêu điều, xơ xác của nông thôn Nước Ta trước Cách mạng tháng Tám. Sự đói khổ ám ảnh nhà văn bởi nó tác động ảnh hưởng không ít tới nhân cách, nhưng trong cảnh nghèo nàn thê thảm, phẩm chất tốt đẹp của người nông dân vẫn sống sót và bí mật tỏa sáng. Truyện ngắn Lão Hạc biểu lộ cái nhìn nhân đạo thâm thúy của Nam Cao. Trong đó, nhân vật chính là một nông dân gặp nhiều nỗi xấu số vì bần hàn nhưng chất phác, đôn hậu, thương con và có lòng tự trọng .Vợ mất sớm, Lão Hạc dồn toàn bộ tình yêu thương cho đứa con trai duy nhất. Lão sẽ sung sướng biết dường nào nếu con trai lão được niềm hạnh phúc, nhưng con trai lão đã bị phụ tình chỉ vì quá nghèo, không đủ tiền cưới vợ .Thương con, lão đồng cảm nỗi đau của con khi anh nghe lời cha, không bán mảnh vườn để lấy tiền cưới vợ mà gật đầu sự tan vỡ của tình yêu. Càng thương con, lão càng xót xa đau đớn vì không giúp được con thỏa nguyện, đến nỗi phẫn chí bỏ nhà đi phu đồn điền đất đỏ mãi tận Nam Kì. Mỗi khi nhắc đến con, Lão Hạc lại rơi nước mắt .Lão Hạc rất quý con chó vì nó là kỉ vật duy nhất của đứa con trai. Lão trìu mến gọi là cậu Vàng và cho nó ăn cơm bằng chiếc bát lành lặn. Suốt ngày, lão thầm thì to nhỏ với con Vàng. Với lão, con Vàng là hình bóng của đứa con trai yêu quý, là người bạn san sẻ đơn độc với lão. Vì thế nên bao lần định bán con Vàng mà lão vẫn không bán nổi .Nhưng nếu vì nhớ con mà Lão Hạc không muốn bán cậu Vàng thì cũng chính vì thương con mà lão phải dứt khoát chia tay với nó. Lão nghèo túng quá ! Lão đã tính chi li mỗi ngày cậu ấy ăn thế bỏ rẻ cũng mất hai hào đấy. Cứ mãi thế này thì tôi lấy tiền đâu mà nuôi được … Thôi bán phắt đi, đỡ đồng nào hay đồng ấy. Bây giờ, tiêu một xu cũng là tiêu vào tiền của con. Tiêu lắm chỉ chết nó !Thế là vì lo tích cóp, giữ gìn cho con trai chút vốn mà Lão Hạc đành chia tay với con chó yêu quý. Đã quyết như thế nhưng lão vẫn đau đớn, xót xa. Lão kể cho ông giáo nghe cảnh bán cậu Vàng với nỗi xúc động cực độ. Lão đau khổ dằn vặt vì cảm thấy mình đã đánh lừa một con chó. Nỗi khổ tâm của lão cứ chồng chất mãi lên. Trước đây, lão dằn vặt mãi về chuyện vì nghèo mà không cưới được vợ cho con, thì giờ đây cũng chỉ vì nghèo mà lão thêm day dứt là đã cư xử không đàng hoàng với một con chó. Lão cố chịu đựng những nỗi đau đớn ấy cũng chỉ nhằm mục đích một mục tiêu là giữ gìn chút vốn cho con .Biểu hiện cao nhất của tình yêu thương con chính là cái chết của lão. Ông lão nông dân bần hàn ấy đã giám sát mọi đường : Bây giờ lão chẳng làm gì được nữa … Cái vườn này là của mẹ nó chắt chiu tích góp cho nó, ta không được ăn vào của nó … Ta không hề bán vườn để ăn … Chính vì thương con, muốn giữ cho con chút vốn giúp nó thoát khỏi cảnh nghèo mà Lão Hạc đã chọn cho mình cái chết. Đó là một sự lựa chọn tự nguyện và kinh hoàng. Nghe những lời tâm sự của Lão Hạc với ông giáo, không ai hoàn toàn có thể kìm nổi lòng xót thương, thông cảm và khâm phục. Một con người vì nghèo nàn mà xấu số đến thế là cùng ! Một người cha thương con đến thế là cùng !Không chỉ có vậy, qua từng trang truyện, tất cả chúng ta còn thấy Lão Hạc là người đôn hậu, chất phác. Suốt đời, lão sống quanh quẩn trong lũy tre làng. Trong làng chỉ có ông giáo là người có học nên lão tìm đến ông giáo để san sẻ tâm sự. Lời lẽ của Lão Hạc so với ông giáo khi nào cũng lễ phép và cung kính. Đó là cách bày tỏ thái độ kính trọng người hiểu biết, nhiều chữ của một lão nông. Cảnh ngộ Lão Hạc đã đến lúc túng quẫn nhưng lão tự lo liệu, xoay xở, cố giữ nếp sống trong sáng, tránh xa lối đói ăn vụng túng làm càn. Thậm chí, lão nhất quyết phủ nhận sự giúp sức chỉ vì lòng thương hại .Lão đã sẵn sàng chuẩn bị kĩ lưỡng mọi việc. Trước khi chết, lão nhờ ông giáo viết văn tự để giữ hộ con trai mình mảnh vườn và gửi ông giáo 30 đồng để lo chôn cất. Lão không muốn mọi người phải tốn kém vì lão. Rất hoàn toàn có thể vì tốn kém mà người ta lại chẳng oán trách lão sao ? Không phiền lụy đến mọi người, đó cũng là cách để giữ gìn phẩm giá. Thì ra ông lão có vẻ ngoài gàn dở ấy lại có phẩm chất đáng quý biết nhường nào !Nhà văn Nam Cao đã giúp tất cả chúng ta hiểu được nỗi khổ tâm, xấu số vì nghèo nàn cùng những vẻ đẹp cao quý trong tâm hồn người nông dân Nước Ta trước Cách mạng tháng Tám. Từ những trang sách của Nam Cao, hình ảnh Lão Hạc luôn nhắc tất cả chúng ta nhớ đến những con người nghèo khó mà trong sáng với một tình cảm trân trọng và yêu quý .

