Tiếp cận tín dụng trong hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp: Từ pháp luật đến thực tiễn và những vấn đề đặt ra

Một trong những tiềm năng, chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hội 5 năm 2016 – 2020 đã được đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII cũng như Nghị quyết của Quốc hội [ 1 ] trải qua đặt ra yên cầu “ phải tăng nhanh tái cơ cấu tổ chức nền kinh tế tài chính, nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng trưởng theo chiều sâu dựa trên tri thức thay đổi, phát minh sáng tạo, khoa học và công nghệ cao, trong đó doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân là động lực nâng cao sức cạnh tranh đối đầu và tính tự chủ của nền kinh tế tài chính ” .

1. Đặt vấn đề
 

Một trong những mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016 – 2020 đã được đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII cũng như Nghị quyết của Quốc hội [1] thông qua đặt ra đòi hỏi “phải đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển theo chiều sâu dựa trên tri thức đổi mới, sáng tạo, khoa học và công nghệ cao, trong đó doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân là động lực nâng cao sức cạnh tranh và tính tự chủ của nền kinh tế”. Để thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu trên, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 (sau đây gọi chung là Nghị quyết số 35/NQ-CP). Nghị quyết số 35/NQ-CP đề cập đến mục tiêu, nguyên tắc cũng như các nhiệm vụ và giải pháp để các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện có hiệu quả để bảo đảm quyền kinh doanh, quyền bình đẳng tiếp cận nguồn lực và cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp. Các nhiệm vụ được Chính phủ giao cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) thực hiện theo Nghị quyết số 35/NQ-CP liên quan tới điều hành chính sách tiền tệ, thực hiện các biện pháp chỉ đạo, điều hành thị trường ngân hàng, trong đó có vấn đề bảo đảm việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp…, trong đó tập trung rà soát, đổi mới quy trình cho vay theo hướng đơn giản hóa thủ tục vay vốn, giảm bớt phiền hà cho khách hàng, bảo đảm an toàn vốn vay và phù hợp với quy định của pháp luật; nâng cao năng lực thẩm định để rút ngắn thời gian giải quyết cho vay, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng và nghiên cứu, xây dựng các chương trình vay vốn với lãi suất hợp lý, khuyến khích đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng để tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề tiếp cận tín dụng vẫn còn là khó khăn của một số  doanh nghiệp mặc dù chỉ số tiếp cận tín dụng đã được cải thiện. 
 

Để tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021 theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ đòi hỏi NHNN cần đẩy mạnh hơn nữa các biện pháp để vừa tháo gỡ khó khăn để doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng vừa bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng mà thực chất là bảo đảm hài hòa lợi ích của tổ chức tín dụng (cấp tín dụng nhưng phải tuân thủ quy định về kiểm soát rủi ro, giới hạn để bảo đảm an toàn hoạt động) với quyền tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp (thực hiện kế hoạch, chiến lược kinh doanh với việc bảo đảm khả năng trả đã được cấp tín dụng). Trong mối tương quan hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, NHNN đóng vai trò vừa là chất xúc tác (tạo lập khuôn khổ pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng) vừa là người “kìm giữ”, cảnh báo, điều tiết, định hướng hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng đi đúng hướng, hiệu quả, an toàn.

2. Khuôn khổ pháp luật điều chỉnh quan hệ tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp 
 

Tiếp cận tín dụng là việc khách hàng có cơ hội được sử dụng nguồn vốn từ các trung gian tài chính để phục vụ cho các nhu cầu của mình
 

