Đánh giá người Việt Nam – Wikipedia tiếng Việt

Đánh giá người Việt Nam là những đánh giá và nhận xét về tư duy, tính cách, tâm lý và tập quán của người Việt Nam qua các thời kỳ khác nhau đã được một số học giả trong và ngoài nước đưa ra trong các tác phẩm báo chí, tác phẩm văn học, các tiểu luận hay các công trình nghiên cứu xã hội học và dân tộc học. Các đánh giá này được nêu ra tại những thời điểm lịch sử khác nhau, bắt đầu từ đầu thế kỷ XX, trong đó có một phần đáng kể về vai trò và tính hai mặt, ưu và nhược điểm, của tư duy, tính cách, thói quen, tập quán người Việt trong tiến trình phát triển của dân tộc. Các tổng kết dựa trên các nghiên cứu còn một số khác là nhận định cá nhân hay suy diễn logic của các học giả nổi tiếng. Tính hai mặt của người Việt Nam đã được đa số các học giả thừa nhận và khẳng định trong các công trình nghiên cứu về tâm lý, văn hóa, xã hội và lịch sử dân tộc. Những đặc điểm phổ biến trong tính cách, tâm lý và tập quán của người Việt mà các tác giả đã chỉ ra cũng không bất biến mà thay đổi theo sự thay đổi của những điều kiện xã hội cùng với sự giao lưu kinh tế, văn hóa, tư tưởng, học thuật với thế giới.

Trước thế kỷ 20[sửa|sửa mã nguồn]

Trang tiên phong cuốn Đại Việt sử ký toàn thư .Trong sách ” Đại Việt sử ký toàn thư ” đã có ghi chép về đặc thù tính cách của người Việt. [ 1 ] Đến thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh ; những thương nhân phương Tây và những nhà truyền đạo Công giáo đã mở màn ghi chép về tính cách con người Việt. Đơn cử như trong sách Xứ đàng trong năm 1621 của tác giả người Ý Cristoforo Borri ; ông đã có lời nhận xét và miêu tả về tính khí con người xứ Đàng Trong. [ 2 ]

Tới thời nhà Nguyễn, các sách do triều đình biên soạn “Đại Nam thực lục”, và “Việt sử thông giám cương mục” cũng có ghi chép về đặc điểm tính cách của người Việt.[1]

Thời Pháp thuộc[sửa|sửa mã nguồn]

Nghiên cứu về đặc thù tính cách thói quen của người Việt đã được những học giả phương Tây, đặc biệt quan trọng là Pháp thực thi từ khi thực dân Pháp bảo lãnh An Nam. Tự phán và tự trào tính cách của dân tộc bản địa thì phải nói đến một nhân vật nổi danh trên trường văn học và báo chí truyền thông là Nguyễn Văn Vĩnh ( 1882 – 1936 ) ở đầu thế kỷ 20. Khi còn bỉnh bút cho tờ báo quốc ngữ sinh ra sớm nhất ở Bắc Kỳ ” Đăng cổ tùng báo ” [ 3 ] ( 1907 ) Nguyễn Văn Vĩnh dưới bút danh giả nữ là Đào Thị Loan đã viết những bài phê phán can đảm và mạnh mẽ những thói hư tật xấu như tục đốt vàng mã, thói hư danh, nạn cờ bạc … Đến khi trở thành chủ bút tờ ” Đông Dương Tạp chí ” trong hai năm 1913 và 1914, ông mở một phân mục mang tên là ” Xét tật mình ” lấy cảm hứng từ một câu của văn hào Pháp Emile Zola : ” Nói hết, để biết hết, để chữa hết ” ( Tout dire pour tout connaitre, pour tout guérir ) và lý giải thêm rằng : ” Các nết xấu, những hủ tục của người Việt Nam ta, cần nói hết ra, đừng có giấu giếm, ai cũng biết thì mới sửa được. Luân lý là phải dạy người ta biết gốc rễ điều ác để tự nguyện tránh, mầm mống điều thiện để tự giác làm điều thiện “. [ 4 ]