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 13

Trong văn học hiện thực những năm 1930 – 1945, Nam Cao là một cái tên tiêu biểu vượt trội mà tất cả chúng ta không hề không nhắc đến. Các tác phẩm của ông mang đến cho người đọc cảm xúc chân thực cùng ý vị triết lí mang ý nghĩa nhân bản thâm thúy. Lão Hạc là một trong những tác phẩm thành công xuất sắc của ông. Đến với tác phẩm để lại cho người đọc ấn tượng thâm thúy là hình ảnh lão Hạc – một người nông dân hiền lành, chất phác, giàu lòng nhân ái và lòng tự trọng nhưng lại có số phận vô cùng xấu số .Lão Hạc – một con người nghèo khó, xấu số. Vợ lão mất sớm, lão ở vậy gà trống nuôi con. Vất vả nuôi con khôn lớn, đến tuổi lấy vợ, lão lại không lo được đủ tiền cưới cho con. Không lấy được vợ, con lão buồn chán mà bỏ đi đồn điền cao su đặc, đã 5-6 năm biền biệt chưa về. Tuổi già cô quạnh một mình, xấu số càng đến với lão khi lão ốm một trận thập tử nhất sinh, vườn tược, hoa màu bị phá sạch sau trận bão. Lão mất vé sợi, ốm xong không đủ sức thao tác nặng, những việc nhẹ nhàng thì bị đàn bà trong làng tranh hết. Lão Hạc siêu thị nhà hàng đói deo đói dắt, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Cậu Vàng – con chó mà người con trai trước khi đi đã để lại cho lão, là niềm vui duy nhất trong quãng đời cuối của lão. Thế nhưng vì cậu Vàng ăn nhiều mà lão không nuôi nổi, phải bán chó. Sau khi bán cậu Vàng, lão Hạc đau khổ, cảm thấy mình tệ bạc, lão càng sống kham khổ. Lão chỉ ăn khoai, củ chuối, củ ráy, … Cuối cùng để bảo toàn số tiền cho con, lão kết thúc cuộc sống mình một cách đau khổ bằng bả chó .