Tín dụng là một hoạt động giải trí ngân hàng nhà nước thuộc phạm trù kinh tế tài chính chỉ mối quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời hạn nhất định ; [ 2 ] là một dạng quan hệ vay gia tài nhưng đối tượng người dùng hoàn trả không phải là vật cùng loại mà là tiền. Về thực chất, tín dụng là “ việc chuyển giao vốn dựa trên cơ sở tin tưởng và theo nguyên tắc hoàn trả, theo đó, người cho vay chuyển giao quyền sử dụng một lượng gia tài cho người vay trong một thời hạn nhất định ”. [ 3 ] Trong kinh tế tài chính học tiền tệ, thuật ngữ tín dụng thường dùng để chỉ những mô hình cho vay đem lại hiệu suất cao tiền tệ như làm tăng việc phân phối tiền tệ sẽ dẫn tới việc tăng tiền gửi của ngân hàng nhà nước hay làm tăng những hình thức sửa chữa thay thế tiền tệ như tín dụng thương mại. [ 4 ] Từ triết lý về lựa chọn bất lợi và tâm ý ỷ lại, tác giả Huỳnh Thế Du cho rằng tổ chức triển khai tín dụng khi xác lập thanh toán giao dịch cấp tín dụng không có thông tin tương quan đến người đề xuất cấp tín dụng nên đã sử dụng chính sách sàng lọc thông tin để ra quyết định hành động cấp tín dụng, trong đó, gia tài bảo vệ có vai trò trong việc ngăn ngừa tâm ý ỷ lại. Bởi lẽ, khi gia tài của người mua vay được đem đi bảo vệ cho nghĩa vụ và trách nhiệm trả nợ phát sinh từ cam kết cấp tín dụng thì người đề xuất cấp tín dụng sẽ bị mất nó nếu như khoản vay của họ không được góp vốn đầu tư cẩn trọng và rủi ro đáng tiếc xảy ra. Chính thế cho nên mà họ phải thận trọng hơn khi triển khai quyết định hành động góp vốn đầu tư của mình. [ 5 ] Điều này hoàn toàn có thể lý giải là do hoạt động giải trí cấp tín dụng có độ rủi ro đáng tiếc cao hơn, vì việc tịch thu khoản tiền đã cấp tín dụng cho người mua phụ thuộc vào vào năng lực, thiện chí trả nợ của người mua, bởi lẽ, việc có tịch thu được vốn đã cấp tín dụng hay không sẽ quyết định hành động đến vị thế, uy tín, tên thương hiệu của tổ chức triển khai tín dụng trên thị trường .

Tiếp cận tín dụng là việc khách hàng có cơ hội được sử dụng nguồn vốn từ các trung gian tài chính để phục vụ cho các nhu cầu của mình thông qua đề nghị cấp tín dụng. Trên cơ sở đề nghị cấp tín dụng, phương án sử dụng vốn, khả năng trả nợ cũng như các rủi ro tiềm tàng khác, tổ chức tín dụng đánh giá mức độ rủi ro và ra quyết định cấp tín dụng khi khách hàng bảo đảm khả năng trả nợ và độ rủi ro là thấp nhất với các tiêu chuẩn, điều kiện của pháp luật cũng như các tiêu chuẩn riêng của từng tổ chức tín dụng dựa trên yêu cầu kiểm soát rủi ro. Do đó, bảo đảm sức mạnh quyền pháp lý (liên quan đến hệ thống pháp lý về tài sản bảo đảm, pháp luật phá sản hiện đại và chặt chẽ để bên đi vay có thể sử dụng tài sản của mình, đặc biệt là động sản để bảo đảm cho các khoản vay) và chiều sâu thông tin tín dụng (để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng vay dựa trên việc phân tích các thông tin thu thập được từ ngân hàng thương mại, tổ chức tài chính phi ngân hàng, tổ chức phát hành thẻ tín dụng, nhà cung cấp dịch vụ bán lẻ hoặc các cơ quan tư pháp, cơ quan quản lý hộ tịch…) là hai chỉ số đánh giá khả năng tiếp cận tín dụng của Ngân hàng Thế giới khi đánh giá, xếp hạng tiếp cận tín dụng của mỗi quốc gia.[6] 
 