Nghiên cứu tính cách của con người Việt Nam dưới góc độ văn hóa được thể hiện trong các công trình nghiên cứu như “Việt Nam phong tục” (1915) của Phan Kế Bính, “Việt Nam văn hóa sử cương” (1938) của Đào Duy Anh, “Văn minh nước Nam” (1944) của Nguyễn Văn Huyên, Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu trong cuốn Ðất Lề Quê Thói (Phong Tục Việt Nam) cũng có những nhận xét về tính cách và phong tục người Việt. Các học giả nổi tiếng như Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Ngô Đức Kế,Trần Trọng Kim… cũng như những nhà cách mạng hàng đầu như Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu đều có những nhận xét về tính cách người Việt. Những nhận xét này đã được tập hợp lại và xuất bản trong sách “Người xưa cảnh tỉnh” (2019)[5]. Các học giả Pháp cũng có những nghiên cứu về người Việt như “Tâm lý dân tộc An Nam” của Paul Giran, “Người Nông Dân Châu Thổ Bắc Kỳ” của Pierre Gourou…

Sau năm 1945[sửa|sửa mã nguồn]

Nghiên cứu tính cách của con người Việt Nam dưới góc nhìn khoa học lịch sử dân tộc có khu công trình ” Xã thôn Việt Nam ” ( 1959 ) và ” Tìm hiểu tính cách dân tộc bản địa ” ( 1963 ) của Nguyễn Hồng Phong. [ 6 ]Nghiên cứu tính cách của con người Việt Nam dưới góc nhìn tâm lý học có những khu công trình điều tra và nghiên cứu của Đỗ Long, Vũ Dũng, Phạm Minh Hạc như ” Những điều tra và nghiên cứu tâm lý học ” ( 2007 ) của Đỗ Long, ” Tâm lý người Việt Nam đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa – Những điều cần khắc phục ” ( 2004 ) của tập thể tác giả hội viên Hội khoa học Tâm lý – Giáo dục học Việt Nam do Phạm Minh Hạc chủ biên .Tiếp cận giá trị truyền thống lịch sử của dân tộc bản địa và điều tra và nghiên cứu tính cách của con người Việt Nam dưới góc nhìn giá trị học có tác phẩm ” Về giá trị và giá trị châu Á ” ( 2005 ) của Hồ Sỹ Quý, ” Giá trị niềm tin truyền thống cuội nguồn của dân tộc bản địa Việt Nam ” ( 1980 ) của Trần Văn Giàu .Nghiên cứu văn hóa truyền thống Việt Nam có ” Tìm về truyền thống văn hóa truyền thống Việt Nam ” ( 1996 ), của Trần Ngọc Thêm, ” Việt Nam – văn hóa truyền thống và con người ” của Nguyễn Đắc Hưng .Tính cách của con người Việt Nam còn là đề tài của nhiều bài viết trên những báo và tạp chí. [ 7 ] [ 8 ] [ 9 ]Về điểm yếu kém của người Việt, ở ngoài Việt Nam, gần đây có cuốn ” Tổ quốc ăn năn ” ( 2001 ) của ông Nguyễn Gia Kiểng và cuốn ” Văn Hóa ngưng trệ nhìn từ Thành Phố Hà Nội Đầu Thế Kỷ 21 ” ( 2001 ) của Lê Thị Huệ nêu lên nhiều khuyết điểm của người Việt. Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn có một cuốn sách nhan đề ” Người Việt xấu xí ” nói về thói quen và tính xấu của người Việt. Nhà xuất bản Thanh niên cũng xuất bản sách ” Người Việt – Phẩm chất và thói hư tật xấu ” ( 2009 ) của nhiều tác giả. [ 10 ]

Đặc điểm chung[sửa|sửa mã nguồn]