Thế nhưng trước số phận khổ đau đó, lão Hạc vẫn giữ được những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân. Lão là một con người hiền lành, chất phác, nhân hậu, là người cha có trách nhiệm. Một tay nuôi lớn con vất vả, khi con không lấy được vợ, lão luôn dằn vặt vì không lo được cho con. Đến khi con trai bỏ đi, lão luôn mong nhớ và khóc rất nhiều. Hình của nó người ta giữ, ảnh của nó người ta chụp, nó là con người ta rồi chứ đâu phải con tôi. Trong quãng thời gian con đi, ba sào vườn mà vợ để lại cho con, lão không động vào đồng hoa màu nào, tất cả để để dành lại để đưa cho con khi trở về. Cho dù phải bán chó hay chết, lão cũng quyết không dùng nó. Con đi để lại con chó. Tất cả tình yêu, nỗi nhớ con trai đều được lão gửi vào con chó. Lão thân mật gọi nó là cậu Vàng, đối xử với nó như một con người. Lão cho nó ăn cơm trong bát sứ như nhà giàu, lão bắt rận, tắm rửa cho nó, trò chuyện với nó, lão ăn gì cũng cho nó ăn cùng. Cậu Vàng chính là chỗ dựa tinh thần vững chắc, niềm an ủi, động viên lão trong những ngày tháng cô đơn cuối đời. Thế nhưng lão vẫn phải bán nó. Tiếng khóc nức nở của lão sau khi bán con chó đã thể hiện sự nhân hậu của lão. Lão cảm thấy mình thật ích kỷ, tệ bạc, già rồi mà còn đánh lừa một con chó.

Lão Hạc còn là một con người trong sáng, giàu lòng tự trọng. Cho dù lão sống túng thiếu đến đâu, lão cũng không muốn lấy của ai cái gì. Sau khi bán chó, lão chỉ ăn khoai, củ chuối, củ ráy, sung luộc, vài bữa ốc cho qua ngày, nhưng khi ông giáo mời ăn khoai, uống trà thì lão chỉ khôn khéo khước từ bảo để khi khác. Khi mà ông giáo ngấm ngầm trợ giúp, lão phủ nhận gần như là hách dịch. Sau khi bán chó, lão Hạc gửi ông giáo 3 sào vườn và 30 đồng bạc để không làm phiền tới láng giềng khi ông chết. Và rồi cuối tác phẩm, Nam Cao làm người đọc giật mình khi nghe nhân vật Binh Tư – một kẻ chuyên đánh bả chó kể rằng lão Hạc vừa xin hắn một chút ít bả để bẫy con chó hay vào vườn nhà lão. Để rồi lại tới một giật mình khác khi tận mắt chứng kiến cái chết thảm thương của lão. Từ đó càng thấy được lòng tự trọng, trong sáng của lão Hạc. Đó là một phẩm chất đáng quý mà khó ai giữ được trong thực trạng của lão .Nam Cao đã kiến thiết xây dựng thành công xuất sắc nhân vật lão Hạc với một số phận xấu số nhưng lại điển hình nổi bật trên đó phẩm chất tốt đẹp của lão – hiền lành, chất phác, yêu thương con, nhân hậu, trong sáng, giàu lòng tự trọng. Từ đó bộc lộ được tinh thần nhân đạo thâm thúy của Nam Cao .

Video liên quan