1- Quan niệm về văn hóa và đời sống văn hóa – Tài liệu text

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản khá đầy đủ của tài liệu tại đây ( 339.64 KB, 63 trang )

Vào thế kỷ XIX, thuật ngữ văn hóa được những nhà nhân loại học

phương Tây sử dụng như một danh từ chính. Theo E.B Taylo “Văn hóa hiểu

theo nghĩa rộng nhất của nó, là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín

ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập

quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội”3.

Năm 1982, tại Mêhicô, Hội nghị thế giới về chính sách văn hóa vì sự

phát triển đã nêu ra định nghĩa: “Theo nghĩa rộng, ngày nay văn hóa có thể

được coi là toàn bộ các đặc tính đặc biệt về tâm hồn, vật chất, trí tuệ và tình

cảm đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội. Nó không chỉ bao gồm

nghệ thuật và văn học, mà cả lối sống, các quyền cơ bản của nhân loại, các

hệ thống giá trị truyền thống và tín ngưỡng”4.

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích

của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết,

đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật những công cụ

cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ

những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hòa của

mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản

sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” 5.

Có thể nói văn hoá là một khái niệm trừu tượng, nội hàm của văn hoá

không xác định cụ thể, nên rất khó có một khái niệm về văn hoá rõ ràng, đầy

đủ, chính xác. Tuy vậy, từ những điểm tương đồng trong rất nhiều khái niệm

khác nhau về văn hoá, ta cũng có thể xác định được những nét tương đồng với

3

41, 3

Học viện CTHCQG Hồ Chí Minh, Học viện CTKVI, Khoa VH&PT: Một số chuyên

đề văn hóa và phát triển, NXB chính trị – hành chính, H.2012. Tr.13, Tr 16 – 17.

2

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, Tr 431.

5

7

nhau ở những điểm rất cơ bản: “Văn hoá là toàn bộ các hệ thống giá trị vật

chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn lịch sử xã hội, mang tính chân, thiện, mỹ, phục vụ cho sự sinh tồn và phát triển của

con người và xã hội loài người… Văn hoá là kết quả của sự thích nghi có ý

thức và chủ động của con người với tự nhiên… Văn hoá thể hiện đặc điểm,

đặc trưng của mỗi xã hội, mỗi cộng đồng, văn hoá là thước đo trình độ phát

triển và đặc tính riêng của mỗi dân tộc6.

Nói tóm lại, theo nghĩa rộng: văn hóa là toàn bộ hệ thống giá trị vật

chất và tinh thần do con người sang tạo, tích lũy trong quá trình hoạt động

thực tiễn lịch sử – xã hội.

Theo nghĩa hẹp: văn hóa chỉ bao gồm các giá trị tinh thần tạo nên nền

tảng tinh thần của xã hội, có nhiều lĩnh vực trong đó, tư tưởng, đạo đức, lối

sống và đời sống văn hóa là những lĩnh vực cơ bản nhất hiện nay.

1.1.2- Quan niệm về đời sống văn hóa

Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm tổng thể

những yếu tố hoạt động văn hóa vật chất và tinh thần, những tác động qua lại

lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóa trong cộng

đồng, trực tiếp hình thành nhân cách và lối sống của con người. Đời sống văn

hóa bao gồm những nội dung không tách rời các lĩnh vực của đời sống xã hội

và các yếu tố cơ bản tạo nên văn hóa.