Trong tính cách nói chung của con người Việt Nam và trong từng nét tính cách nói riêng đều chứa đựng tính hai mặt, cái tốt và cái xấu, giá trị và phản giá trị. [ 11 ] Một số tác giả cho rằng con người Việt Nam có những nét tính cách truyền thống cuội nguồn như lòng yêu nước, niềm tin đoàn kết, coi trọng tình nghĩa, chịu khó, hiếu học đã tạo nên lịch sử vẻ vang đặc trưng của Việt Nam. Có quan điểm cho rằng chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt hàng loạt lịch sử dân tộc Việt Nam từ cổ đại đến văn minh. [ 12 ] Lịch sử Việt Nam cho thấy sức sống của người Việt, sức chịu đựng, năng lực thích nghi với thực trạng và vượt qua nghịch cảnh để sống sót và tăng trưởng. Nhờ phẩm chất đó mà người Việt vẫn còn sống sót như thể một dân tộc bản địa có một vương quốc độc lập cho đến thời nay trong khi nhiều dân tộc bản địa khác ở Châu Á Thái Bình Dương đã bị đồng nhất hay không duy trì nổi nhà nước của họ. [ 13 ] Người Việt cũng thiếu kinh nghiệm tay nghề quan hệ với quốc tế bên ngoài, quen sống co lại, ít có khao khát ra quốc tế, khám phá quốc tế. Tuy nhiên người Việt cũng có ưu điểm là thích nghi nhanh, học nhanh nhưng hời hợt, dễ dãi chứ không phải đảm nhiệm ở bề sâu văn hóa truyền thống. [ 14 ]Ngoài ra, thái độ coi trọng hội đồng cũng là tính cách truyền thống lịch sử đặc trưng của con người Việt Nam. [ 11 ] Mặc dù tính hội đồng cao là một nét tính cách của con người Việt Nam có tiềm ẩn nhiều giá trị, tuy nhiên cạnh bên đó cũng có nhiều mặt hạn chế. Cộng đồng được tôn vinh quá mức đã ức chế sự tăng trưởng đậm cá tính, ngưng trệ sự tăng trưởng cá nhân vì hội đồng không đồng ý cá thể đứng ngoài hội đồng và đậm chất ngầu không tương thích với ” Luật bầy đàn ” của hội đồng. Bên cạnh coi trọng hội đồng, người Việt còn rất coi trọng tình nghĩa. [ 15 ]Bên cạnh đó, người Việt được cho là chịu khó lao động và biết tiết kiệm ngân sách và chi phí, [ 16 ] cộng với niềm tin hiếu học, [ 17 ] thực chất mưu trí, dễ tiếp thu và một nền giáo dục có truyền thống cuội nguồn cả ngàn năm. Người Việt Nam xem giáo dục cao hơn sự phong phú và thành công xuất sắc và là trụ cột của văn hóa truyền thống. [ 18 ] Nhưng giáo sư Trần Ngọc Thêm lại nhận xét ở người Việt cần mẫn là lịch sử một thời, hiếu học là ngộ nhận [ 19 ] .Tuy nhiên, tính cách người Việt có một số ít đặc thù làm ảnh hưởng tác động đến sự tăng trưởng của Việt Nam, làm xấu đi hình ảnh của người Việt nói chung [ 20 ] gây nên nhiều hạn chế trong giao lưu kinh tế tài chính – văn hóa truyền thống, nhất là khi Việt Nam đang trên đường hội nhập sâu hơn với quốc tế. [ 21 ] Những thói hư tật xấu này phản ánh trình độ sống, trình độ làm người của người Việt [ 22 ]. Chính vì thế khi trình độ trí tuệ và đạo đức của người Việt được nâng cao theo thời hạn thì những thói hư tật xấu sẽ ngày càng ít thông dụng trong xã hội .