Khuôn khổ pháp luật điều chỉnh việc tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp đã được quy định ở nhiều văn bản pháp luật với các cách tiếp cận khác nhau, song luôn trên tinh thần tuân thủ quy luật của thị trường. Luật Doanh nghiệp 2014 không quy định vấn đề tiếp cận tín dụng là quyền lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn (Khoản 3 Điều 7). Theo quy định của Luật Đầu tư 2014, được tiếp cận, sử dụng các nguồn vốn tín dụng, quỹ hỗ trợ, sử dụng đất đai và tài nguyên khác theo quy định của pháp luật là một trong những nội dung chính sách về đầu tư kinh doanh (Khoản 2 Điều 5). Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc tiếp cận tín dụng do Chính phủ quyết định “chính sách hỗ trợ tổ chức tín dụng tăng dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa; khuyến khích tổ chức tín dụng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa trên xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp và biện pháp phù hợp khác; khuyến khích thành lập tổ chức tư vấn độc lập để xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghiệp nhỏ và vừa được cơ quan, tổ chức, cá nhân hỗ trợ xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh khả thi, tăng cường năng lực quản trị, kỹ năng quản lý, minh bạch hóa tài chính của doanh nghiệp để nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng.” (Khoản 1, Khoản 2 Điều 8 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa). Bên cạnh nguồn vốn tín dụng, doanh nghiệp nhỏ và vừa được cấp bảo lãnh tín dụng tại Quỹ bảo lãnh tín dụng được quy định chi tiết  tại Nghị định số 34/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/3/2018 về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo quy định tại Nghị định số 34/2018/NĐ-CP, việc bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa trên tài sản bảo đảm hoặc phương án sản xuất, kinh doanh khả thi hoặc xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa phải thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết; không được từ chối bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đủ điều kiện được bảo lãnh. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, Chính phủ quyết định chính sách cấp bù lãi suất đối với khoản vay của doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo trong từng thời kỳ. Việc cấp bù lãi suất được thực hiện thông qua các tổ chức tín dụng (Điểm d Khoản 2 Điều 17 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa). 
 

Đối với tổ chức tín dụng – doanh nghiệp thực hiện hoạt động ngân hàng dù có quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình và có quyền từ chối yêu cầu cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ khác nếu thấy không đủ điều kiện, không có hiệu quả, không phù hợp với quy định của pháp luật [7] nhưng phải có trách nhiệm: i) yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh phương án sử dụng vốn khả thi, khả năng tài chính của mình, mục đích sử dụng vốn hợp pháp, biện pháp bảo đảm tiền vay trước khi quyết định cấp tín dụng; ii)  tổ chức xét duyệt cấp tín dụng theo nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cấp tín dụng.[8] Giao dịch cấp tín dụng theo quy định của pháp luật hiện hành được thực hiện trên nguyên tắc bình đẳng, tự chủ, tự chịu trách nhiệm giữa tổ chức tín dụng với khách hàng. Việc áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay hoặc không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận. Tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm về việc cho vay không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay.[9] 
 

Để bảo đảm khả năng giám sát, kiểm tra việc sử dụng vốn của khách hàng, tổ chức tín dụng có quyền, nghĩa vụ kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng cũng như có quyền yêu cầu khách hàng vay báo cáo việc sử dụng vốn vay và chứng minh vốn vay được sử dụng đúng mục đích vay vốn. Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng. Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ, tài sản bảo đảm tiền vay theo hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm và quy định của pháp luật. Việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, mua bán nợ của tổ chức tín dụng thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. trong trường hợp khách hàng vay hoặc người bảo đảm không trả được nợ do bị phá sản, việc thu hồi nợ của tổ chức tín dụng được thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản.[10]
 

