Quá trình làm giàu quặng. – Tài liệu text
Sản xuất Mangan sunfat từ quặng Pyrolusite
Trong công nghệ luyện kim yêu cầu chất lượng quặng rất khắt khe. Bất cứ
loại quặng nào đem luyện cũng phải đáp ứng thành phần hóa học và tính chất cơ
lý nhất định, trong đó thành phần hóa học của quặng là yếu tố quyết định. Thông
thường quặng đem luyện có hàm lượng kim loại cần luyện càng cao càng tốt,
hàm lượng chất tạp có hại càng thấp càng tốt. Với mỗi kim loại và phương pháp
luyện khác nhau yêu cầu hàm lượng kim loại chính và hàm lượng tạp chất khác
nhau. Để đảm bảo năng suất luyện cao, chất lượng kim loại luyện ra tốt, chi phí
nấu luyện thấp, ít tốn điện, nguyên nhiên liệu, thì quặng đem luyện phải có chất
lượng cao và ổn định. Phần lớn quặng nguyên sau khai thác không đáp ứng được
yêu cầu của luyện kim nên thường phải tiến hành làm giàu.
Mục đích của tuyển quặng là làm tăng hàm lượng chất có ích, loại bỏ càng
nhiều càng tốt các thành phần vô ích và tách các khoáng vật không cùng loại ra
khỏi nhau thành sản phẩm riêng. Quá trình tuyển quặng bao gồm các khâu phân
chia, xử lí làm giàu nguyên liệu trên cơ sở sự khác biệt nhau về các tính chất vật
lý, thậm chí cả các tính chất hóa học của các thành phần. Tuy nhiên, các quá
trình tuyển đôi khi chỉ giới hạn ở việc phân loại các nguyên liệu theo kích thước
như trường hợp tuyển than.
Ngoài ý nghĩa mang lại hiệu quả kinh tế-kỹ thuật đối với các quá trình gia
công tiếp theo, trong đó có luyện kim, tuyển quặng đã và đang góp phần làm
tăng trữ lượng công nghiệp của các khoáng do tận dụng được quặng nghèo và
quặng đa kim.
Trong các quặng kim loại màu, ngoài khoáng vật chính còn có các kim loại
quý, hiếm, tuy với hàm lượng thấp nhưng giá trị cao. Việc tận thu được tất cả
các thành phần có ích trong quặng nghèo và quặng đa kim càng làm tăng ý nghĩa
của tuyển khoáng. Hiện nay tuyển quặng đang dần trở thành ngành sản xuất
8
Sản xuất Mangan sunfat từ quặng Pyrolusite
không phế liệu, tức là tận dụng cả bã thải từ quá trình này cho các mục đích sử
dụng khác và tái sinh các chất phế thải công nghiệp, góp phần bảo vệ môi trường
sinh thái.
Trong quá trình tuyển, quặng khai thác được xử lý qua 3 công đoạn sau:
công đoạn chuẩn bị, công đoạn làm giàu (công đoạn tuyển) và công đoạn hoàn
thiện sản phẩm.
•
Công đoạn chuẩn bị quặng.
Bao gồm các khâu đập, nghiền để giải phóng các khoáng vật có ích ra khỏi
đất đá và phân cấp để chuẩn bị cỡ hạt thích hợp cho công đoạn tuyển sau đó.
Mức độ đập, nghiền tùy thuộc vào độ xâm nhiễm của các khoáng có ích có trong
quặng.
•
Công đoạn làm giàu (tuyển) quặng.
Bao gồm các khâu tuyển nhằm tách các khoáng có ích vào sản phẩm quặng
tinh và loại bỏ đất đá tạp vào sản phẩm bã thải. Quá trính tuyển không nhất thiết
chỉ diễn ra một lần mà có thể phải làm nhiều lần. Trong trường hợp này, sau
khâu tuyển đầu tiên – gọi là tuyển chính, sản phẩm nhận được là quặng tinh với
độ giàu khoáng vật có ích chưa đạt yêu cầu (gọi là bán sản phẩm) và bã thải vẫn
còn chứa một lượng không nhỏ khoáng vật cần tuyển. Sau tuyển chính, các lần
tuyển tiếp theo được gọi là tuyển tinh theo thứ tự I, II, III… Quá trình làm giàu
chỉ kết thúc khi thu được quặng tinh đạt chất lượng thương phẩm. Phương pháp
làm giàu được lựa chọn dựa trên cơ sở sự khác biệt trước hết về tính vật lý và cả
tính chất hóa học giữa các thành phần có ích và đất đá trong quặng. Tùy thuộc
vào tính chất được sử dụng, người ta phân ra các phương pháp tuyển sau đây:
9
Sản xuất Mangan sunfat từ quặng Pyrolusite
Tuyển trọng lực là quá trình dựa trên sự khác nhau về khối lượng riêng
giữa thành phần có ích và đất đá tạp được thể hiện qua tốc độ rơi của các hạt
quặng trong môi trường tuyển nhất định. Môi trường tuyển có thể là lỏng hay
khí. Quặng chủ yếu được tuyển trong môi trường lỏng, có thể ở trạng thái tĩnh
hoặc động. Tuyển trọng lực là phương pháp cổ điển nhất, nhưng cho tới nay vẫn
được sử dụng rộng rãi trong tuyển than và quặng.