Đời sống văn hóa gồm 4 yếu tố chính:

– Văn hóa vật thể và phi vật thể tồn tại ở mỗi cộng đồng như: thiết chế

văn hóa, tác phẩm, sản phẩm văn hóa, phương tiện thông tin đại chúng và

truyền bá văn hóa, lễ hội, văn hóa – văn nghệ dân gian, trường học, nhóm văn

hóa…

6

8

– Cảnh quan VH (do tự nhiên hoặc do con người tạo ra) hiện diện ở mỗi

cộng đồng như: di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, công viên,

tượng đài…

– Yếu tố văn hóa cá nhân ở mỗi cộng đồng: trình độ học vấn, nhu cầu

sở thích và thị hiếu văn hóa, phong cách sinh hoạt, văn hóa ứng xử, giao tiếp,

nếp sống văn hóa…

– Những yếu tố văn hóa của các “tế bào” trong mỗi cộng đồng như: gia

đình, nhà trường, cơ quan, công sở, tổ nhóm lao động, học tập…

1.1.3- Quan niệm về đời sống văn hóa cơ sở, hoạt động chủ yếu của

đời sống văn hóa cơ sở

*) Đơn vị cơ sở trong tổ chức và xây dựng đời sống văn hoá ở đây được

quan niệm là loại thiết chế cơ bản của đời sống xã hội, là hình thức tổ chức cơ

bản của đời sống văn hóa. Đó là những cộng đồng dân cư có địa bàn sinh

sống ổn định, có quan hệ chặt chẽ về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và cả

quan hệ huyết thống (đối với thiết chế gia đình và một bộ phận làng xóm ở

nông thôn). Những cộng đồng dân cư này gắn kết với nhau một cách chặt chẽ

trong các sinh hoạt vật chất và tinh thần diễn ra trong đời sống hàng ngày

Đơn vị cơ sở trong xây dựng đời sống văn hóa được hiểu trên ba

phương diện:

– Một địa bàn, địa điểm cụ thể gắn với một đơn vị hành chính cơ bản

hoặc một tổ chức chính trị xã hội (làng, bản, thôn, xóm…).

– Cơ sở hành chính và mang tính hành chính (Việt Nam hiện nay gồm 4

loại: đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn; đơn vị sản xuất kinh doanh; đơn

vị hành chính sự nghiệp; đơn vị lực lượng vũ trang).

– Tế bào hạt nhân gia đình.

Có thể phân chia văn hóa cộng đồng theo những tiêu chí khác nhau

như: theo tiêu chí huyết thống có văn hóa gia đình, văn hóa dòng họ; theo địa

9

bàn cư trú có văn hóa làng, bản, xóm thôn, buôn sóc, khu phố; theo tổ chức xã

hội có văn hóa đoàn thể; theo tổ chức sản xuất có văn hóa xí nghiệp .v.v.

*) Các hoạt động chủ yếu của đời sống văn hóa cơ sở

Cơ sở là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa tinh thần phong phú và đa

dạng của cộng đồng. Ở Việt Nam hiện quy tụ thành một số hoạt động chủ yếu

sau:

+ Thông tin tuyên truyền cổ động,

+ Câu lạc bộ, nhà văn hóa; thư viện, đọc sách báo,

+ Giáo dục truyền thống,

+ Nghệ thuật quần chúng,

+ Xây dựng nếp sống văn hóa,

+ Thể dục thể thao, vui chơi giải trí,

+ Xã hội từ thiện.

Như vậy, đơn vị cơ sở trong tổ chức xây dựng đời sống văn hoá và các

hoạt động chủ yếu trong xây dựng đời sống văn hóa cơ sở có phạm vi rộng

lớn và có vị trí hết sức quan trọng trong đời sống xã hội, tất cả mọi hoạt động

xã hội đều diễn ra tại các đơn vị cơ sở. Toàn bộ đời sống xã hội chỉ có thể ổn

định và phát triển bền vững khi các đơn vị cơ sở ổn định và bền vững.

1.1.4- Vị trí, vai trò của đời sống văn hóa cơ sở và ý nghĩa của việc

xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở

Có thể nói, xây dựng đời sống văn hoá cơ sở chính là bước đi tạo ra cốt

cách văn hoá của một dân tộc, là cái nôi nuôi dưỡng sự phát triển bền vững

cho xã hội; nó có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc duy trì, xây dựng và

phát triển nền văn hoá.

Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở là khơi dậy, lôi cuốn, bồi dưỡng và

huy động tối đa sự tham gia của đông đảo tầng lớp nhân dân, của các cấp, các

ngành vào hoạt động sáng tạo văn hoá nghệ thuật, tạo nên những sản phẩm

10

văn hoá của chính cộng đồng ngay tại cơ sở, nơi diễn ra đời sống thường ngày

của các cá nhân, gia đình trong từng cụm dân cư, làng xóm, cơ quan, đơn vị,

trường học… Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở là hướng vào mục tiêu phát

triển toàn diện, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của đời sống con người, đóng góp

vào phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, xây dựng cơ sở hạ tầng,

cảnh quan, môi trường sống của cộng đồng. Nâng cao học vấn, kiến thức và

kỹ năng sống, văn hoá ứng xử trong cộng đồng, phát triển các hình thức sinh

hoạt văn hoá, văn nghệ, thể thao, vui chơi giải trí, bài trừ mọi hoạt động văn

hoá phản tiến bộ. Thực hành nếp sống công dân, tôn trọng pháp luật. Xây

dựng lối sống dân chủ, tự quản trên cơ sở quy ước, hương ước của bản, tiểu

khu, tổ dân phố, xây dựng lối sống tình nghĩa, xoá đói giảm nghèo, tương

thân tương ái, giúp đỡ nhau trong cuộc sống.

Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là một chủ trương lớn của Đảng và

Nhà nước ta, mang tính xã hội sâu sắc, với nội dung phong phú, toàn diện và

triển khai thực hiện lâu dài – là chủ trương có ý nghĩa chiến lược đối với sự

nghiệp xây dựng văn hóa, lối sống và con người Việt Nam, bảo vệ và phát

huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội

nhập kinh tế quốc tế.

Qua các kỳ Đại hội của Đảng cho đến nay, Đảng ta đã nhấn mạnh vấn

đề xây dựng đời sống văn hóa để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả. Văn

kiện Đại hội XI của Đảng cũng đã xác định: Củng cố và tiếp tục xây dựng

môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng. Đưa phong trào “Toàn

dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu

quả; xây dựng nếp sống văn hóa trong các gia đình, khu dân cư, cơ quan, đơn

vị, doanh nghiệp, làm cho các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi mặt đời sống,

được thể hiện cụ thể trong sinh hoạt, công tác, quan hệ hằng ngày của cộng

đồng và từng con người, tạo sức đề kháng đối với các sản phẩm độc hại. Tiếp

11

tục đẩy mạnh việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức, lối sống có văn hóa; xây

dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, tang, lễ hội; ngăn chặn và đẩy lùi

các hủ tục, bạo lực, gây rối trật tự công cộng, mại dâm, ma tuý, cờ bạc… góp

phần giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hoá, con người

Việt Nam, nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ. Đúc kết và xây dựng hệ giá trị

chung của người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

và hội nhập quốc tế.

Điều đó càng khẳng định vị trí, vai trò có ý nghĩa lâu dài, chiến lược

của xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, bởi bốn lý do sau:

Thứ nhất, Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là nền tảng mang tính

hiện thực, trực tiếp để xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,

đậm đà bản sắc dân tộc.

Thứ hai, Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là vấn đề trọng tâm, cốt

lõi của sự nghiệp văn hóa. Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở chính là phát huy

quyền làm chủ của nhân dân trong việc sáng tạo, hưởng thụ các giá trị văn

hóa, nghệ thuật, xây dựng lối sống lành mạnh, những phong tục tập quán tốt

đẹp mang đậm bản sắc dân tộc và phù hợp với trào lưu văn hóa của nhân loại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: chỉ khi nào được mọi người dân, mọi tầng

lớp nhân dân, mọi tổ chức chính trị – xã hội, các đoàn thể, các dân tộc, các tôn

giáo … tham gia vào một cách tự nguyện, chủ động vào công tác văn hóa, thì

lúc đó văn hóa mới phát triển mạnh mẽ. Chỉ khi nào thấm sâu vào toàn bộ đời

sống, vào mọi lĩnh vực, mọi quan hệ của con người thì lúc đó văn hóa mới

thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực và sức mạnh

nội sinh của sự phát triển.