Khảo sát khuôn khổ pháp lý kiểm soát và điều chỉnh quan hệ tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp cho thấy thực chất của tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp biểu lộ đối sánh tương quan giữa tổ chức triển khai tín dụng và người mua trong quy trình giao kết hợp đồng cấp tín dụng dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tự chủ, tự chịu nghĩa vụ và trách nhiệm của những chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng. Không tổ chức triển khai, cá thể nào được can thiệp trái pháp lý vào hoạt động giải trí cho vay của tổ chức triển khai tín dụng. [ 11 ] Khách hàng có nhu yếu sử dụng vốn tín dụng ngân hàng nhà nước sẽ đưa ra ý kiến đề nghị cấp tín dụng gửi tới tổ chức triển khai tín dụng mà về thực chất pháp lý là ý kiến đề nghị giao kết hợp đồng. [ 12 ] Tổ chức tín dụng, trên cơ sở ý kiến đề nghị cấp tín dụng của người mua sẽ triển khai thẩm tra điều kiện kèm theo được cấp tín dụng tương quan đến tư cách chủ thể, giải pháp sử dụng vốn, những rủi ro đáng tiếc tiềm tàng và nhất là năng lực trả nợ của người mua, từ đó ra quyết định hành động cấp tín dụng mà về thực chất là đồng ý ý kiến đề nghị giao kết hợp đồng [ 13 ] cấp tín dụng của người mua. Việc tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp, tổ chức triển khai tín dụng và doanh nghiệp phải cung ứng những điều kiện kèm theo theo pháp luật của pháp lý về cấp tín dụng trên nguyên tắc tổ chức triển khai tín dụng không được phát hành những lao lý cản trở việc tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp trái với lao lý pháp lý. Có thể khẳng định chắc chắn, nếu tổ chức triển khai tín dụng không có pháp luật riêng hoặc những cản trở phi chính thức ( nguyên tắc ngầm, luật bất thành văn ) được xem là đã thực thi đúng những pháp luật về cấp tín dụng trong hoạt động giải trí kinh doanh thương mại với tư cách và vai trò là chủ thể đáp ứng nguồn vốn ( trung gian kinh tế tài chính ) trong nền kinh tế thị trường. Vấn đề trọng điểm trong bảo vệ tiếp cận nguồn vốn tín dụng của doanh nghiệp nằm ở chỗ doanh nghiệp có phân phối những điều kiện kèm theo để được cấp tín dụng theo lao lý của pháp lý, pháp luật nội bộ của tổ chức triển khai tín dụng nhằm mục đích trấn áp và giảm thiểu rủi ro đáng tiếc trong hoạt động giải trí cấp tín dụng. Chính thế cho nên, hiệu quả khảo sát khu vực doanh nghiệp của Phòng Thương mại và Công nghiệp Nước Ta cho thấy, yếu tố tiếp cận vốn là khó khăn vất vả lớn thứ hai, chỉ sau tìm kiếm người mua, cao hơn cả những khó khăn vất vả về tìm kiếm lao động tương thích, tìm kiếm đối tác chiến lược, nhà sản xuất, cao hơn khó khăn vất vả về dịch chuyển thị trường, dịch chuyển chủ trương pháp lý … với nguyên do là “ buộc phải có gia tài thế chấp ngân hàng ( 86 % doanh nghiệp cho rằng họ gặp phải yếu tố này ) ; mức lãi suất vay và điều kiện kèm theo cho vay ( 63 % doanh nghiệp lựa chọn ) ; 39 % doanh nghiệp cho biết rằng việc “ tu dưỡng ” cho cán bộ ngân hàng nhà nước để vay được vốn là phổ cập ” [ 14 ] không nên xem là khó khăn vất vả trong tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Nói cách khác, Ngân hàng Nhà nước và những tổ chức triển khai tín dụng đã thực thi tốt những lao lý pháp lý nhằm mục đích bảo vệ quyền tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Về cơ bản, hoàn toàn có thể nhận thấy, luật “ trên giấy ” ở nước ta đã bộc lộ rõ nhiệm vụ cấp tín dụng không tạo ra rào cản nào khiến doanh nghiệp gặp khó khi có nhu yếu tiếp cận tín dụng. Các pháp luật về cấp tín dụng đã biểu lộ rõ đặc thù thị trường của quan hệ cấp tín dụng là dựa trên sự bình đẳng, cùng có lợi và tự chịu nghĩa vụ và trách nhiệm ở cả phía tổ chức triển khai tín dụng cũng như người mua .

