a. Khái niệm nông thôn – Tài liệu text

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản không thiếu của tài liệu tại đây ( 947.32 KB, 171 trang )

Về kinh tế-xã hội, hoạt động kinh tế chủ yếu của cư dân nông thôn là làm nông

nghiệp và thu nhập chính là thu từ nông nghiệp. Cơ sở hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội ở

nông thôn thường có diện mạo khác hơn và trình độ phát triển thấp hơn so với của đô thị.

Trình độ phát triển về dân trí, về tư duy sản xuất hàng hoá và kinh tế thị trường của người

dân nông thôn cũng thường thấp kém hơn. Ngoài ra, những di sản văn hoá truyền thống,

những phong tục tập quán cổ truyền ở nông thôn là rất phong phú thể hiện rõ lối sống và

cách sống riêng có của người dân nông thôn so với đô thị.

Từ đó, có thể hiểu nông thôn là khu vực không gian lãnh thổ mà ở đó cộng đồng cư

dân có cách sống và lối sống riêng, lấy sản xuất nông nghiệp làm hoạt động kinh tế chủ

yếu và sống chủ yếu dựa vào nghề nông (nông, lâm, ngư nghiệp); có mật độ dân cư thấp và

quần cư theo hình thức làng xã; có cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội kém phát triển, trình độ về

dân trí, trình độ khoa học kỹ thuật cũng như tư duy sản xuất hàng hoá và kinh tế thị trường

là thấp kém hơn so với đô thị; có những mối quan hệ bền chặt giữa các cư dân dựa trên bản

sắc văn hoá, phong tục tập quán cổ truyền về tín ngưỡng, tôn giáo…

– Từ khái niệm tổng quát nêu trên về nông thôn cho thấy, người ta phân biệt nông

thôn với đô thị dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau. Đến lượt nó, việc phân biệt rõ sự khác

nhau giữa nông thôn và đô thị nhằm chỉ rõ đặc điểm, tính chất của mỗi loại địa bàn kinh

tế- xã hội này sẽ giúp cho việc hoạch định chiến lược phát triển nông thôn và đô thị của

mỗi nước, đặc biệt đối với các nước đang phát triển.

Người ta chú ý ba tiêu chí cơ bản để phân biệt đô thị với nông thôn, đó là: quy mô,

mật độ dân số và cơ cấu lao động theo ngành. Theo Nghị định số72/2001/NĐ-CP ngày

05/10/2001 của Chính phủ về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị thì đô thị bao gồm

thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập.

Theo Nghị định này, các tiêu chí cơ bản để phân loại đô thị gồm:

+ Chức năng là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy

sự phát triển kinh tế-xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định;

+ Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động tối thiểu là 65%;

+ Cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu

chuẩn, quy chuẩn quy định đối với từng loại đô thị;

+ Quy mô dân số ít nhất là 4000 người;

+ Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị.

Các đô thị được phân thành 6 loại, gồm: đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại

II, đô thị loại III, đô thị loại IV và đô thị loại V. Thị trấn là đô thị loại V thuộc Huyện quản

lý, có các tiêu chuẩn chủ yếu là: Đô thị với chức năng là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên

ngành về chính trị, kinh tế, văn hoá và dịch vụ, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã

hội của một huyện hoặc một cụm xã.

Việc phân biệt nông thôn và đô thị theo các tiêu chí như trên là có tính chất tương

đối. Bởi vì giữa nông thôn và đô thị trong nhiều trường hợp không hoàn toàn tách biệt

nhau mà có sự xen ghép, nối tiếp nhau, chồng gối nhau về mặt không gian lãnh thổ, đất

đai, về địa bàn dân cư và về các hoạt động kinh tế xã hội của nông thôn và đô thị. Từ đó có

thể thấy khái quát các dạng nông thôn và đô thị như sau:

7

+ Nông thôn cổ truyền: Bao gồm các làng xã, bản, buôn, sóc… chủ yếu mang tính

chất thuần nông, dân cư làm nghề nông là chủ yếu, các hoạt động công nghiệp và dịch vụ

không đáng kể; dân cư bố trí tương đối rải rác, phân tán.