Thứ ba, Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là bảo tồn và phát huy mạnh

mẽ tính đa dạng, phong phú của bản sắc văn hóa các dân tộc, bản sắc dân tộc

của văn hóa Việt Nam.

12

Thứ tư, Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là phát triển và hoàn thiện

mạng lưới các thiết chế văn hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của

văn hóa. Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là xây dựng mạng lưới thiết chế

văn hóa bao gồm: trung tâm văn hóa, câu lạc bộ, thư viện, phòng đọc, tủ sách,

sân chơi, nhà truyền thống, trường học, trạm y tế, công viên, tạo môi trường

cảnh quan văn hóa cơ sở, đáp ứng từng bước nhu cầu đòi hỏi, nhu cầu hưởng

thụ văn hóa của nhân dân, vừa thể hiện tính dân tộc song cũng đảm bảo tính

hiện đại.

2. Cơ sở chính trị, pháp lý:

*) Cơ sở chính trị

– Tổ chức xây dựng đời sống văn hoá cơ sở là một trong những chủ

trương lớn của Đảng ta và được thể hiện ngay từ những năm 1940 của thế kỷ

XX, thông qua Đề cương Văn hóa năm 1943 do đồng chí Trường Chinh soạn

thảo. Đây được coi là Cương lĩnh đầu tiên về văn hóa của Đảng ta

– Cương lĩnh thứ 2 về văn hóa: Chủ nghĩa Mác và Văn hóa Việt Nam,

Báo cáo tại Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần thứ hai, tháng 7/1948.

– Cương lĩnh thứ 3 về văn hóa: Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban

Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn

hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

– Kết luận Hội nghị Trung ương mười khóa IX về tiếp tục thực hiện

Nghị quyết Hội nghị Trung ương năm khóa VIII về xây dựng và phát triển

nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

– Nghị quyết số 33- NQ/TW ngày 09/6/2014 của Hội nghị Trung ương

chín khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng

yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Qua các văn kiện của Đảng về văn hóa có thể khái quát chung đó là:

Văn hóa là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là mục tiêu, động lực, sức

13

mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững

chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn

minh.

*) Cơ sở pháp lý

– Luật Di sản văn hóa (Luật Số: 28/2001/QH10, ngày 29/6/2001).

– Các nghị định, quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về

lĩnh vực văn hóa – thông tin.

– Các quyết định, thông tư, hướng dẫn của Bộ Văn hóa – Thể thao và

Du lịch về lĩnh vực văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.

– Các văn bản của HĐND, UBND tỉnh Phú Thọ, huyện Lâm Thao về

lĩnh vực văn hóa.

– Các văn bản của Sở Văn hóa- Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ về

lĩnh vực văn hóa.

– Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính Phủ quy

định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ

máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập;

– Thông tư liên tịch số 43/2008/TTLT-BVHTTDL-BNV ngày

06/6/2008 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch – Bộ Nội vụ về hướng dẫn

chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Văn hóa, Thể thao

và Du lịch thuộc UBND cấp tỉnh, Phòng Văn hóa và Thông tin thuộc UBND

cấp huyện; Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BTTTT-BNV ngày

30/6/2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông – Bộ Nội vụ về hướng dẫn chức

năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Thông tin và Truyền

thông thuộc UBND cấp tỉnh, Phòng VHTT thuộc UBND cấp huyện;

– Quyết định số 340/QĐ-UBND ngày 29/2/2012 của UBND huyện

Lâm Thao về việc ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ các phòng chuyên

môn, đơn vị sự nghiệp thuộc UBND huyện;

14

*) Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng đời sống văn hóa

cơ sở

Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là:“…làm cho văn hoá thấm sâu vào

toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập

thể cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ

con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí

cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện

đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn

minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”7. Nghị quyết Hội nghị Trung

ương chín khóa XI tiếp tục nhấn mạnh: “Xây dựng đời sống văn hóa ở địa

bàn dân cư, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đoàn kết, dân chủ văn minh,