3. Thúc đẩy việc tiếp cận tín dụng trong hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
 

Trong giai đoạn đẩy mạnh việc hiện thực hóa mục tiêu Chính phủ “liêm chính, kiến tạo, hành động” với nhiều quyết sách quan trọng, trong đó có việc phát triển số lượng cũng như chất lượng doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường cho thấy, Chính phủ đã và đang làm tốt việc hoạch định và triển khai chiến lược phát triển doanh nghiệp với các tầm nhìn khác nhau thì việc ban hành đồng thời nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển doanh nghiệp là rất cần thiết và có ý nghĩa. Việc ban hành và thực hiện đồng thời nhiều chủ trương, chính sách trong hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp có thể là nguyên nhân dẫn tới chồng chéo, mâu thuẫn về nội dung hoặc hiểu không đúng mục tiêu chủ trương, chính sách về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp. Dường như trong các quan niệm phổ biến hiện nay, chủ trương, chính sách về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp được hiểu và áp dụng trong thực tiễn mang nặng tính chất “phân bổ” nguồn lực vốn cho doanh nghiệp và được xem như nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan trong việc cung ứng nguồn vốn cho khu vực doanh nghiệp.
 

Thực tiễn giải quyết tranh chấp phát sinh từ giao dịch bảo đảm trong hoạt động cấp tín dụng, Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục nhận được phản ánh của một số tổ chức tín dụng liên quan đến giao dịch bảo đảm mà phán quyết của tòa án nhân dân các cấp gây bất lợi cho các tổ chức tín dụng – bên nhận tài sản bảo đảm. [15] Chẳng hạn, thực tiễn xác lập giao dịch bảo đảm bằng hình thức thế chấp bằng quyền sử dụng đất của người thứ ba cũng đã phát sinh những nguy cơ cho các tổ chức tín dụng khi tòa án nhân dân đã tuyên hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba [16], gây nhiều tranh luận của công luận.[17]
 

Không những thế, trong thời gian qua, đã phát sinh thêm rủi ro cho tổ chức tín dụng khi nhận thế chấp tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất khi bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đã cấp và tòa án tuyên quyền xử lý tài sản bảo đảm “trên trời” nên tổ chức tín dụng cũng khó có thể bán tài sản bảo đảm để thu hồi vốn đã cấp tín dụng. Theo bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm của tòa án nhân tỉnh Thừa Thiên Huế, khi xác lập giao dịch vay vốn, người vay vốn đã sử dụng tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu và quyền sử dụng hợp pháp của người đi vay. Điều này được thể hiện rõ trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Khi người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm, nhưng tài sản bảo đảm đã bị cơ quan thi hành án tỉnh kê biên nhưng không thể xử lý tài sản bảo đảm vì đã bị cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử đất ra quyết định thu hồi và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp tại ngân hàng. Tại bản án này cũng đã tuyên ngân hàng có quyền phát mại tài sản bảo đảm là ngôi nhà tọa lạc trên mảnh đất đã bị thu hồi để thu hồi nợ, nhưng liệu ngân hàng có làm được việc này khi mà giấy chứng nhận quyền sử đất ra quyết định thu hồi và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị cơ quan cấp thu hồi?[18] Những phân tích này chứng tỏ, các rủi ro trong tiếp cận tín dụng như một biện pháp để hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp dường như phần bất lợi lại thuộc về tổ chức tín dụng. Để thúc đẩy việc tiếp cận tín dụng trong hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, trong đó, bảo đảm an toàn cho tổ chức tín dụng khi thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng chúng tôi kiến nghị:
 

Thứ nhất, cần sớm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về giao dịch bảo đảm, nhất là cần nhanh chóng ban hành Nghị định thay thế Nghị định 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung năm 2011), trong đó cần tập trung tháo gỡ những vướng mắc, bất cập khi nhận tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất của người thứ ba cũng như xác định biện pháp bảo đảm phù hợp bên cạnh biện pháp thế chấp tài sản.
 

Thứ hai, Ngân hàng Nhà nước cần chủ động là đầu mối trong kiến nghị với Chính phủ cũng như hợp tác với các Bộ, cơ quan ngang bộ khác để hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về đăng ký và xử lý tài sản bảo đảm.
 