Tuyển nổi là quá trình dựa vào sự khác nhau về tính chất hóa-lý bề mặt của
các hạt khoáng. Các tính chất này có thể bị thay đổi dưới tác dụng của thuốc
tuyển. Ở quá trình này, các hạt khoáng vật có ích trong môi trường nước bám
dính chọn lọc lên các bóng khí thành bọt khoáng hóa và nổi trên bề mặt nước, đó
chính là sản phẩm quặng tinh. Phần chìm là bã thải của tuyển nổi. Tuyển nổi ra
đời sau tuyển trọng lực, nhưng thực tế lại là phương pháp được sử dụng rộng rãi
nhất trong tuyển quặng, đặc biệt đối với quặng kim loại màu có độ mịn cao.
Tuyển từ là quá trình dựa trên sự khác nhau về tính từ để phân chia quặng
đầu thành các sản phẩm có tính từ và sản phẩm không có tính từ. Phương pháp
này dùng để tuyển các loại quặng họ sắt.
Tuyển điện là quá trình dựa trên sự khác nhau về tính dẫn điện giữa các
thành phần có ích và đất đá để tách chúng ra khỏi nhau. Phương pháp này chỉ áp
dụng với các quặng có tính dẫn điện.
Các phương pháp tuyển đặc biệt khác dựa vào sự khác nhau về màu sắc,
dạng hạt, hệ số ma sát…Chọn tay cũng thuộc phương pháp này và áp dụng với
quặng cục có độ xâm nhiễm thô hoặc tuyển than có kích thước lớn hơn 80mm.
Tuy nhiên, chọn tay chỉ được coi là một khâu hỗ trợ trong sản xuất thực tế.
•
Công đoạn hoàn thiện sản phẩm.
10
Sản xuất Mangan sunfat từ quặng Pyrolusite
Là công đoạn cuối cùng của quá trình làm giàu quặng, bao gồm các bước:
khử nước bằng cách cô đặc, lọc, sấy; thu gom bã thải vào địa điểm quy định; thu
bụi; lấy mẫu; kiểm tra kỹ thuật…
4.
Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình phân tách quặng.
4.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ
Tốc độ phần lớn các phản ứng hóa học trong quá trình hòa tách đều tăng khi
nhiệt độ tăng, được biểu diễn theo phương trình Arhenius:
k=A
Trong đó:
k: tốc độ phản ứng
A: hằng số đặc trưng cho phản ứng
E: năng lượng hoạt hóa
R: hằng số khí lý tưởng, R=8,314 J/mol.K
T: nhiệt độ tuyệt đối, K
4.2. Ảnh hưởng của nồng độ dung môi.
Nồng độ dung môi ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ phân tách, được biểu diễn
thông qua phương trình định luật Fick I :
11
Sản xuất Mangan sunfat từ quặng Pyrolusite
Trong đó, :
D : hệ số khuếch tán
4.3. Ảnh hưởng của khuấy trộn
Trong điều kiện phân tách thuộc phạm vi động học khuếch tán thì tốc độ
phụ thuộc rất nhiều vào tốc độ khuấy trộn.
Khi phân tách có khuấy dẫn đến sự xáo trộn của hạt rắn trong dung môi xảy
ra mãnh liệt, đặc biệt là khi trọng lượng riêng của pha rắn và pha lỏng chênh
lệch nhau đáng kể.
Có thể nói tốc độ phân tách tỉ lệ với tốc độ khuấy trộn. Tuy nhiên tới một
tốc độ khuấy nào đó, hạt rắn bắt đầu bám sát dung dịch làm tác dụng của khuấy
trộn sẽ không rõ rệt.
4.4. Ảnh hưởng của độ mịn của quặng
Độ hạt có ảnh hưởng lớn đến tốc độ phân tách. Kích thước hạt càng lớn thì
tỉ số diện tích bề mặt trên đơn vị trọng lượng càng lớn, do đó diện tích bề mặt
tiếp xúc càng tăng làm tốc độ phân tách càng nhanh.
Hoạt tính bề mặt của các hạt không những phụ thuộc vào kích thước hạt còn
phụ thuộc hình dạng, tính chất vật lý của quặng.
12
Xem thêm: Download sách Làm Giàu Qua Chứng Khoán
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Việc Làm