+ Nông thôn – đô thị: Trong vùng nông thôn có những đô thị nhỏ, thị trấn, các phố

làng, các tụ điểm dân cư tương đối tập trung. Trong nông thôn, ngoài các hoạt động nông

nghiệp còn có các hoạt động công nghiệp và dịch vụ dưới dạng các phố làng, các làng

nghề, các cụm công nghiệp nhỏ và vừa.

+Đô thị: Đó là các thành phố, thị xã, thị trấn, các khu công nghiệp tập trung. Hoạt

động kinh tế ở các đô thị chủ yếu là công nghiệp và các hoạt động dịch vụ.

Gắn liền với quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông

thôn, tất yếu sẽ diễn ra quá trình đô thị hoá nông thôn. Do vậy, việc nắm bắt và tạo ra các

điều kiện thuận lợi thúc đẩy đô thị hoá là đòi hỏi khách quan của công cuộc công nghiệp

hoá đất nước hiện nay.

Thứ hai, tiếp cận phân biệt các khái niệm: nông nghiệp, nông thôn, nông dân.

Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất hay một khu vực của nền kinh tế. Với

tính cách là một ngành sản xuất vật chất, nông nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm

trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và ngư nghiệp. Với tính cách là một khu vực hay là một

bộ phận cấu thành của nền kinh tế, nông nghiệp có mục tiêu phát triển là đảm bảo an ninh

lương thực, thực phẩm cho quốc gia, và có một phần thặng dư để công nghiệp hoá. Muốn

vậy, trong điều kiện kinh tế thị trường, phát triển nông nghiệp phải định hướng cho thị

trường, đảm bảo thoả mãn nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu, do đó nhất thiết

phải thực hiện chuyên canh, chuyên môn hoá với trình độ ngày càng cao.

Nông thôn là lãnh thổ mà ở đó có những cộng đồng cư dân sinh sống với những lối

sống, cách sống cùng các hoạt động sống riêng. Những lối sống, cách sống và các hoạt

động sống của mỗi cộng đồng dân cư khác nhau ở những vùng nông thôn khác nhau ít

nhiều có những khác nhau. Tuy nhiên, nếu xét về nhu cầu phát triển của từng cá nhân con

người cũng như của cộng đồng người, thì đối với bất kỳ vùng nông thôn nào cũng cần có

một nền kinh tế nông thôn phát triển cân đối và toàn diện, một xã hội hài hoà và công

bằng. Muốn vậy, phát triển nông thôn phải mang tính chất tổng hợp, toàn diện, có sự tham

gia và cần phải dựa trên sự tham gia của người dân, do các cộng đồng dân cư địa phương

thực hiện.

Nông dân là những người dân sống ở nông thôn. Nông dân là chủ thể tham gia hoạt

động sản xuất nông nghiệp. Ở nông thôn, ngoài nông dân còn có những người buôn bán

(tiểu thương), những người làm nghề tiểu thủ công nghiệp (tiểu chủ). Dù sống ở bất kỳ

vùng nông thôn nào, thì người nông dân luôn cần có đời sống vật chất và tinh thần ngày

càng được nâng cao cùng với mức sống ở đô thị. Muốn vậy, người nông dân luôn tìm mọi

cách để tăng thu nhập. Xu hướng có tính quy luật phổ biến là người nông dân cần đa dạng

hoá sinh kế. Do vậy họ luôn cần việc làm, tăng thu nhập. Dưới tác động của xu hướng này,

trong thực tiễn hoạt động kinh tế, người nông dân luôn hướng tới đa dạng hoá nông

nghiệp, phát triển các hoạt động phi nông nghiệp. Trong điều kiện đó, để thực hiện phương

châm” ly nông bất ly hương” trong quá trình công nghiệp hoá, cần phải tạo dựng và

8

thường xuyên hoàn thiện môi trường thể chế và chính sách thuận lợi cho phát triển các

hoạt động sản xuất công nghiệp và kinh doanh dịch vụ trong nông thôn.

b. Bản chất phát triển nông thôn.

