Tổng quan các nghiên cứu về than sinh học và ứng dụng trong nông nghiệp, cải tạo – Tài liệu text

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản rất đầy đủ của tài liệu tại đây ( 608.91 KB, 45 trang )

pH tăng lên, pH tăng liên tục ở nhiệt độ 600 0 C. Độ pH của TSH làm từ rơm

ngô pH của TSH sản xuất từ rơm ngô ở 600 0C là khoảng 9,54 cho thấy rằng

nó có tiềm năng để cải tạo đất chua, đây có thể là một yếu tố quan trọng

trong sự di động của kim loại [14].

 pH của TSH làm từ phân bò sữa là khoảng 9,81, của TSH làm từ vỏ trấu là

khoảng 8,01. pH của TSH làm từ phân bò cao hơn là do phân bò đã có chứa

một số lượng lớn khoáng chất chúng có thể bắt đầu tách ra khỏi hữu cơ ở

nhiệt độ cao hơn 3000 C, làm pH của sản phẩm tăng đến gần 10 [13].

Thành phần, hàm lượng các nguyên tố có trong TSH:

 Thành phần nguyên tố có trong các mẫu TSH:

Nguyên liệu tre: Kết quả phân tích SEM và phổ EDS cho thấy các

nguyên tố có trong TSH từ tre thu được là C, O, Al, Si, Ca, K, N, Mg.

Nguyên liệu rơm rạ: Kết quả phân tích hình ảnh SEM và phổ EDS

cho thấy, TSH từ rơm rạ có chứa các nguyên tố Si, C, O, N, K

Nguyên liệu gỗ keo lai: Kết quả phân tích SEM và phổ EDS cho

thấy, TSH từ gỗ keo lai có chứa các nguyên tố: O, C, K, Al, Cl, N, Si, Ca, Mg.

Như vậy, khi bón các loại TSH này vào trong đất có thể làm tăng một số nguyên tố

dinh dưỡng trong đất như Mg, K, N, P, Ca, C, O

 Hàm lượng tro, CHC bay hơi và một số nguyên tố khác trong các mẫu TSH:

Dựa vào bảng 1.2, thấy rằng dạng cácbon cố định chiếm tỷ lệ khá

lớn trong TSH (trung bình là trên 50%). Chất hữu cơ bay hơi trong TSH từ gỗ keo

lai có tỷ lệ cao nhất (20,8%), cao hơn TSH từ tre 3,8%. Chỉ tiêu này thấp nhất ở

TSH từ rơm ra (10,5%). Tỷ lệ tro trong mẫu TSH từ rơm rạ là cao nhất (35,6%),

trong khi đó tỷ lệ này giảm mạnh trong mẫu TSH từ tre (12,1%), đặc biệt là trong

gỗ, tỷ lệ này giảm tới 31,8%, chỉ còn là 3,8%. Nitơ trong TSH từ tre chiếm tỷ lệ

phần trăm cao nhất, đạt 1,02%, cao hơn so với TSH từ rơm rạ 0,17%, và 0,63% so

với TSH từ gỗ. Tỷ lệ hydro trong TSH từ tre và gỗ gần như bằng nhau (lần lượt là

2,63%, 2,64%). Tỷ lệ này thấp nhất ở TSH với nguồn nguyên liệu là rơm rạ, chỉ có

0,92%. Oxy là nguyên tố có tỷ lệ lớn thứ 2, sau các bon, trong nguyên tố được xác

định trong các mẫu TSH. Gỗ keo lai cho TSH có tỷ lệ oxy cao hơn cả (12,89%),

thấp nhất là với TSH từ rơm rạ, chỉ có 5,89% oxy [1].

– Bảng 1.2. Hàm lượng tro, CHC bay hơi và một số nguyên tố có trong các mẫu

TSH.

Chỉ

tiêu (%)

Tre

Tro

12,1

Gỗ

keo lai

3,8

Rơm

rạ

35,6

C

HC bay

hơi

1

7,0

2

0,08

1

0,5

C

acbon

cố định

6

5,6

6

9,5

4

7,5

C Hacbon

ydro

Nitơ

7

0,3

,63

7

4,2

0,2

,64

5

,92

2 1,02

2 0,39

0 0,85

L

ưu

huỳnh

0

,27

0

,18

O

xy

8

,38

1

2,89

– (Nguồn: Phân tích tại Đại học New South Wale, Australia, 2011)

– Diện tích bề mặt (SSA):

 SSA của TSH nhìn chung khá cao: SSA của TSH làm từ phân bò sữa là

5,61m2/g thấp hơn nhiều so với SSA của TSH làm từ vỏ trấu là 27,8m 2/g và

SSA của cả hai loại TSH này đều thấp trong phạm vi của các TSH được sản

xuất từ các sinh khối khác [14].

