Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đơi với xố đói giảm nghèo. – Tài liệu text

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (347.79 KB, 32 trang )

29
2..3.3. Điều tiết thu nhập dân cư, hạn chế sự chênh lệch quá đáng về mức thu nhập
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta một mặt phải thừa nhận sự chênh lệch về mức thu nhập giữa các tập thể, cá nhân là khách quan;
mặt khác, nhà nước phải hạn chế sự chênh lệch thu nhập quá đáng để khơng dẫn đến sự phân hố xã hội thành hai cực đối lập, bằng cách điều tiết thu nhập và các
giải pháp quản lý. Điều tiết thu nhập là một yêu cầu khách quan trong nền kinh tế thị
trường nói chung, ngay cả trong các nước tư bản chủ nghĩa cũng phải điều tiết thu nhập nhằm duy trì sự ổn định xã hội. ở nứơc ta việc điều tiết thu nhập càng
quan trọng, nhằm hạn chế sự chênh lệch quá đáng về thu nhập để khơng dẫn đến sự phân hố xã hội thành hai cực đối lập.
Điều tiết thu nhập được thực hiện thông qua hình thức : _Điều tiết giảm thu nhập thơng qua hình thức thuế thu nhập và hình thức
tự nguyện đóng góp của cá nhân có thu nhập cao vào quỹ phúc lợi xã hội, từ thiện…
Trong đó thuế thu nhập là hình thức quan trọng nhất chủ yếu nhất và điều tiết làm tăng thu nhập được thực hiện thông qua ngân sách nhà nước, ngân sách
của các tổ chức chính trị- xã hội, các quỹ bảo hiểm qua giá, trợ cấp, phụ cấp các loại, tín dụng tiêu dùng và có thể một phần hiện vật cho một số đối tượng nhất
định , qua các hoạt động từ thiện của các tổ chức và cá nhân. Những điều đó nhằm trợ giúp thường xuyên cho những người có thu nhập thấp, trợ giúp những
người thất nghiệp, những người tham gia bảo hiểm khi gặp rủi ro, những người thuộc diện chính sách xã hội, bổ xung thu nhập mang tính chất bình qn trong
các tổ chức, trong các doanh nghiệp vao các dịp lễ tết…

2.3.4. Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đơi với xố đói giảm nghèo.