Mọi sự vật trong tự nhiên và xã hội đều luôn luôn vận động. Bản chất của vận động

là quá trình tích luỹ về lượng và biến đổi về chất của sự vật. Sự tích luỹ dần dần về lượng

trong quá trình vận động gọi là sự tăng trưởng; còn sự biến đổi về chất gọi là sự phát triển.

Như vậy, sự tăng trưởng chính là quá trình thay đổi về kích thước, quy mô, độ lớn hay quá

trình thay đổi về lượng, quá trình lớn lên của sự vật; còn sự chuyển biến hay còn gọi là sự

“nhảy vọt” từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, sự thay đổi về chất của sự vật trong quá

trình vận động gọi là sự phát triển. Tăng trưởng là sự lớn lên về số lượng còn phát triển là

quá trình biến đổi về chất lượng hay phẩm chất của sự vật theo xu hướng tiến bộ. Trong

kinh tế, người ta đã khái quát quá trình phát triển của nông nghiệp thường phải trải qua các

giai đoạn từ trạng thái tự nhiên, tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá giản đơn rồi lên sản

xuất hàng hoá lớn. Người ta cũng dùng thuật ngữ “không tăng trưởng” để chỉ sự vận động

của sự vật mà quy mô về số lượng năm sau không tăng so với năm trước; thuật ngữ “tăng

trưởng âm” để chỉ tình trạng vận động của sự vật nhưng lại giảm đi về số lượng và quy mô.

Trong hoạt động thực tiễn, người ta thường coi trọng phát triển hơn là tăng trưởng,

do vậy gần đây đã xuất hiện thuật ngữ “chất lượng của sự tăng trưởng”, nghĩa là gắn hai

mặt số lượng và chất lượng với nhau, nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Đối với nông thôn,

phát triển nông thôn là sự tăng trưởng, trước hết là tăng trưởng về mặt kinh tế, cùng với

sự biến đổi về chất các mặt văn hoá, giáo dục, y tế, xã hội, an ninh nông thôn theo chiều

hướng tiến bộ hơn.

Đối với từng quốc gia, người ta dùng chỉ số phát triển con người (HDI) làm thước đo

để đo lường trình độ phát triển của mỗi nước. Đây là chỉ số thể hiện tổng hợp ba chỉ số

thành phần gồm: chỉ số thu nhập bình quân đầu người (tính bằng GDP bình quân đầu

người); chỉ số tuổi thọ bình quân và tỷ lệ người biết chữ trong tổng số người trong độ tuổi

đi học. Như vậy, mục tiêu của sự phát triển của mỗi quốc gia chính là sự phát triển toàn

diện của con người của quốc gia đó. Ngược lại, để tạo ra sự phát triển, mỗi quốc gia cần có

các yếu tố nguồn lực, trong đó nguồn lực con người giữ vai trò quan trọng nhất. Con người

vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của mỗi quốc gia. Suy rộng ra đối với khu vực

nông thôn, phát triển toàn diện con người sống ở nông thôn chính là mục tiêu bao trùm và

là động lực phát triển nông thôn trong điều kiện hội nhập hiện nay. Bản chất của phát triển

nông thôn chính là sự phát triển toàn diện các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội nông thôn trên

cơ sở thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.

1.1.2. Đặc trưng cơ bản của nông thôn.

Để hiểu rõ thêm về bản chất của nông thôn, cần nghiên cứu những đặc trưng cơ bản

của vùng nông thôn. Đó là:

a.Tính không đồng nhất về điều kiện phát triển giữa các vùng nông thôn:

Không gian lãnh thổ vùng nông thôn khá rộng, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tự

nhiên, kinh tế, xã hội rất phức tạp về tính chất và quy mô tạo nên tính không đồng nhất về

điều kiện phát triển giữa những vùng nông thôn khác nhau trong một quốc gia cũng như

giữa các quốc gia khác nhau. Với những xuất phát điểm phát triển khác nhau dẫn tới xu

9

hướng tất yếu chênh lệch về thành tựu và trình độ phát triển qua mỗi giai đoạn lịch sử nhất