 SSA của TSH được sản xuất từ rơm ngô là khoảng (SA=17,3m 2/g). Thấy

rằng diện tích bề mặt của TSH tăng lên khi tăng nhiệt độ nhiệt phân. Khi so

sánh với TSH sản xuất từ các nguyên liệu khác như cây gỗ (SA=206,7m 2/g),

thì thành phần sinh khối chứ không phải quy trình sản xuất sinh học đóng

vai trò quan trọng trong SSA của TSH. Diện tích bề mặt lớn cho thấy độ

xốp cao và có tác động quan trọng đến sự hấp phụ kim loại nặng [13].

2.2. Ứng dụng than sinh học trong nông nghiệp.

 TSH làm tăng năng suất cây trồng:

Ngoài việc TSH cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết, các axít humic còn

chứa các hóc môn có khả năng tăng trưởng cây trồng. Vì vậy bón TSH vào đất làm tăng

đáng kể tỷ lệ nảy mầm của hạt giống, sự sinh trưởng phát triển và năng suất cây trồng. Tỷ

lệ nảy mầm có thể tăng 30%, chiều cao cây tăng 24% và sinh khối cũng tăng 13% và

chiều cao của cây có thể tăng thêm 1,26 đến 1,35 lần và sản lượng tăng 2,3 đến 2,4 lần.

Với cây hàng năm năng suất có thể tăng 200% nếu được bón lượng TSH cao [10].

Tất nhiên để tìm ra lượng TSH tối ưu bón cho cây trồng thì cần phải xác

định cho từng loại đất và cây trồng nhất định. Một số nghiên cứu gần đây còn cho thấy tác

dụng của TSH đối với sinh trưởng và năng suất cây trồng còn cao hơn nếu bón kết hợp

với phân khoáng [10].

 TSH cải thiện dinh dưỡng dễ tiêu cây trồng

Bón TSH có thể làm tăng pH và giảm nhôm di động trong đất chua, tại các

vùng đất nhiệt đới bị khoáng hóa mạnh thâm canh cao. Bón TSH làm tăng pH đất đối với

rất nhiều loại thành phần cơ giới khác nhau, mức tăng có thể lên tới 1,2 đơn vị pH. Kết

quả là độ no bazơ tăng đến tận 10 lần so với trước khi bón TSH, còn CEC thì tăng đến 3

lần bởi vì khi bón TSH đồng thời cũng bổ sung thêm các nguyên tố kiềm K, Ca, Mg vào

dung dịch đất, tăng pH đất và tăng dinh dưỡng dễ tiêu cho cây trồng trong đất. Nhiều

nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng kể cả lượng TSH nhỏ bón vào đất thì cũng tăng một cách

đáng kể lượng cation kiềm trong đất, kể cả lượng đạm tổng số và lân dễ tiêu cũng tăng

hơn so với đối chứng.

 TSH cải thiện khả năng giữ nước và ổn định cấu trúc đất

TSH không những làm thay đổi đặc tính hóa học đất mà còn ảnh hưởng tính

chất lý học đất như khả năng giữ nước của đất. Những tác dụng này có thể nâng cao

lượng nước dễ tiêu cho cây trồng và giảm xói mòn đất. Những đặc tính lý hóa học của các

loại đất nghèo hữu cơ thường được cải thiện bằng các hình thức canh tác gắn liền với việc

sử dụng chất hữu cơ như phân xanh, chất thải hữu cơ và các chất mùn từ than. Một nhược

điểm rất lớn của việc sử dụng tàn dư hữu cơ là phải bón một lượng rất lớn từ 50 đến 200

tấn/ha thì mới cải thiện được một phần đặc tính của đất. Đáp ứng được lượng bón lớn như

vậy là tương đối khó. Trong khi đó chỉ cần bón một lượng nhỏ (1,5 tấn/ha) than giàu axít

humic cũng làm tăng từ 20 đến 130% hạt kết ổn định. Hơn nữa chất thải hữu cơ lại có thể

chứa rất nhiều chất ô nhiễm hữu cơ và vô cơ.