Mục tiêu phấn đấu của nhân dân ta là dân giàu,nứơc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Dân có giàu thì nước mới có thể mạnh, nước mạnh
mới có khả năng thực hiện sự cơng bằng xã hội và có cuộc sống văn minh. Vì vậy, phải phát huy nỗ lực làm giàu cho mọi cơng dân. Nhà nước khơng những
30 khuyến khích mọi người làm giàu một cách hợp lý, hợp pháp mà còn tạo điều
kiện, giúp đỡ bằng nhiều biện pháp. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi cơng dân, mọi nhà đầu tư mở
mang ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động, Mọi công dân đều được tự do hành nghề, thuê mứơn nhân công theo pháp luật, phát triển dịch vụ
việc làm. Phân bố lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước .Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Tạo điều kiện cho mọi người lao động
tự tạo, tìm kiếm việc làm. Thực hiện xố đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa bảo hiểm xã hội và các
hoạt động nhân đạo, từ thiện. Để từng bứơc đạt tới sự tiến bộ và công bằng xã hội trong phân phối thu nhập, xuấtphát từ điều kiện cụ thể, nhiệm vụ trước mắt
là phải thực hiện tốt chương trình xố đói giảm nghèo nhất là vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
31
KẾT LUẬN
Ngày nay Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Theo con đường mà Đảng và nhà nước đã lựa chọn là xây dựng nền kinh tế nhiều
thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó lấy kinh tế nhà nước làm trung tâm cho mục tiêu phát triển. Chính vì tồn tại nhiều thành phần kinh tế nên
lợi ích kinh tế của từng thành phần là không giống nhau. Nhưng bản thân mỗi thành phần kinh tế lại luôn muốn lợ ích cao nhất cho mình. Chính vì lễ đó bài
nghiên cứu sẽ như một kim chỉ nam giúp cho những nhà hoạch định kinh tế của đất nước nói chung và các nhà doanh nghiệp nói riêng có thể tự tìm cho mình
một hướng đi đúng đắn và phù hợp. Bài nghiên cứu cũng nhấn mạnh cho người đọc hiểu được rằng: vấn đề cơ
bản để đáp ứng được lợi ích kinh tế là cao nhất đó chính là khi mục đích, lý tưởng và hành động của các chủ thể kinh tế phảI nhất trí với nhau. Muốn vậy thì
vấn đề trước mắt đặt ra cho các doanh nghiệp là phải đáp ứng được công bằng mong muốn của các chủ thể. Đó chính là phải quan tâm tới việc phân phối thu
nhập phù hợp cho các đối tượng lao động khác nhau. Sao cho họ cảm thấy thoả đáng nhờ đó thúc đẩy được mong muốn và lòng say mê lao động, góp phần đạt
lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp nói riêng và cho nền kinh tế của đất nước nói chung.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta hiện nay tồn tại nhiều thành phần kinh tế. Mạc dù quan hệ phân phối có sự đan xen giữa tính
chất phân phối của các thành phần kinh tế nhưng trong đó tính chất phân phối của các thành phần kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo. Do nền kinh tế
nhiều thành phần với nhiều quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất nên tất yếu tồn tại nhiều quan hệ phân phối thu nhập. Ví như trong các doanh nghiệp
nhà nước vốn và tài sản đều là của chung do vậy không thể lấy vốn và tài sản làm thước đo mà buộc phải lấy số lượng và chất lượng lao động làm cơ sở phân
phối. Do đó hình thức phân phối thu nhập theo lao động. Cùng tồn tại tương ứng với quan hệ sở hữu tập thể, sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất thì. Với đặc trưng
32 của nền kinh tế nhiều thanh phần thì hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
cũng kéo theo hình thức phân phối thu nhập khác nữa cho Việt Nam. Đó là phân phối theo vốn, tài sản và các nguồn lực khác. Đặc biệt là trong giai đoạn ngày
nay khi bước đầu hình thành các cơng ty cổ phần tại nước ta thì hình thức nay càng thể hiện rõ nét thông qua lợi tức cổ phần mà các cổ đông nhận được tương
ứng từ số vốn mà các cá nhân trong hội đồng quản trị bỏ ra đẻ mua cổ phiếu. Không chỉ dừng lại ở việc góp chung vồn kinh doanh mà từng bước đã hình
thành rất nhiều các loại góp vốn khác nhau như góp tư liệu sản xuất, đầu tư yếu tố sản xuất, máy móc, nhà xưởng và các nguồn lực khác. Cùng với các hình thức
phân phối thu nhập như đã nêu thì ở Việt Nam ta còn tồn tại phân phối thông qua phúc lợi tập thể và xã hội. Mỗi hình thức phân phối lại tỏ ra có một ưu thế
nhất định, một khả năng riêng. Nhưng tất cả đếu hướng tới mục đích cơng bằng xã hội, dân chủ văn minh. Vì thời gian nghiên cứu cũng như kiến thức sinh viên
năm đầu còn hạn chế. Nên bài viết khơng tránh khỏi thiếu sót. Rất mong được sự góp ý và nhận xét từ phía các thầy các cô cũng như các bạn sinh viên để bài
viết có thể hồn chỉnh và có khả năng thực tiễn cao. Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy Cần đã giúp đỡ em trong việc hoàn thành bài viết này.