Thứ ba, mở rộng quan niệm tiếp cận tín dụng không chỉ là tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng mà cần đẩy mạnh việc mở rộng nguồn vốn doanh nghiệp thông qua các kênh huy động vốn khác. Các phản hồi về các khó khăn trong tiếp cận của khu vực doanh nghiệp ngoài việc phản ánh hiện trạng khó tiếp cận tín dụng còn phản ánh thực trạng khác là năng lực tài chính, cụ thể là khả năng bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khách hàng. Do đó, tìm kiếm nguồn vốn dài hạn thông qua thị trường chứng khoán, đồng thời giảm thiểu sự lệ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng cần được xem là giải pháp quan trọng, lâu dài của khu vực doanh nghiệp. Khi tìm kiếm, huy động nguồn vốn từ thị trường chứng khoán, doanh nghiệp sẽ giảm thiểu được rủi ro thanh khoản (do phải lo trả nợ) mà được sử dụng nguồn vốn lâu dài cho các dự án đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu làm được như vậy, doanh nghiệp sẽ có được nguồn vốn ổn định lâu dài, bền vững phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh của mình. Giải pháp này chỉ có thể thực hiện được khi doanh nghiệp không ngừng đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh doanh như  là bảo đảm cần thiết để nhà đầu tư thông qua việc góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp trên thị trường vốn.

—————

[ 1 ] Xem : Nghị quyết số 142 / năm nay / QH13 ngày 12/04/2016 của Quốc hội về kế hoạch tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội 5 năm năm nay – 2020 .
[ 2 ] Sử Đình Thành, Vũ Thị Minh Hằng ( Đồng chủ biên, 2006 ), Nhập môn kinh tế tài chính tiền tệ, Nxb. Đại học vương quốc thành phố Hồ Chí Minh, tr. 68 .
[ 3 ] Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp ( 2006 ), Từ điển Luật học, Nxb. Tư pháp và Nxb. Từ điển Bách khoa, TP. Hà Nội, tr. 765 .

[4] David W. Pearce (Tổng biên tập, 1999), Từ điển kinh tế học hiện đại, Nxb. Chính trị quốc gia và Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, tr. 220