định. Nhận thức rõ tính quy luật nêu trên, Chính phủ các nước thường có những chính sách

hỗ trợ phát triển đối với những vùng có điều kiện bất thuận và những hỗ trợ này là hoàn

toàn phù hợp với quy định của WTO.

b. Sản xuất nông nghiệp là đặc trưng về nghề nghiệp của nông thôn truyền thống:

Nông thôn là vùng sinh sống và làm việc của cộng đồng dân cư bao gồm chủ yếu là

nông dân, hoạt động kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Có thể nói, sản xuất nông

nghiệp là nét đặc trưng về nghề nghiệp của nông thôn truyền thống. Ngoài hoạt động nông

nghiệp, các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp và dịch vụ được phát triển trong nông thôn

trước hết là những hoạt động nhằm phục vụ cho nhu cầu phát triển của nông nghiệp. Do

vậy, để đảm bảo sự phát triển bền vững của vùng nông thôn, người ta thường chú ý lựa

chọn các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp và dịch vụ nào đó có nhiều mối liên hệ với

đầu vào và đầu ra của sản xuất nông nghiệp ở địa phương để phát triển.

c. Tính tương đối đồng nhất của cộng đồng dân cư và đặc điểm cư trú:

Đặc điểm cơ bản về cách cư trú của dân cư nông thôn là quần cư thành các làng (bản,

buôn, sóc…). Cách bố trí dân cư là tương đối phân tán; vườn và ruộng thường xen kẽ với

nhà ở tạo thành không gian nối tiếp giữa các nhà ở trong cùng một làng. Ở một số bản của

đồng bào dân tộc, đôi khi mỗi nhà ở của một gia đình là trên một quả đồi để tiện canh tiện

cư. Việc bố trí dân cư theo kiểu truyền thống như vậy của bản làng tạo nên những nét riêng

trong xây dựng, quản lý và sử dụng các công trình hạ tầng kinh tế- xã hội của bản làng.

Do tụ cư và sinh sống thành các làng, nên cư dân của làng thường có các mối quan

hệ gắn bó, gần gũi. Các mối quan hệ này được xây dựng trên nền tảng của các mối quan hệ

về địa giới, huyết thống, truyền thống, tập quán, tôn giáo tín ngưỡng… và được thử thách

qua thời gian, tạo nên tính cố kết khá chặt chẽ của cộng đồng làng bản. Trong quá trình

phát triển, dưới tác động của đẩy mạnh công nghiệp hoá, của mở cửa và hội nhập sẽ từng

bước cải biến nông thôn cổ truyền thành nông thôn hiện đại, văn minh. Tuy vậy, những

yếu tố tiến bộ vốn là nền tảng tạo nên lối sống và cách sống của cộng đồng làng bản sẽ vẫn

được lưu giữ và làm sâu đậm thêm với tính cách là các yếu tố văn hoá bản địa.

d. Về trình độ phát triển của nông thôn so với đô thị:

Nói chung, trình độ phát triển kinh tế- xã hội của vùng nông thôn thường là thấp hơn

so với đô thị. Biểu hiện tập trung nhất của tình trạng còn kém phát triển này là ở trình độ

phát triển còn thấp hoặc còn thiếu đồng bộ các yếu tố kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội của

một địa bàn nông thôn cụ thể. Tình trạng kém phát triển của nông thôn, nói đúng hơn là sự

chênh lệch về trình độ phát triển giữa nông thôn và đô thị sẽ tạo nên xu hướng di dân từ

nông thôn ra thành thị. Việc người dân nông thôn đổ về các thành phố để tìm việc làm tạm

thời lại gây ra nhiều tác động tiêu cực khác cho cả thành phố lẫn nông thôn trong quá trình

phát triển.

1.1.3. Vai trò của nông thôn và phát triển nông thôn.

Trong quá trình phát triển đất nước, nông thôn có vai trò rất to lớn trên tất cả các mặt

kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. Lịch sử phát triển trong quá khứ cho thấy đã từng

có một số nước chỉ chú ý nhiều tới phát triển các đô thị, các khu công nghiệp hiện đại mà ít

chú ý đến phát triển nông thôn. Đây là trường hợp các nước như Braxin, Mêhicô, Ấn Độ,

10