Mục tiêu phấn đấu của nhân dân ta là dân giàu,nứơc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Dân có giàu thì nước mới có thể mạnh, nước mạnhmới có khả năng thực hiện sự cơng bằng xã hội và có cuộc sống văn minh. Vì vậy, phải phát huy nỗ lực làm giàu cho mọi cơng dân. Nhà nước khơng những30 khuyến khích mọi người làm giàu một cách hợp lý, hợp pháp mà còn tạo điềukiện, giúp đỡ bằng nhiều biện pháp. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi cơng dân, mọi nhà đầu tư mởmang ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động, Mọi công dân đều được tự do hành nghề, thuê mứơn nhân công theo pháp luật, phát triển dịch vụviệc làm. Phân bố lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước .Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Tạo điều kiện cho mọi người lao độngtự tạo, tìm kiếm việc làm. Thực hiện xố đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa bảo hiểm xã hội và cáchoạt động nhân đạo, từ thiện. Để từng bứơc đạt tới sự tiến bộ và công bằng xã hội trong phân phối thu nhập, xuấtphát từ điều kiện cụ thể, nhiệm vụ trước mắtlà phải thực hiện tốt chương trình xố đói giảm nghèo nhất là vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.31KẾT LUẬNNgày nay Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Theo con đường mà Đảng và nhà nước đã lựa chọn là xây dựng nền kinh tế nhiềuthành phần định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó lấy kinh tế nhà nước làm trung tâm cho mục tiêu phát triển. Chính vì tồn tại nhiều thành phần kinh tế nênlợi ích kinh tế của từng thành phần là không giống nhau. Nhưng bản thân mỗi thành phần kinh tế lại luôn muốn lợ ích cao nhất cho mình. Chính vì lễ đó bàinghiên cứu sẽ như một kim chỉ nam giúp cho những nhà hoạch định kinh tế của đất nước nói chung và các nhà doanh nghiệp nói riêng có thể tự tìm cho mìnhmột hướng đi đúng đắn và phù hợp. Bài nghiên cứu cũng nhấn mạnh cho người đọc hiểu được rằng: vấn đề cơbản để đáp ứng được lợi ích kinh tế là cao nhất đó chính là khi mục đích, lý tưởng và hành động của các chủ thể kinh tế phảI nhất trí với nhau. Muốn vậy thìvấn đề trước mắt đặt ra cho các doanh nghiệp là phải đáp ứng được công bằng mong muốn của các chủ thể. Đó chính là phải quan tâm tới việc phân phối thunhập phù hợp cho các đối tượng lao động khác nhau. Sao cho họ cảm thấy thoả đáng nhờ đó thúc đẩy được mong muốn và lòng say mê lao động, góp phần đạtlợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp nói riêng và cho nền kinh tế của đất nước nói chung.Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta hiện nay tồn tại nhiều thành phần kinh tế. Mạc dù quan hệ phân phối có sự đan xen giữa tínhchất phân phối của các thành phần kinh tế nhưng trong đó tính chất phân phối của các thành phần kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo. Do nền kinh tếnhiều thành phần với nhiều quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất nên tất yếu tồn tại nhiều quan hệ phân phối thu nhập. Ví như trong các doanh nghiệpnhà nước vốn và tài sản đều là của chung do vậy không thể lấy vốn và tài sản làm thước đo mà buộc phải lấy số lượng và chất lượng lao động làm cơ sở phânphối. Do đó hình thức phân phối thu nhập theo lao động. Cùng tồn tại tương ứng với quan hệ sở hữu tập thể, sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất thì. Với đặc trưng32 của nền kinh tế nhiều thanh phần thì hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuấtcũng kéo theo hình thức phân phối thu nhập khác nữa cho Việt Nam. Đó là phân phối theo vốn, tài sản và các nguồn lực khác. Đặc biệt là trong giai đoạn ngàynay khi bước đầu hình thành các cơng ty cổ phần tại nước ta thì hình thức nay càng thể hiện rõ nét thông qua lợi tức cổ phần mà các cổ đông nhận được tươngứng từ số vốn mà các cá nhân trong hội đồng quản trị bỏ ra đẻ mua cổ phiếu. Không chỉ dừng lại ở việc góp chung vồn kinh doanh mà từng bước đã hìnhthành rất nhiều các loại góp vốn khác nhau như góp tư liệu sản xuất, đầu tư yếu tố sản xuất, máy móc, nhà xưởng và các nguồn lực khác. Cùng với các hình thứcphân phối thu nhập như đã nêu thì ở Việt Nam ta còn tồn tại phân phối thông qua phúc lợi tập thể và xã hội. Mỗi hình thức phân phối lại tỏ ra có một ưu thếnhất định, một khả năng riêng. Nhưng tất cả đếu hướng tới mục đích cơng bằng xã hội, dân chủ văn minh. Vì thời gian nghiên cứu cũng như kiến thức sinh viênnăm đầu còn hạn chế. Nên bài viết khơng tránh khỏi thiếu sót. Rất mong được sự góp ý và nhận xét từ phía các thầy các cô cũng như các bạn sinh viên để bàiviết có thể hồn chỉnh và có khả năng thực tiễn cao. Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy Cần đã giúp đỡ em trong việc hoàn thành bài viết này.