Theo địa phương[sửa|sửa mã nguồn]

Sách Xứ Đàng Trong năm 1621 của thương gia người Ý Cristoforo Borri, có ghi chép về đặc tính của người Việt ở Đàng Trong như sau:[2]

  1. Dịu dàng và lịch thiệp
  2. Trọng khách, giản dị,
  3. Đoàn kết, thành thật với nhau
  4. Hay chia sẻ, quảng đại
  5. Yêu thích và dễ tiếp thu văn hóa nước ngoài

Tác giả Peter G. Bourne trong sách Men, stress, and Vietnam xuất bản năm 1970 có nhìn nhận về ưu điểm khiến người miền Bắc chiếm nhiều vị trí quan trọng trong chính quyền sở tại Hồ Chí Minh gồm [ 23 ]

  1. Làm việc chăm chỉ,
  2. Có tính kiên trì,
  3. Luôn mong muốn vượt lên phía trước.

Ông Mai Thanh Thế nhìn nhận người Nam Bộ có những ưu điểm là : [ 24 ] yêu nước, khí phách, hào hiệp, dân chủ, thực tiễn, năng động, phát minh sáng tạo, ứng biến, tự do, tự chủ, mạo hiểm, cởi mở, lao vào vì nghĩa, cần mẫn .

Đánh giá trong nước[sửa|sửa mã nguồn]

Theo sử gia Trần Trọng Kim, về trí tuệ và tính cách, người Việt có cả tính tốt lẫn tính xấu. Về tính tốt, người Việt ” có trí tuệ minh mẫn, học nhanh, khéo tay, sáng dạ, nhớ lâu, hiếu học, coi trọng tri thức, quý sự lễ phép, mến điều đạo đức, … nhưng bên cạnh những tính tốt, người Việt vẫn có tính tinh vặt, quỷ quyệt, đôi lúc bài bác chế nhạo. Ngoài ra, người Việt mặc dầu thông thường nhút nhát, chuộng tự do, nhưng khi chiến đấu vẫn có can đảm và mạnh mẽ và giữ kỷ luật “. Đồng tình với những nhận định và đánh giá trên, Lương Đức Thiệp cho rằng về đặc thù ý thức thì người Việt đa số mưu trí, nhưng hiếm người lỗi lạc. Bên cạnh đó, trí mưu trí không có chỗ dùng thuận tiện thường tạo điều kiện kèm theo cho thói tinh vặt. Liên hệ với đức tính hiếu học, Thiệp chứng minh và khẳng định ” người Việt Nam hiếu học không phải vì khát hiểu biết mà chỉ vì mong một vị thế ưu thắng trong xã hội. Học so với người Việt không phải để thỏa mãn nhu cầu một khát khao trí tuệ, mà chính là để làm kế mưu sinh “. [ 25 ]

Trong Chương thứ năm trong Việt Nam quốc sử khảo mang tên Sự thịnh suy của dân quyền và dân trí của nước ta, Phan Bội Châu nhận định người Việt có năm “cái ngu”, đó là “hay nghi kỵ lẫn nhau”, “tôn sùng những điều xa hoa vô ích, bỏ bễ những sự nghiệp đáng làm”, “chỉ biết lợi mình mà không biết hợp quần”, “thương tiếc của riêng, không tưởng đến việc ích chung” và “biết có thân mình nhà mình mà không biết có nước”.[26] Trong luận văn Pháp Việt Liên hiệp hậu chi tân Việt Nam, Phan Châu Trinh cho rằng người Việt có hai cặp đặc tính trái ngược nhau, đó là bài ngoại và ỷ ngoại, đi cùng với tự tôn và tự ti. Ông khẳng định hai đặc tính đó có sẵn trong não mọi người, tùy thời mà bộc phát ra rồi trở nên cực đoan, lợi hại đều không thấy.[27] Học giả Phạm Quỳnh nhận định người Việt có “thiên tính đồng hoá”, tức là biết xem xét và bắt chước nhưng không triệt để vào chỗ tinh tuý. Ông cho rằng tính “dễ đồng hoá” đó không phải là cái tính tốt”.[28] Tương tự, thi sĩ Tản Đà trong bài “Mậu Thìn xuân cảm” đã cho rằng tuy trải qua bốn nghìn năm lịch sử nhưng dân tộc Việt “vẫn trẻ con”.[29]