 TSH làm giảm mức độ thấm sâu của các chất trong đất

TSH có thể hạn chế sự thấm sâu của các chất gây ô nhiễm trong đất nông

nghiệp. Điều này có thể do bởi khả năng hút bám của TSH đối với các chất hòa tan như

Al3+, NO3-, PO43- và các ion hòa tan khác [15]. Với khả năng này, than sinh học nên được

nghiên cứu để ứng dụng vào việc hạn chế rửa trôi dinh dưỡng bề mặt ở các lưu vực và

hạn chế ô nhiễm nước ngầm gây ra bởi sự thấm sâu của các hóa chất sử dụng trong nông

nghiệp.

Theo một nghiên cứu của Zhang và cộng sự (2011) về đánh giá ảnh hưởng

của than sinh học đến năng suất ngô và khí nhà kính trên đất sét tích vôi nghèo cac bon

hữu cơ tại Hà Nam, Trung Quốc, thí nghiệm bón than sinh học được làm từ rơm lúa mỳ

nhiệt phân bằng lò ở nhiệt độ từ 350 – 550 0C với lượng bón từ 0, 20, 40 tấn/ha. Thí

nghiệm này cho thấy than sinh học làm tăng năng suất ngô từ 7,3 đến 15,8% mà không

cần bón thêm nitơ và 8,8 và 12,1% tương ứng với 20 tấn/ha và 40 tấn/ha than sinh học kết

hợp với phân nitơ. Trong nghiên cứu này cũng cho thấy năng suất cây trồng tăng tương

ứng với lượng than sinh học bón vào đất [15]

 Xử lý các chất ô nhiễm khác và làm phân ủ

Chất thải nông nghiệp như rơm rạ, phân chuồng giàu chất hữu cơ và các

nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng, do đó rất thuận lợi cho việc bổ sung vào

đất với mục đích cải thiện tính chất của đất và trả lại chất dinh dưỡng và tăng hàm lượng

hữu cơ trong đất.

Ủ phân compost là một trong những biện pháp ứng dụng rộng rãi đối với

quá trình tái chế chất thải nông nghiệp, điều mà có thể tránh được những bất lợi do các

độc tố khi bón trực tiếp vào đất. TSH như một nhân tố có tác động lớn có thể thúc đẩy quá

trình ủ không chỉ tạo cấu trúc và bổ sung chất khô mà còn cung cấp C và năng lượng cho

các vi sinh vật. Nó cho thấy rằng, than sinh học là tác nhân tối ưu hóa cho quá trình ủ

phân gia súc, gia cầm bằng cách làm giảm mùi hôi và mất N cũng như tạo ra loại phân ủ

có thành phần dinh dưỡng cân bằng. Do vậy, than sinh học có vai trò hỗ trợ trong việc xử

lý hoặc thay thế sự dụng chất thải nông nghiệp.

 Than sinh học xử lý môi trường đất ô nhiễm.

Các chất ô nhiễm có thể gây độc hại đối với hệ sinh thái nếu chúng di

chuyển vào đất và đi vào cây trồng, sinh vật hoặc thấm vào nước ngầm. Than sinh học đã

được chứng minh là một chất hấp thu hiệu quả các chất gây ô nhiễm khác nhau, chất hữu

cơ và chất vô cơ vì chúng có diện tích bề mặt lớn và có cấu trúc đặc. Nhiều nghiên cứu

khác cũng cho thấy than sinh học làm từ các vật liệu khác nhau có khả năng hấp thu kim

loại nặng các chất ô nhiễm hữu cơ như PAHs, thuốc trừ sâu và các chất ô nhiễm khác

[11].