[ 5 ] Huỳnh Thế Du ( 2005 ), Tại sao gia tài bảo vệ là yếu tố quan trọng trong quyết định hành động cấp tín dụng của những tổ chức triển khai tín dụng Nước Ta, Tạp chí Ngân hàng số 2/2005, tr. 38 .
[ 6 ] Tài liệu hướng dẫn Chỉ số Tiếp cận tín dụng theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới, truy vấn tại địa chỉ : https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/trangchu/ttsk/ttsk_chitiet?leftWidth=20%25&showFooter=false&showHeader=false&dDocName=SBV372175&rightWidth=0%25&centerWidth=80%25&_afrLoop=31797978040621577#%40%3F_afrLoop%3D31797978040621577%26centerWidth%3D80%2525%26dDocName%3DSBV372175%26leftWidth%3D20%2525%26rightWidth%3D0%2525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrl-state%3Dywq1bnwqs_51 ngày 3/4/2019 .
[ 7 ] Điều 7 Luật những Tổ chức tín dụng năm 2011 .
[ 8 ] Khoản 1, Khoản 2 Điều 94 Luật những Tổ chức tín dụng năm 2011 .
[ 9 ] Xem : Điều 15 Thông tư 39/2016 / TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Nước Ta pháp luật về hoạt động giải trí cho vay của tổ chức triển khai tín dụng, Trụ sở ngân hàng nhà nước quốc tế ) so với người mua .
[ 10 ] Xem : Điều 95 Luật những Tổ chức tín dụng 2010 .
[ 11 ] Khoản 1 Điều 3 Thông tư 39/2016 / TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Nước Ta pháp luật về hoạt động giải trí cho vay của tổ chức triển khai tín dụng, Trụ sở ngân hàng nhà nước quốc tế ) so với người mua .
[ 12 ] Theo lao lý tại Khoản 1 Điều 386 Bộ luật Dân sự năm ngoái thì ý kiến đề nghị giao kết hợp đồng là việc biểu lộ rõ dự tính giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về ý kiến đề nghị này của bên ý kiến đề nghị so với bên đã được xác lập hoặc tới công chúng .
[ 13 ] Theo pháp luật tại Khoản 1 Điều 393 Bộ luật Dân sự năm ngoái thì gật đầu ý kiến đề nghị giao kết hợp đồng là sự vấn đáp của bên được đề xuất về việc gật đầu hàng loạt nội dung của đề xuất .
[ 14 ] VCCI, Aus4Reform, Australian Aid, Báo cáo tình hình triển khai Nghị quyết 02 năm 2019 và Nghị quyết 35 năm năm nay của nhà nước : Góc nhìn doanh nghiệp, TP.HN, tháng 12/2019, tr. 37-39 .
[ 15 ] Xem thêm :
– Đoàn Đức Lương, Viên Thế Giang, Võ Thị Mỹ Hương, Pháp luật về thanh toán giao dịch bảo vệ trong hoạt động giải trí cấp tín dụng ở Nước Ta, sách chuyên khảo, Nxb. Chính trị vương quốc, TP.HN, năm ngoái .
– Viên Thế Giang, Các pháp luật về bảo vệ thực thi nghĩa vụ và trách nhiệm trong hoạt động giải trí cấp tín dụng, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2/2015 .
– Viên Thế Giang, Bất cập trong những lao lý pháp lý về lựa chọn giải pháp bảo vệ trong hoạt động giải trí cấp tín dụng, Tạp chí Luật học số 4/2017 .
– Vụ Pháp chế – Ngân hàng Nhà nước Nước Ta, Việc vận dụng pháp lý trong xử lý tranh chấp của tổ chức triển khai tín dụng với người mua và đề xuất kiến nghị, đề xuất kiến nghị sửa đổi những lao lý pháp lý có tương quan, Hội thảo “ Thực tiễn xử lý tranh chấp tương quan đến tín dụng ngân hàng nhà nước tại Tòa án nhân dân ” do Tòa án nhân dân tối cao và Thương Hội Ngân hàng Nước Ta tổ chức triển khai tại Hội An, Quảng Nam, ngày 4/10/2019 .
16X em thêm :
– Tòa án nhân dân tỉnh Tỉnh Quảng Ngãi, Bản án số 26/2011 / KT-ST ngày 05/08/2011 về việc nhu yếu công bố hợp đồng thế chấp ngân hàng của bên thứ ba vô hiệu .
– Tòa án nhân dân tỉnh Tỉnh Quảng Ngãi, Bản án số 48/2011 / KDTM-ST ngày 22/09/2011 về việc vi phạm nghĩa vụ và trách nhiệm giao dịch thanh toán theo hợp đồng tín dụng .
– Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP. Đà Nẵng, Bản án số 05/2011 / KDTM-PT ngày 25/10/2011 về việc nhu yếu công bố hợp đồng thế chấp ngân hàng vô hiệu .
[ 17 ] Xem thêm :
– Dương Công Chiến ( 2013 ), Hậu họa khi hợp đồng thế chấp ngân hàng bị tuyên vô hiệu, truy vấn ngày 25/07/2013, http://thoibaonganhang.vn/index.php/tin-tuc/2-hau-hoa-khi-hop-dong-the-chap-bi-tuyen-vo-hieu-3403.html .
– Đỗ Hồng Thái ( 2012 ), Thế chấp – Bảo lãnh hiểu như thế nào cho đúng, http://thoibaonganhang.vn/tin-tuc/8-the-chap—bao-lanh–hieu-the-nao-cho-dung-3713.html, truy vấn 09/08/2012 .

– Hoàng Yến (2012),  “Xử án tín dụng: rối chuyện thế chấp, bảo lãnh”, Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh số 206 ra ngày 2/8/2012.

– Trương Thanh Đức ( 2013 ), Theo tòa vô giá trị, theo Bộ vô hiệu lực, Tạp chí thị trường kinh tế tài chính tiền tệ số 7/2013 .
– Nguyễn Văn Bường ( 2010 ), Hợp đồng chuyển nhượng ủy quyền – những yếu tố lý luận và thực tiễn vận dụng pháp lý, Tạp chí Tòa án nhân dân số 08/2010 .

[18] Xem cụ thể tại: Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2011), Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2011/KDTM-ST ngày 18/10/2011 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

TS. Viên Thế Giang

Theo TCNH số 4/2020