Trong khi đó, bàn về những thói hư tật xấu thường thấy ở người Việt, Nguyễn Văn Vĩnh nhận xét người Việt có tính ỷ lại, ” ăn gian nói dối “, đa nghi, ” đồng bóng “, vay mượn kém phát minh sáng tạo, ” đục nước béo cò “, thói ” gì cũng cười “, tệ cờ bạc … [ 4 ] [ 30 ] Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu trong cuốn Ðất Lề Quê Thói ( Phong Tục Việt Nam ) cũng nhận xét người Việt phần đông ranh vặt, quỷ quyệt, ” bộ tịch lễ phép mà hay khinh khi nhạo báng “, ” tâm địa nông nổi, chém gió, hiếu danh … “. [ 31 ]

Tinh thần thao tác[sửa|sửa mã nguồn]

Hồ Chí Minh cũng có những tác phẩm cảnh báo về những thói hư tật xấu trong tầng lớp cán bộ như Sửa đổi lối làm việc (1947).[32] Theo ông, cha đẻ của mọi thứ khuyết điểm là chủ nghĩa cá nhân. Bệnh tham lam, lười biếng, ba hoa, bè phái, địa phương chủ nghĩa, ham danh vị, quân phiệt, quan liêu, xa rời quần chúng, hẹp hòi, chuộng hình thức, lối làm việc bàn giấy, vô kỷ luật, ích kỷ, hủ hóa và nhiều đức tính xấu khác đều từ đó mà ra.[33] Viết trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm chỉ ra rằng đối với người Việt, khi đứng trước những khó khăn lớn, những nguy cơ đe dọa sự sống còn của cả cộng đồng thì cái nổi lên sẽ là tinh đoàn kết và tính tập thể; nhưng khi nguy cơ ấy qua rồi thì có thể là thói tư hữu và óc bè phái, địa phương lại nổi lên.[34] Trong giao tiếp, khi thấy mình đang đứng trong cộng đồng quen thuộc thì tính thích giao tiếp nổi lên, còn khi vượt ra khỏi cộng đồng, đứng trước người lạ, thì tính rụt rè sẽ lấn át.[35] Ngoài ra, Trần Ngọc Thêm có bàn luận về “tính nước đôi” của người Việt, vừa đoàn kết vừa ích kỷ, thường phát huy tác dụng tốt trong chiến tranh, và thể hiện mặt trái trong hòa bình.[36] Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam Bùi Hoài Sơn cho rằng Tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái của người Việt chỉ xuất hiện trong những hoàn cảnh khó khăn, bần hàn còn trong điều kiện sống tốt hơn, giàu có hơn thì rất ít xuất hiện.[37]

Bên cạnh đó, người Việt thì có triết lý vừa phải, ” lắm thóc nhọc xay “, ” cầu sung vừa đủ xài ” lại vừa không có thói quen coi trọng thời hạn, coi thời giờ là ” cao su đặc “. [ 38 ] Chỉ khi thấy mình thua kém người xung quanh quá nhiều thì mới cố gắng nỗ lực, nhưng ngay khi thấy mình đã như mọi người rồi thì lại thao tác cầm chừng. [ 36 ]

Kinh tế và chính trị[sửa|sửa mã nguồn]