2.3. Tình hình nghiên cứu và sử dụng than sinh học trên thế giới

và Việt Nam

• 2.3.1. Thế giới

Các nghiên cứu về biochar trên thế giới đã được tiến hành cách đây khá lâu

và từ năm 2007 bắt đầu có những bài báo công bố về loại than này. Khái niệm về biochar

ngày càng được chú ý trên cả trường chính trị và học thuật, với một số nước (ví dụ: Anh,

New Zealand, Mỹ) thiết lập các “Trung tâm nghiên cứu biochar’”. Những phân tích tổng

hợp các hiệu quả quan sát được từ sự ứng dụng biochar vào đất của Verheijen và nnk

(2009) cho thấy sự gia tăng của năng suất mùa vụ: trung bình tăng 12% năng suất cây

trồng/năm. Những lý do chính được đưa ra là tăng cường khả năng giữ phân bón, giữ

nước, tăng trao đổi cation và giảm độ chặt đất. Thêm vào đó, lợi ích môi trường từ việc

ứng dụng biochar vào đất bao gồm giảm sự mất nitơ vào nước và không khí, và giảm nhu

cầu phân bón.

Biochar đã được ứng dụng nhưng chưa phổ cập trên thế giới, ví dụ như ở

Mỹ, Úc, Ấn Độ, Philippines, Thái Lan … và ở Châu Phi. Nhưng có nơi lại rất phổ cập như

Hawai [19].

Hiện nay nhiều vùng trên khắp thế giới đã áp dụng bón than sinh học cho

đất, than sinh học được sản xuất bằng phương pháp nhiệt phân ở nhiệt độ từ 5.500C –

7.000C với điều kiện yếm khí (điều kiện thiếu oxy và áp suất lớn thì cacbon sinh khối

không bị cháy toàn bộ mà chuyển sang dạng giữa khoáng và hữu cơ) trong các Biochar

Reactor hay lò đốt nhiệt phân chuyên dụng với công suất lớn 100 – 200 tấn biochar/ngày.

Theo GS Lehmann đã trình bày ở Hội hóa học Mỹ rằng sử dụng than sinh

học cộng với phân hóa học đã làm tăng trưởng lúa mỳ mùa đông và rau quả lên 25-50%

so với bón một mình phân hóa học. TS. N.Sai Bhaskar Reddy (2008) nghiên cứu ở đậu

tương cũng nhận xét rằng có thêm Biocarbon vào đất nền, tỷ lệ nảy mầm cao, hệ rễ phát

triển mạnh, quang hợp tăng, hoạt động của vi khuẩn cộng sinh cố định nitơ mạnh mẽ hơn

so với đối chứng (trên đất nền). [11]

Kết quả nghiên cứu mới nhất cho thấy, sản lượng cây trồng ở các vùng đất

bón Biochar ở Canada tăng lên từ 6-17% so với đối chứng, thân cây cứng hơn và bộ rễ

phát triển nhiều hơn (đến 68%). Hao hụt dưỡng chất phân bón do bị rửa trôi giảm rõ rệt,

trong đó hiện tượng mất lân giảm đến 44%.

Theo Elmer, Wade, Jason C. White, and Joseph J. Pignatello, Đại học tổng

hợp Connecticut (2009) thì cho thêm than sinh học vào đất sẽ có được giá trị sinh học đặc

biệt quan trọng bởi nó sẽ hấp thụ các chất ô nhiễm như kim loại, đặc biệt là kim loại nặng

và thuốc trừ sâu ngấm vào đất nên không gây ô nhiễm các nguồn cung cấp thực phẩm. [8]

Theo GS Johannes Lehmann, bộ môn Khoa học cây trồng và đất – Đại học

Cornell đã nói tại Hiệp hội khoa học và tiến bộ Mỹ (2006) rằng: “Các kiến thức mà chúng

ta có thể đạt được từ nghiên cứu các loại đất đen được tìm thấy trên toàn khu vực sông

Amazon không chỉ dạy chúng ta làm thế nào để khôi phục đất bị suy thoái, sản lượng thu

hoạch tăng gấp ba và hỗ trợ một mảng rộng các loại cây trồng trong vùng có đất nông

nghiệp nghèo mà còn có thể dẫn đến các công nghệ để cô lập carbon trong đất và ngăn

chặn những thay đổi quan trọng về khí hậu thế giới”. Từ những nhận định và nghiên cứu

trên, cho thầy rằng Biochar đang là một nguồn năng lượng sinh học tiềm năng được nhiều

nước quan tâm. [12]