đạt chuẩn thực chất về văn hóa; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; xây

dựng nếp sống văn hóa tiến bộ, văn minh… Nâng cao chất lượng, hiệu quả

các cuộc vận động văn hóa, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời

sống văn hóa”8

Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) nhấn mạnh: “Xây dựng và

phát triển về văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu

tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống

và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng

đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con

người”9. Nghị quyết thực sự là điểm nhấn quan trọng và có ý nghĩa đến sự

phát triển chung của xã hội và sự phát triển của văn hóa Việt Nam nói riêng;

nghị quyết đã đề ra 5 quan điểm chỉ đạo đó là:

7

ĐCSVN, VKHN lần thứ năm BCHTW Đảng khóa VIII. Tr 54 – 55.

8

ĐCSVN, Nghị quyết số 33- NQ/TW ngày 09/6/2014 Hội nghị TW9 khóa XI, Tr 5

ĐCSVN, VKHN lần thứ năm BCHTW Đảng khóa VIII, Nxb CTQG. H.1998. Tr 54 – 55.

9

15

(1) Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là

động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội.

(2) Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà

bản sắc dân tộc.

(3) Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong

cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

(4) Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng

ta lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.

(5) Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự

nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận

trọng.

Tổng kết 5 năm triển khai xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt

Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Hội nghị Trung ương 10, khoá IX

(2004) đã nhấn mạnh ba nhiệm vụ trọng tâm sau:

– Tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối

sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ

chức đảng, nhà nước, mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và trong từng

cá nhân, gia đình, thôn xóm, đơn vị, tổ chức cơ sở.

Cần xác định đây là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên, vừa cấp bách,

vừa cơ bản, lâu dài.

– Nâng cao chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ xây dựng con người Việt

Nam theo 5 đức tính được xác định trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa

VIII; cụ thể hóa theo các đối tượng, gắn chặt mục tiêu xây dựng con người

với hoạt động thực tiễn và các phong trào thi đua yêu nước sâu rộng của quần

chúng. Quy tụ mọi hoạt động văn hóa, phát huy thế mạnh của từng loại hình

văn hóa thông tin phục vụ nhiệm vụ bồi dưỡng lòng yêu nước, phẩm chất tốt

16

đẹp của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng

chủ nghĩa xã hội.

– Chú trọng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, nhất là cộng đồng dân

cư, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tốt đẹp, phong phú.

Văn kiện Đại hội XI (2011) của Đảng đã chỉ rõ cần triển khai thực hiện

4 nhiệm vụ quan trọng trong chăm lo phát triển văn hóa:

(1) Củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong

phú, đa dạng.

(2) Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bảo tồn, phát huy giá trị

các di sản văn hóa truyền thống, cách mạng.

(3) Phát triển hệ thống thông tin đại chúng.

(4) Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về văn hóa.

Có thể thấy rằng, phát huy tinh thần tự nguyện, tính tự quản và năng

lực làm chủ của nhân dân trong đời sống văn hoá. Đây là động lực lớn nhất,

đồng thời cũng là nguyên nhân có tính chất quyết định tạo nên tính bền vững

và chất lượng, hiệu quả của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời

sống văn hóa” tạo dựng môi trường văn hoá tốt đẹp, lành mạnh, phong phú

cho mỗi người và cả cộng đồng. Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở đã, đang

và sẽ tiếp tục là một nhiệm vụ chiến lược của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta

trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Các quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa

nói chung, về xây dựng và phát triển các lĩnh vực trong văn hóa nói riêng

được đề ra và từng bước được hoàn thiện trong các văn kiện, nghị quyết của

Đảng thời gian vừa qua vừa có ý nghĩa tăng cường nhận thức, tư tưởng chính

trị vừa có ý nghĩa thực tiễn, đảm bảo cho công cuộc xây dựng nền văn hóa

Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc phát triển ngày càng sâu rộng với

chất lượng và hiệu quả ngày càng cao.

17