Vương Trí Nhàn nhận định và đánh giá người Việt đang làm kinh tế tài chính bằng tư duy cuộc chiến tranh mặc kệ cái giá của nó. [ 14 ] Ông cho rằng cái xấu của người việt tựu trung lại là ” gian và tham ” .. [ 20 ] Người Việt nặng về bản năng và tự phát, ít lý trí, tâm lý, tầm nhìn của người Việt rất thời gian ngắn, chỉ biết trước mắt, hiện tại. [ 39 ] Ông cho rằng tâm ý và cách tư duy của người Việt mang tính tiểu nông, thiếu đúng chuẩn trong mọi thứ, thiếu khoa học, thiếu điều tra và nghiên cứu, sống bộc phát hồn nhiên. [ 20 ] Tác giả Nguyễn Thị Lan Phương đánh giá và nhận định người Việt có tư duy sản xuất nhỏ : tự phát, đa phần dựa vào kinh nghiệm tay nghề, nghiêng về tình, yếu về lý, tư duy kinh tế tài chính mang tính thiển cận, thực dụng ; tư duy tiểu nông vốn chỉ tương thích với điều kiện kèm theo sản xuất nông nghiệp nhỏ. [ 40 ] Đồng tình với quan điểm trên, Bùi Hoài Sơn cho rằng lối tư duy và sản xuất tiểu nông của người Việt mang tính tùy tiện, manh mún. [ 37 ] Trong khi đó, Đỗ Kiên Trung nêu ba điểm không tích cực trong tư duy người Việt đó là : tầm nhìn thời gian ngắn, tư duy đám đông triệt tiêu tư tưởng cá thể và sự lên ngôi của kinh nghiệm tay nghề. [ 41 ] Phạm Quý Thọ cho rằng nhiều người Việt thiếu phát minh sáng tạo vì sao chép nhiều quá [ 42 ]. Nguyễn Lân Dũng nhận định và đánh giá Người Việt chưa hiểu đúng mặt tích cực của kinh tế thị trường, nhưng lại chịu những tác động ảnh hưởng xấu của kinh tế thị trường. Lòng tham đẩy lùi nhân cách, làm xấu đi những mối quan hệ xã hội. Bên cạnh đó là sự hiếu danh, sính bằng cấp, đặc biệt quan trọng là quan chức nhà nước. Nhiều người Việt lúc bấy giờ cũng coi nặng tiền tài hơn giáo dục. [ 43 ]Trần Đình Thiên, cho rằng Việt Nam chậm tiến là vì cấu trúc tăng trưởng quá bền vững và kiên cố dựa trên con trâu, cái cày và con người hơn nữa phải đương đầu với nhiều cuộc cuộc chiến tranh cho nên vì thế luôn cẩn trọng với những sự thay đổi bên ngoài. [ 44 ] Theo ông người Việt cũng chưa có văn hóa truyền thống tự chịu nghĩa vụ và trách nhiệm mà thường đổ lỗi. [ 44 ] Theo Nguyễn Hồi Loan, tính tôn ti trật tự dòng tộc đã dẫn tới mặt trái : tính gia trưởng, trọng nam khinh nữ, đặc biệt quan trọng là tâm ý địa phương, cục bộ. Nông dân Việt Nam có thói quen lệ thuộc, ỷ lại tập thể, vào số đông. Người Việt cũng có tâm ý cào bằng, đố kỵ, không muốn ai hơn mình. [ 45 ] Tâm lý sĩ diện trong đời sống người nông dân dẫn tới tính khoa trương, trọng hình thức. Người nông dân sẵn sàng chuẩn bị chạy theo những thủ tục nặng nề, nghi lễ tốn kém trong cưới xin, ma chay, hội lễ … gây đói nghèo cho nhiều người dân. Ngày nay văn hóa truyền thống làng xã không riêng gì ở nông thôn mà còn ảnh hưởng tác động tới đời sống đô thị, khiến đời sống đô thị Việt Nam phảng phất những nét phong thái của nông thôn. [ 45 ]Theo Giáo sư Nguyễn Lân Dũng, nhiều người Việt đang tự hạ thấp vị trí của mình xuống, việc gì cũng phải xin xỏ, cầu cạnh, không dám công khái tố cáo những hành vi sai lầm của những người có chức có quyền, biến mình thành hèn kém, chịu khuất phục, làm ngơ trước mọi sai lầm, mọi diễn biến xấu trong xã hội do đời sống xã hội thiếu dân chủ khiến cái xấu không được chỉ đích danh. [ 43 ] Theo ông Vương Trí Nhàn điều quan trọng là tự nhận thức mình là người thế nào. Tất cả tương lai của dân tộc bản địa nằm trong hành vi này. Tuy nhiên một trong những thói xấu của người Việt là rất sợ nói đến thói xấu của mình khiến cả xã hội ngừng hoạt động trong sự tự khen thưởng. [ 22 ] Ngoài ra còn có không ít người mắc căn bệnh ” cuồng vị thế “. Điều này gắn liền với sự thiếu gương mẫu và thoái hoá của quan chức nhà nước những cấp do cỗ máy nhà nước thiếu tin cậy và ít trọng dụng người tài. [ 43 ] Ông Nguyễn Gia Kiểng nhận xét nước Việt Nam đau khổ và nghèo nàn vì văn hóa truyền thống Việt Nam thui chột còn tâm ý người Việt Nam bệnh hoạn [ 46 ] .