• 2.3.2. Việt Nam

Việt Nam có một tiềm năng sinh khối đáng kể là những phế phụ phẩm nông

nghiệp. Theo ước tính Việt Nam với sản lượng lúa là 38 triệu tấn/năm (GSO, 2009) thì sẽ

có tương ứng 38 triệu tấn rơm rạ, 6-7 triệu tấn trấu. Ngoài lúa còn có khoảng 1,4 triệu tấn

lá mía (chỉ tính lượng nông dân đốt tại ruộng) và một lượng không nhỏ các nguồn phụ

phẩm khác như cỏ, lá, mùn cưa, bã mía…Đây là nguồn vật liệu rất phong phú và đầy hứa

hẹn cho sản xuất TSH để phục vụ cuộc sống. [7]

Sử dụng TSH không mới ở Việt Nam. Đã có nhiều nghiên cứu công nghệ và

chế tạo thiết bị để sản xuất và ứng dụng TSH như Viện Môi trường Nông nghiệp (Viện

Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) nghiên cứu sản xuất thành công TSH từ dăm gỗ, mùn

cưa, rơm, rạ, trấu, bã mía, ngô, cà phê; Mai Thị Lan Anh (Đại học Khoa học – Đại học

Thái Nguyên) có sáng chế TSH từ rơm rạ, củi, lõi ngô, trấu dùng làm phân bón; Đại học

Nông Lâm – Đại học Huế đã nghiên cứu, thiết kế và chế tạo thành công lò đốt tạo TSH từ

phế phụ phẩm nông nghiệp công suất từ 50 đến 300 kg trấu nguyên liệu/mẻ (2 giờ đốt),

với các ưu điểm như tiết kiệm thời gian, công sức, ít tạo khói và khí thải, hiệu suất thu hồi

TSH đạt từ 95 – 99%; Viện Thổ nhưỡng Nông hóa đã sử dụng TSH làm từ trấu để làm giá

thể, đất nhân tạo và phân bón hữu cơ vi sinh để sản xuất hoa cây cảnh và các loại rau đặc

sản; Công ty CP Phân bón và Dịch vụ tổng hợp Bình Định (Biffa), năm 2007 đã nhận

chuyển giao công nghệ từ Công ty Sino – Nhật Bản để sản xuất TSH từ cây bạch đàn rừng

trồng và đưa ra thị trường nhiều loại sản phẩm từ TSH; Hợp tác xã Công nghiệp – Dịch vụ

Hưng Thịnh phường Nông Tiến (thành phố Tuyên Quang) được thành lập năm 2010,

chuyên sản xuất và đưa ra thị trường TSH từ mùn cưa. Và tại Sở Khoa học và Công nghệ

TP.HCM, đề tài “Nghiên cứu sản xuất than sinh học từ lục bình phục vụ sản xuất nông

nghiệp” đang được Trung tâm Nghiên cứu đất phân bón và môi trường phía Nam triển

khai…[17].

Theo TS. Nguyễn Hữu Ninh: “Chúng ta đi theo hai hướng: một là sản xuất

lớn (biochar) bài bản về công nghệ và đắt tiền hơn; thứ hai sản xuất theo cách thủ công,

bán thủ công, bán tự động theo mô hình hộ gia đình, các hộ gia đình, một làng, một xã với

một hệ thống như thế”. [16]

 Sử dụng than sinh học cho nông nghiệp

– Việt Nam, thử nghiệm sử dụng TSH để trồng lúa ở Thái Nguyên, với NPK + 2,5

tấn TSH cho năng suất lúa chỉ đứng sau NPK + 10 tấn compost (Bảng 1.3); trong

khi trồng rau với NPK + compost cho năng suất cao nhất, nhưng nếu bón thêm

TSH, năng suất lại giảm (Bảng 1.4). Với TSH từ trấu, trồng đậu phộng ở Ninh

Thuận bón đồng thời NPK+ phân xanh + TSH cho năng suất cao nhất (Bảng 1.5).

Để sử dụng TSH đạt hiệu quả, cần có những nghiên cứu áp dụng cụ thể cho từng

loại TSH theo từng vùng đất và loại cây trồng.

– Bảng 1.3. Ảnh hưởng của TSH đến năng suất lúa tại Thái Nguyên và Thanh

Hóa

– Công

– Thái Nguyên

– Thanh Hóa

– Năng

thức

– NPK

– 2,5 tấn

TSH

– NPK +

0,5 tấn

TSH

– NPK +

2,5 tấn

TSH

– NPK +

10 tấn

compost

– So sánh

năng

suất khi

chỉ bón

NPK

(%)

suất

trung

bình

(Tấn/ha)

– Năng

suất

trung

bình

(Tấn/ha)

– So sánh

năng

suất khi

chỉ bón

NPK

(%)

– 5,54

– 100

– 5,73

– 100

– 4,34

– 78,2

– 4,47

– 78,1

– 5,94

– 107,1

– 6,06

– 105,9

– 6,78

– 122,3

– 6,77

– 118,2

– 7,2

– 130

– 7,07

– 123,5

– Nguồn [16]

– Ghi chú: ở Thái Nguyên TSH từ rơm, ở Thanh Hóa TSH từ trấu + tre + cây gỗ;

NPK lần lượt là 90, 60, 60 kg/ha; compost gồm phân trâu bò + chất thải nông

nghiệp.

– Bảng 1.4. Ảnh hưởng của TSH lên sản lượng rau tại Thái Nguyên và Thanh

Hóa

– Thái Nguyên (rau mồng

– Thanh Hóa (rau

tơi)

– Năng

– Công thức

– Thực tế của

nông dân

– Compost

không TSH

suất

trung

bình

(Tấn/ha

)

muống)

– So sánh

– Năng

– So sánh

năng

suất khi

chỉ bón

NPK

(%)

suất

trung

bình

– (Tấn/ha)

năng

suất khi

chỉ bón

NPK

(%)

– 14,33

– 100

– 16,83

– 100

– 17,67

– 123,3

– 22,43

– 133,3

+ NPK

Compost 5%

TSH + NPK

Compost với

25% TSH +

NPK

– 17,5

– 122,1

– 22,8

– 135,5

– 15,00

– 104,7

– 17,8

– 106,2

– Nguồn [16]

– Ghi chú: TSH từ rơm (ở Thái Nguyên)/ trấu (ở Thanh Hóa) + tre + cây gỗ; NPK

lần lượt là 90, 60, 60 kg/ha; compost gồm phân trâu bò + chất thải nông nghiệp.

– Bảng 1.5. Ảnh hưởng của TSH lên sản lượng đậu phộng ở Ninh Thuận

Không bón phân

TSH

NPK

TSH + NPK

Phân xanh

TSH + phân xanh

Phân xanh + NPK

TSH + Phân xanh + NPK

– Sản lượng ( Tấn/ha)

– 1,08

– 1,59

– 1,61

– 2,05

– 1,48

– 1,73

– 1,77

– 2,29

– Nguồn [16]

– Ghi chú: TSH từ các lò đun trấu: 12 tấn/ha; NPK: lần lượt 30, 26, 75 kg/ha; phân

xanh: 5 tấn/ha.

o 3. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

3.1. Vị trí địa lý

Hiệp Hòa thuộc vùng trung du miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Bắc Giang,

có diện tích đất tự nhiên 201,12km 2 với 25 xã và 1 thị trấn, phía Đông giáp huyện Tân Yên

và Việt Yên, phía Tây giáp huyện Sóc Sơn (Hà Nội), phía Nam giáp huyện Yên Phong (Bắc

Ninh), phía Bắc giáp huyện Phổ Yên và Phú Bình (Thái Nguyên) [16].

Hình 1.3. Bản đồ huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang.

Địa hình đặc trương là đồi núi thấp xen kẽ các đồng bằng lượn sóng thấp dần

từ Đông – Bắc xuống Tây – Nam. Khí hậu ôn hòa, ít chịu ảnh hưởng của bão, nhiệt độ trung

bình 23,40C. Lượng mưa trung bình cao nhất là tháng 8, thấp nhất là tháng 12. Độ ẩm

không khí trung bình tương đối cao, khoảng 82%, độ ẩm trung bình thấp nhất 65%. Về mùa

đông vùng chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, mùa hạ hướng gió thịnh hành là gió

mùa Đông Nam.

3.2. Tài nguyên đất

Về đất, có 7 thành phần: Đất phù sa được bồi (Pb), đất phù sa không được bồi

( P), đất phù sa Gờ lây ( Pg), đất phù sa úng nước ( Pj), đất bạc màu trên phù sa cổ ( B), đất

nâu vàng trên phù sa cổ ( Fp), đất đỏ vàng trên đá sét Fs. Với thành phần đất như trên, có

thể vừa phát triển cây lương thực, vừa phát triển các loại cây công nghiệp ngắn ngày có giá

trị kinh tế cao như lạc, đậu tương … và các loại cây ăn quả trên các vùng đồi thấp.