Đánh giá từ bên ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Trong cuốn Sách Xứ Đàng Trong năm 1621 của thương gia người Ý Cristoforo Borri, ông cho rằng khuyết điểm của người Việt ở Đàng Trong là nóng tính và hay xin những thứ mình thấy đẹp, dù người có không muốn cho.[2] Còn trong bài viết về người An Nam trong bách khoa toàn thư của Encyclopædia Britannica xuất bản năm 1911 nhận xét người An Nam tuy thích nhàn hạ nhưng chăm chỉ hơn những dân tộc láng giềng, biết kính trọng bề trên và cha mẹ, nhưng không chân thật và không có cảm xúc mạnh, có tình yêu quê hương, xóm làng. Điều đó khiến người Việt khó có thể ở xa nhà lâu ngày. Từ điển này liệt kê những thói hư của người Việt gồm cờ bạc, hút thuốc phiện, kiêu căng và giả dối.

Nhà truyền giáo người Ý Francesco Buzomi khen ngợi việc xã hội Việt Nam có tổ chức cao, người dân Việt Nam thừa hưởng những đức tính, phong tục “đáng khâm phục” là nhờ Khổng giáo. Cũng theo ông này, “người Việt không nghiêng về văn chương, tính tình không thâm hiểm như người Tàu. Họ không quá nghiêng về quân bị, tính tình không độc ác như người Nhật, dễ nghe, dễ tin và nhiều mê tín nhưng người dân Việt dễ nhận ra lẽ phải, không kiêu căng hay tự tin như người Tàu”.[47]

Theo Viện điều tra và nghiên cứu Hoa Kỳ thì người Việt có 10 năng lực cơ bản sau : [ 48 ] [ 49 ]

  1. Cần cù lao động song dễ thỏa mãn.
  2. Thông minh, sáng tạo, song chỉ có tính chất đối phó, thiếu tầm tư duy dài hạn, chủ động.
  3. Khéo léo, song không duy trì đến cùng (ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng của sản phẩm).
  4. Vừa thực tế, vừa mơ mộng, song lại không có ý thức nâng lên thành lý luận.
  5. Ham học hỏi, có khả năng tiếp thu nhanh, song ít khi học đến nơi đến chốn nên kiến thức không hệ thống, mất cơ bản. Ngoài ra, người Việt học tập không phải chỉ vì kiến thức (nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện, vì kiếm công ăn việc làm, ít vì đam mê).
  6. Hiếu khách song không bền.
  7. Tiết kiệm, song nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô bổ (sĩ diện, khoe khoang, thích hơn đời).
  8. Có tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, song hầu như chỉ trong những hoàn cảnh, trường hợp khó khăn, bần hàn, còn trong điều kiện sống tốt hơn, giàu có hơn thì tinh thần này rất ít xuất hiện.
  9. Yêu hòa bình, nhẫn nhịn, song nhiều khi lại hiếu thắng vì những lý do tự ái, lặt vặt, để tiểu cục làm mất đại cục.
  10. Thích tụ tập, nhưng lại thiếu tính liên kết để tạo ra sức mạnh (cùng một việc, một người làm thì tốt, ba người làm thì kém, bảy người làm thì hỏng).

Người Việt thiếu khả năng sáng tạo. Điều này thể hiện rõ trong các số liệu do các tổ chức quốc tế công bố. Năm 2012, Tổ chức Sở hữu trí tuệ toàn cầu (World Intellectual Property Organization – WIPO thuộc Liên hiệp quốc) công bố chỉ số đổi mới và sáng tạo quốc gia, Việt Nam xếp thứ 76/141 nước, đứng thứ 5 trong khu vực sau Singapore, Malaysia, Brunei Darussalam, Thailand. Chỉ số đổi mới và sáng tạo của Việt Nam nhìn chung ở mức dưới trung bình. Số lượng ấn phẩm khoa học ở Việt Nam vào hàng thấp nhất trong khu vực: bằng 1/5 so với Thái Lan (14.594 bài trong cùng thời gian), 1/3 so với Malaysia (9742 bài), 1/14 so với Singapore (45.633 bài), thấp hơn cả Indonesia (4389 bài) và Philippines (3901 bài).[50] Chính vì vậy đóng góp của người Việt cho thế giới rất ít. Trong bảng xếp hạng Chỉ số quốc gia tốt (Good Country Index) của Simon Anholt đánh giá mức đóng góp của các quốc gia cho thế giới, năm 2017 Việt Nam xếp hạng 128/163 nước[51]. Simon Anholt nhận xét “Đáng nói là, các chỉ số như số lượng sinh viên học tập tại nước ngoài, số bài báo quốc tế, số xuất bản phẩm quốc tế, số bằng sáng chế của Việt Nam theo bảng xếp hạng này đều ở mức thấp hơn so với trung bình chung của thế giới“.[cần dẫn nguồn]

Theo Marko Nikolic nhà văn người Serbia, sống ở Việt Nam từ 2014:”… Người Việt còn nhiều tính chất mà tôi ngưỡng mộ. Ví dụ, trong mắt tôi, người Việt có một tinh thần tích cực và lạc quan, biết yêu đời và giữ niềm tin vào cuộc sống bất luận họ gặp khó khăn gì trong đời sống. Dù hoàn cảnh nghèo khó, túng thiếu, gian nan đến đâu, người Việt biết giữ lòng nhiệt tình và giữ nụ cười trên mặt, không để suy sụp tinh thần, không mất đi niềm vui giản dị. Họ có thể chịu đựng một cách kiên cường, họ sở hữu một sức đề kháng đáng kinh ngạc, Paul Giran viết trong Tâm lý người An Nam. Dưới một khí hậu khắc nghiệt […] họ chứng tỏ mình có những phẩm chất lớn lao về sự kiên trì. Ở thái cực khác, nền văn hóa của chúng tôi hay có xu hướng gọi đó là an phận, tức là một thái độ không thực sự tốt vì con người luôn luôn phải phấn đấu để thay đổi số phận và hoàn thiện hoàn cảnh. Cho nên chúng tôi thích nghi ngờ, xem xét lại tình hình, phê phán chính quyền và nắm vai trò chủ động trong việc xây dựng tương lai của mình. Và theo tôi, đây là một thái độ hữu ích mà cả người Việt cần nghĩ tới…”[52]”…Tuy nhiên, tôi có cảm giác người Việt vẫn chưa thực sự tự tin về mình, vẫn tự coi mình kém cỏi, lép vế về giá trị so với người Tây như đang mang mặc cảm, tự ti. Và đây là một điều rất đáng buồn. Tôi hay hỏi ý kiến của học sinh về tính cách người Việt và họ hay đưa ra những từ tiêu cực như bất lịch sự hay lười biếng. Hỏi về lịch sử Việt Nam thì họ lắc đầu, bảo chán như thể không muốn biết đến lịch sử nước mình. Chuyện văn học, điện ảnh cũng vậy: đa phần học sinh của tôi chỉ thích xem phim và đọc sách nước ngoài….”[53]

  • Đào Duy Anh (1938). Việt Nam Văn Hoá Sử Cương, Quan Hải tùng thư
  • Mai Duong Nguyen (1985). Culture Shock A Review of Vietnamese Culture and Its Concepts of Health and Disease. [Cross-cultural Medicine]. West J Med 1985 Mar; 142:409-412
  • Truong Buu Lam (1987). Borrowing and Adaptation in Vietnamese Culture. Southeast Asia Paper No. 25, Center for Southeast Asian Studies, School of Hawaiian~ Asian and Pacific Studies, University of Hawaii at Manoa.
  • Trần Ngọc Thêm (1996). Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam. Nhà Xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh