HỌ CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM
Việt Nam có 54 dân tộc an hem. Cũng như người Kinh, các dân tộc thiểu số cũng có
cách đặt họ, tên mang sắc thái riêng của mình. Bài viết này, Đồ thờ Hải Mạnh xin
chia sẻ một số thông tin về vấn đề này để mọi người tham khảo.
Bạn đang đọc: HỌ CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM
DÂN TỘC CHỨT
Còn có những tên gọi khác là : Sách, Mày, Rục, Mã Liềng, Arem, Tu va, Paleng, Xơlang, Tợ hung, Cha cú, Tắc cụi, Umo ; sinh sống ở 2 xã Minh Hóa, Tuyên Hóa ( Quảng Bình ). Họ phổ cập là họ Cao, Đinh, Hồ …
Trong dân tộc Chứt có nhóm Người Rục ( Kha toong lương = Mọi lá vàng ) được coi như loại ” Người Rừng mới phát hiện “, dân số có 51 hộ = 212 nhân khẩu sống rải rác trong hang núi, rừng rậm ở miền tây Quảng Bình. Nhóm người Mã Liềng ( Mơ Leng = người ) có khoảng chừng 700 người, là nhóm người Việt cổ ở vùng Tuyên Hóa ( Quảng Bình ), Hương Khê ( TP Hà Tĩnh ), Khăm Muộn ( Lào ), không có Họ, nay do Nhà nước đặt họ cho ( Cao, Đinh, Hồ ) để làm Chứng minh nhân dân .
DÂN TỘC THỔ
Còn giọ là Kẹo, Mòn, Cuổi, Tày Pọng, Đan Lai, Ly Hà, sống hầu hết ở Con Cuông, Nghĩa Đàn, Tân Quỳ ( Nghệ An ). Họ tên như người Kinh : Phan, Bùi, Phạm, Trương, Hồ, La, Nguyễn, Cao, Hoàng, Lê, Chu, Trần .
DÂN TỘC BA NA
Còn có những tên gọi : Bơ Nâm, Glơ lăng, Y lăng, Gơ lar, Rơ ngao, … Sống hầu hết ở Tây nguyên, Tỉnh Bình Định, Phú Yên. Người Ba Na không có họ. ví dụ : Nam có người là Yang Danh, Nữ : Thưr, Thớp, Yung, Blui, Aying, Klrot, Blinh, Chơ, Y owu, Nhiêng, Đim, Đech, Njưk …
DÂN TÔC BRÂU
Còn gọi là Brao, sống ở Kontum. Người Brâu thuộc nhóm những tộc người tuy nhiên hệ, tức là cách tính dòng họ, thừa kế gia tài theo cả cha và mẹ và chính sách cư trú. Người Brâu không có tên để chỉ một dòng họ đơn cử, nhưng họ có cách tính họ tộc huyết thống tới 10 đời : kiêng sau 5 đời mới được kết hôn, vì Luật tục ngặt nghèo, dân số lại quá ít nên con trai có khi phải sang Lào, Campuchia để kiếm vợ .
DÂN TÔC BRU – VÂN KIỀU
Sống ở miền núi Bình Trị Thiên. Trước đây không có họ, sau này lấy họ Hồ .
DÂN TÔC CO ( KOR )
Còn gọi là Cùa, Tràu, sống ở miền núi xứ Quảng ; trước không có họ, nay là họ Đinh, Hồ …
DÂN TỘC CHƠ RO
Còn gọi Châu ro, Đơ ro, Chro, sống ở Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu … Số đông là họ Điểu. Ngoài ra còn có họ : Chrau
DÂN TỘC CƠ HO ( k’Ho )
Là dân cư địa phương ở Lâm Đồng, Đồng Nai … gồm những nhóm Chil, Lát, Tơ ring, Sree, Nộp … Gia đình mẫu hệ. Có những họ : Adat, Buoorr, Bondưng, Bontô, Chiphichoreo, Chily, Chil mup, Day Out, Day K, Đazur, Đakriêng, Đưngur, Kơ, Kdun, Llong, Kơpa, Kơsa, Kra zanh, K’tol, Lâm Biêng, Lé mou, Liênghót, Liêng Zẩng, Mbon, Paungtin, Rglê, RơÔ, Rơon, Sarem, Sơao, Sơ kết, Srê …
Ví dụ : Lơmu hà Kroong, Tuprông Nim ( nam ) ; Kgléo, Cillpam Mơlam ( nư )
DÂN TỘC CƠ TU
Còn gọi là Cà tu, Gao, Hạ, Phương, Ca tang, là dân địa phương ở dãy Trường Sơn thuộc Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam. Có những họ : Achuếch ( nước ), Adốt ( vượn ), Amu ( chó ), A rắt ( Con Cuốc ), D râm ( cái đầu ), Nđnok ( Con Bò ), Prông ( con Sóc ), Vọt ( khỉ ) …
DÂN TỘC GIÉ – TRIÊNG
Là dân cư địa phương ở Kon tum, Quảng Nam … Mỗi người Gié – Triêng ( trừ nhóm Proong ) đều có họ kèm theo tên, nhưng đàn ông khác với đàn bà. Các họ như : Bluông, Bruốt, Cắp năng, Ê đuốt, ( tên một loài chim ), Khoông, Kriêng, Na xó ( vùng đất đỏ ) … Ví dụ : Y Một ( Uỷ viên Trung ương Đảng – nữ ), Sô Lây Tăng ( Bác sĩ, Bí thư Tỉnh Ủy Kontum – nam ) .
DÂN TỘC HRÊ
Sống ở Tỉnh Quảng Ngãi, Tỉnh Bình Định. Dưới thời Phong kiến chỉ có 1 họ là họ Đinh, nay có họ Phạm, Nguyễn, Hà .
DÂN TỘC KHÁNG
Là dân cư địa phương ở Sơn La, Lai Châu. Họ tên theo người Thái. Ví dụ : Hoàng Sương ( nam )
DÂN TỘC KHƠ MÚ :
Còn gọi là : Kúm Mụ, Kmụ ; là dân cư địa phương ở Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Tỉnh Lào Cai, Thanh Hóa, Nghệ an …
Họ người Khơ Mú nguyên gốc : theo tên những thú rừng, cây cối, chim, vật vô tri … như :
– Nhóm tên thú :
+ Nhóm Rvai ( hổ ) gồm có : Rvai Veng Ung ( Hổ vằn tròn có đốm to ) ; Rvai Xênh Khương ( Hổ vằn đen vàng ) ; Rvai Tlắp ( Báo ) ; Rvai Đêr ( Hổ xám lớn ) .
+ Nhóm Tmoong ( Chồn, Cầy ) gồm có : Tmoong Hol ( Cầy ) ; Tmoong Rung ( Cáo ) .
+ Ngoài ra có nhóm Tiác ( Hươu, Nai ) ; Ho Hoa ( khỉ ) ; Hual ( Gấu ) ; Goi ( Sóc ) ; Oivê ( Rái cá ) ; Mar ( Rắn ) ; Kưmbur ( Tê tê ) .
+ Nhóm tên chim : nhóm Thràng ( Phượng hoàng đất ) ; nhóm Tgooc Xlooc Ôm có 2 nhành : Ôm Cô Tlê ( Chim Bồng chanh ) và Ôm Lit Praga ( Chìa vôi ) ; Chưnđre ( Chàng ràng ) ; Ric ( én ) ; Rivi ( Chim Phường chèo ) ; Lang Tu ( Họa mi ) ; Khư Tloc ( Cuốc ) ; Klảng ( Cắt ) ; Ir Glava ( Bìm bịp ) .
– Nhóm tên cây : Nhóm Tvạ có 3 ngành : Tvạ Tờrông Blai ( Guột ), Tvạ Ngăm ( rau Dớn ), TvạVoor ( Dương xỉ ), Xinh Ưa ( Tỏi ) .
+ Ngoài ra lẻ tẻ có họ Rét ( con ông lão ” Tu niễu ” ở dưới nước ) ; họ Soong ( cái Rọ ), Ha Lip ( muôi múc canh ) …
– Bên cạnh đó, do người Khơ Mú ở xen kẽ với người Thái ( bị trị truyền kiếp ) nên bị văn hóa truyền thống Thái ” đồng điệu ” tới người Khơ Mú khá đậm nét :
Ở Nghệ An : người Khơ Mú vẫn giữ cách đặt tên theo dòng họ theo ngôn từ dân tộc của mình như những họ Tmoong, Soong, Rvai, Lo, Seo, Chon, Cút, Chích, Ven, Hung, O ôc …
Còn ở Sơn La, Lai Châu thì người Khơ Mú đã đổi sang họ người Thái … họ gốc Khơ Mú chỉ còn gọi trong nội bộ dân tộc, tên hành chính ( hộ khẩu, chứng minh thư theo họ và tên người Thái ) : họ Rvai đổi thành họ Quàng, ở Nghệ An lại đổi thành họ Lộc ; Rvai Tlăp thành họ Lương, Rvai KrLự thành họ Lự …, Ở Điện Biên : họ Ôm thành hị Vi, Tmoong thành họ Lù ; ở Sơn La : họ Ôm thành họ Lò, Tmoong thành họ Lường, họ Chưn đnẹ thành họ Tòng .
DÂN TỘC MẠ
Sống ở Lâm Đồng, gồm những nhóm Blao, Chô Rô, Chô Tô, Chơ Sôp, Đa Dựng, Đa Huây … Họ tên : ví dụ K’va Răng ( nam ), K’Bình, K ‘ Sáu ( nữ ) …
DÂN TỘC MẢNG
Sống ở Lai Châu. Nguồn gốc xưa có 5 họ chính, nay theo kiểu họ người Thái – H’mông : Tơ Gioảng ( Chìn ), Vẳn Nơ ( Lò ), Văn Nệnh ( họ Anh ), Tơ Lot ( họ Lùng ), Tơ Ổ ( họ Pàn ), họ Lý, Tào, Vàng, Sùng, Chao, Ma … Trong mỗi dòng họ gốc đều gắn với tên Vật tổ ( Tô tem ) như chim, thú hoặc một vật nào đấy. Mỗi dòng họ có cách đặt tên theo 1 kiểu riêng. Ví dụ :
– Thông thường là: họ, tên đệm, tên gọi chính thức. Tuy vậy : con trai đều có
tên đệm là “A”, nhưng lại đặt lên đầu, rồi đến tên người, cuối là họ như A Muôn
Vẳn Nơ = Lò văn Muôn.
con gái: Thà Vẳn Nơ Muôn = Lò Thị Muôn.
Họ Từ Gioảng (họ Chìn) thì lại như bình thường: Từ Gioảng A Chảo = Chìn A Chảo.
Con gái: Từ Gioảng Chảo = Chìn Thị Chảo.
Họ Văn Nệnh: con trai chỉ dùng một “từ” họ: như Nệnh A Kây hay Anh A Kây.
Con gái: Văn Nệnh Kây, Anh Thị Kây.
Họ Tơ Ổ ( họ Pàn ) : con trai đặt thông thường ; con gái thì đặt tên đệm là ” Chứa ” ở giữa – ví dụ : tên là Nhượng thì với con trai là Tơ Ổ A Nhượng, con gái là Tơ Ổ Chứa Nhượng .
Ví dụ : một số ít tên thường thì của người Mảng hiện đang dùng trên sách vở là : Lý A Lầy, Lý A Chức, Lò A Nhì, Lò A Xoang, Tào A Sến, Vàng Mò Hừ, Lùng Thị Dính, Pàn Thị Nhương, Lò Thị Phương, Hoàng Ngọc Phan, Sìn Văn Son, Pàn Thị Mê …

DÂN TỘC M’NÔNG
Còn gọi là Chil, Gar, Kuyênh, Nông, Preh, Prong, Riăm, sống ở Lâm Đồng, Tỉnh Bình Dương, Dak Nông, có những Họ : Ba Sưr, Bing, Bu đăm, Busor, Bu đôp, Bu tông, Bu nô, Bun Toi, Buôn Krong, Chin, Dak cat, Đinh Đrang, Ja, K Liêng, Lieng, Lieng Hot, Long Đing, Lưk, Mbuôn, Mđrang, Mok, Nđu, Nong, N’tor, Ong, Pang Pé, Pang Sur, Pang Ting, Pang Tsong, Phi Mbre, Phok, Rche, Rchil, Ry am, R Lăk, Sruk, Tơr, Tumol, Triek, Uêbas, Vmăk .
DÂN TỘC Ơ ĐU
Cư trú ở 2 bản Kim Hòa, Xốp Pột ( Tương Dương – Nghệ An ), là tộc người không còn tiếng mẹ đẻ, bà con sử dụng hầu hết là tiếng Thái, tiếng Khơ Mú, truyền thống văn hóa truyền thống đã mờ nhạt, rất lâu rồi không có họ, nay theo họ người Thái hoặc Lào .
DÂN TỘC RƠ MĂM
Sống ở Làng Le, xã Mo Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kontum. Dòng họ theo tuy nhiên hệ ( cả cha và mẹ ) và cư trú song phương ( cả nội và ngoại ). Họ tên : ví dụ như : Y Ly Trang …
DÂN TỘC TÀ ÔI
Sống ở A Lưới ( Thừa Thiên Huế ), còn gọi là Pa cô, Pa Hí, Cà Tua, có những họ : Avet ( chim Vẹt ), Blup, Kêr ; Hoa Hăr ( Thờ chó ), họ Pa tả, A kơ …
DÂN TỘC XINH MUN
Còn có các tên gọi: Xá tú năng (uống nước, uống rượu bằng Mũi), Xá chại càng Lài
(có tục xăm cằm), Xá toong lương= xá Lá vàng, Xá Poọng (Xá ở rìa bản do Phìa Tạo
quản lý -làm tôi tớ), Xá Xúa (làm thuốc súng); là dân bản địa ở Sơn La, Lai
Châu,
xưa gọi là “Người Xá” (có ý miệt thị), bên Thái Lan, Lào gọi là người Khạ. Trước
không có họ, sau theo người Thái : Lò, Vì…Lường, Mè, Cút… như Lò Văn Sắn, Lò
Văn Lên, Vì Văn Khăm…
DÂN TỘC XƠ ĐĂNG
Sống ở Kon Tum, có những nhóm : Cà Dong, Hà Lăng, Mơ Năm, Xơ Đăng, Tơ Đrá, Hơ Teng, Xê Tác, Xê Tang, Rơ Tê Ang, Rơ Tê A, Holklan, Kmang .
Người Xơ Đăng không có họ, chỉ có “từ” phân biệt trai gái: A Nhông, A Sênh
(trai), Y Hên, Y Vênh (nữ).
DÂN TỘC XTIÊNG
Còn gọi Xa Điêng, là hậu duệ của người Phù Nam xưa ở Nam Bộ. Trước đây con trai là K ‘ để trước tên như K ‘ Lư, con gái là Thị … Ví dụ : Thị Diêm, Thị Em … Sau này có họ Điểu. Người theo họ Thiên Chúa lấy họ Lê ( Lê K ‘ Bang ) .
DÂN TỘC BỐ Y
Còn gọi là : Chủng Chá, Pù Ná, Trọng Gia, Tu Dí, Tu Din ; cư trú ở Tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang. Họ và tên tựa người Thái, mỗi dòng họ có mạng lưới hệ thống tên đệm riêng từ 5 đến 9 chữ, mỗi chữ dùng cho một thế hệ. Các họ : Dương ( Zàng ), Lỗ ( Lồ ), Lục ( Lù ), Ngũ ( Ngủ, U ), Phan ( Phán ), Vi ( Vầy ), Vù ( vủ ) …
DÂN TỘC GIÁY
Còn gọi là : Củi Chu, Dẩng, Pầu Thình, Pu Xạ, Pu Nà ; sống ở Lào cai, Hà giang, Cao Bằng, Lai Châu … Có những họ : Lò, Vùi, Chảo ( Triệu ), Phán ( Phan ), Trần, Vàng ( Vương ) .
DÂN TỘC LÀO
Sống ở biên giới Tây Bắc Nước Ta, thường mang những họ : Lò, Lường, Vi .
DÂN TỘC LỰ
Sống ở Lai Châu, có những họ : Lò, Vàng, Tao ( Đào ). Họ theo cha, con trai có tên đệm ” Bạ “, con gái có tên đệm ” Ý ” .
DÂN TỘC NÙNG
Cư trú ở những tỉnh miền núi phía bắc, có những họ :
– Nhóm Nùng An ở Hoàng Su Phì có 16 họ : Vàng, Cháng, Xin, Sải, Lừ, Hoàng, Pờ, Ly, Lèng, Sèn, Then, Giằng, Tải .
– Nhóm Nùng An ở Linh Hồ ( Vị Xuyên ) có những họ : Hoàng, Nông, Triệu, Phùng, Nùng, Đặng, Lưu, Sạch, Hà, Lão, mỗi họ có tên đệm riêng cho nam từ ông tổ đến thế hệ thứ 6, sau đó mới lặp lại .
Hệ thống tên đệm của dòng họ người Nùng Dín lần lượt bộc lộ qua 6 thế hệ là : Lao, Slử, Sào, Vần, Thìn, Kháng .
DÂN TỘC SÁN CHAY
Còn gọi là : Hờn Bán, Mán Cao Lan, Trại, Sờn Nhằn ( Sơn Nhân ) … có 2 nhóm : Cao Lan và Sán Chỉ ; sống rải rác ở miền núi phía Bắc ; có những họ : Dương, Đặng, Đàm, Hoàng, Trương, La, Lục, Trần, Nịnh, Lý, Lâm, Mễ, Mông …
Có họ chỉ có người Sán Chỉ có như : Đằng, Đồng, Lương, Vi … hoặc chỉ có ở người Cao Lan như : Âu, An, Bàng, Chu, Chung, Lãnh, Lưu, Quách, Tiêu, Tô, Tơ, Tống, Trạc, Vũ, Vương …
DÂN TỘC TÀY
Còn gọi là ” Thổ “, Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa Dí ; sống hầu hết ở Việt Bắc. Các họ chính gốc : Ma, Mông, Cà, Nông, Hoàng Lý, Chu, Vi, Ngân, Bế .. như Ma Khánh Bằng, Nông Đức Mạnh, Bế văn Phủng, Hoàng Đức Hậu … những họ ở xuôi ( Kinh ) lên như Nguyễn, Trần, Đàm ( Đàm Quang Trung ), Hà Thiêm Ích, Vũ, Cao, Đinh …
DÂN TỘC DAO
Sống xen kẽ với những dân tộc ở miền núi phía Bắc, có những nhóm : Dao quần trắng, Dao quần chẹt, Dao Tiền, Dao Thanh Y, Dao Đỏ, Mán, Trại, Đông, Dìu miền, Kim miền, Lù Gang, Làn Tẻn, Đại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, Cốc Mùn, Mán Sơn Đầu .
Có những họ Bàn, Lý, Đặng, Triệu, Chu, Lưu, Lê, Đàm, Trương, Bạch, Bao, Đối, Đường, Lan, Mãn, Phùng, Phương, Trần …
DÂN TỘC PÀ THẺN
Tự gọi là Pạ Hưng ; còn gọi là Mèo Lai, Mèo Hoa, Mèo Đỏ ; trú ở Hà Giang, Tuyên Quang .
Có 8 họ : Phù, Sìn, Làn, Hùng, Tẩn, Tải, Lìu, Ván. Ngoài ra có họ Bàn, Triệu, Chẩu, Giàng .
Họ Phù ở Bắc Quang có 3 chi là Phù to ( Ca bô cộ ), Phù Đê ( Cabô ca đe ), Phù gio nhà bếp ( Caboo ca xi ) .
Họ Sìn có 3 chi : Ca sơ qua, Ca sơ pi, Ca sơ công hay Pế ca công .
Cách đặt tên theo quy tắc : họ theo cha với trình tự nhất định. Con trai đệm ” Láo “, con gái đệm ” Thì ” – ví dụ : Nam : Sìn Láo Tả, Sìn Láo Lở, … Si, Ủ, Pù, Chớ ; Nữ : Sìn Thì Tả, Sìn Thì Lở …
DÂN TỘC PU PÉO
Còn gọi là : Ka Beo, Penti lô lô ; sống ở Hà Giang ; có những họ : Chồ, Củng, Chúng, Giàng, Lèng, Lù, Phủ, Thào, ráng, Vàng …
DÂN TỘC LA CHÍ
Còn có tên là Cù Tê, La Quả ; sống ở Hà Giang, Tỉnh Lào Cai ; có những họ : Ly, Lùng, Tận, Vương …
DÂN TỘC LA HA
Sống ở Sơn La, Tỉnh Lào Cai ; họ và tên : như người Thái, ví dụ Lò Thị Nu ( chuột ) .
DÂN TỘC CỜ LAO
Còn gọi là Ke Lao ; sống ở Hà Giang ; con theo họ cha ; có những họ : Cáo, Chảo, Chéng, Hồ, Lý, Min, Sáng, Sênh, Sú, Vân …
DÂN TỘC HOA ( Hán ) :
Sống ở nhiều nơi trong cả nước, trình độ phát triển xã hội cao; có bản sắc dân
tộc, tính cộng đồng rất cao. Họ bên Trung Quốc có 10.000 họ, trong đó phổ cập
khoảng từ 45-100 họ, riêng họ Zhang (Trương) có tới 100 triệu người (48% dân số
Trung Quốc).
Ở Việt Nam, người Hoa có khoảng trên 100 họ.
Nguồn gốc các họ :
-Nguyễn : thời nhà Thương có nước Nguyễn, con cháu lấy tên nước làm họ.
Nước Ngụy có nhà thơ Nguyễn Tịch.
-Họ Lê : cháu nội vua Chuyên Húc được phong ở Lê Dương, tức nước Lê, con cháu
lấy tên nước là họ.
-Họ Trần : đất Trần ở Quận Dĩnh Xuyên, con cháu dòng dõi Ngu Thuấn, lấy tên nước
làm họấ
-Họ Phạm : có ấp Phạm ở Quận Quỳnh Dương, người ở đấy lấy tên ấp làm họ.
-họ Vũ : con út vua Bình Vương là Hữu Văn ,thích xăm trên cánh tay chữ “Vũ”, Vua
bèn ban cho họ Vũ.
-Họ Ngô : đất Ngô ở Quận Diên Lăng, Chu Vũ Vương phong cho cháu 4 đời của Trọng
Ung ở đất Ngô, con cháu lấy tên đất làm họ.
-Họ Lý (cây Mận) : con cháu Cao Dao làm chức Quan Lý ở Lũng Tây, lấy chức quan
làm họ, sau có Lão Tử (Lý Đam) tổ của Đạo Lão.
– Họ Khúc : đời Chu có chức quan Khúc Thị ở Quận Nhữ Nam, con cháu lấy tên chức
quan làm họ.
-Họ Trịnh : con cháu vua Chu Lệ Vương được phong ở đất Trịnh – Quận Huỳnh Dương,
lấy tên nước làm họ.
-Họ Hồ: nguyên họ Quy ở Quận Yên Định, một người con thứ của Trần Công Mãn lấy
tên thụy (đặt khi chết) là họ.
-Họ Mạc : hậu duệ của Cao Dương Thị được phong ở đất Mạc, lấy tên đất làm họ.
-Họ Đinh : nguyên họ Khương, dòng dõi Đinh Công (tước vị) con của Tề Thái Công,
lấy tên thụy làm họ.
-Họ Đặng : Vua nhà Ân phong cho Chúc Man Quý ở đất Đặng, con cháu lấy họ Đặng.
-Họ Phùng : con cháu Văn Vương hưởng Thái ấp ở đất Phùng- Quận Thủy Bình, sau
lấy tên ấp làm họ.
-Họ Tưởng : con Chu Công được phong ở đất Tưởng – Quân Lạc An, lấy tên đất làm
họ.
Tên người Hoa thường mẫu mực cho cách đặt tên truyền thống ở Trung Quốc, Việt
Nam, Triều Tiên…
Cách đặt tên của người Hoa theo công thức nhất định :
-Tên đơn (1 chữ) : Lưu Bị, Trần Nghị
-Tên đôi (2 chữ): Văn Thiên Tường, Lý Tự Thành
-Họ kép, tên đơn : Gia Cát Lượng, Tư Mã Ý
-Tên 3 chữ Lô Tiểu Lập Kính, Chu Nhị Muội Ly
-Họ chồng+họ vợ : hoặc họ cha+ họ mẹ : Trần Trương Cúc Như, Vương Cáp Thục Thu.
DÂN TỘC SÁN DÌU
Còn gọi là Sán Déo, Mán Quần Cộ; sống rải rác ở các tỉnh miền núi, trung du phía
Bắc. Con trai mang tên đện “Á” (Tràn Á Thanh), con gái mang đệm “A” ( Trần A
Lan). Các họ tiêu biểu: Hoàng, Trần, Ân,Vi, Tô, Trương, Dương, Đỗ, Đặng, Diệp,
Hà, Lưu, Leo, Phạm, Viên, Thăng, Dư, Đào, Đằng…
Hệ thống tên đệm được đặt tới 9 đời : Kính, Phượng, Thắng, Vinh,Nguyên, Thế,
Văn, Trung, rồi mới lăp lại.
DÂN TỘC NGÁI
Còn gọi là Ngái Hắc Cá, Lẩu Mẩn, Hẹ, Lê, Đàn ; sống ở Quảng Ninh, Bắc giang, Cao Bằng, TP Lạng Sơn, Tp Hồ Chí Minh, Thái Nguyên. Họ tên giống người Hoa .
DÂN TỘC CHU RU
Chu Ru còn gọi là Cru = ” xâm đất ” ( di cư từ nơi khác đến, còn gọ là : Cado, Kơ lu, Pnông Chăm ; sống đa phần ở Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận. Họ tên : B’nahria, Crugiang, Dnơngsang, Đơ Lơng, Ya, K’Bao, Ma, M’Hơi .
DÂN TỘC GIA RAI :
Gia Rai có nghĩa là ” thác nước ” ; sống đa phần ở Tây Nguyên, Phú Yên, Khánh Hòa .
Có 10 họ : đặt theo sự tích bà tổ Rchom ( nếu đẻ ở gốc cây sum sê ), Nay ( gốc cổ, thụ ), Rơ Ô, Siu ( đẻ ở gốc cây Rsiu ), Rmah ( đẻ ở gốc Mãng Cầu ), vợ chồng làm tình ở Rẫy đẻ ra con nên có họ là Ksor, Rahlan, Hieo ( dưới bóng cây Hieo ) Kpă ( dưới bóng cây Kbla ) .
DÂN TỘC RAGLAI ( Raglei, Rai, Noang, Laoang ) :
Sống chủ yếu ở Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh -Bình Thuận. Dòng họ: Pa Tâu (đá mài),
Pi Năng (cau), Ka to (Bobo), Pupo (tro bếp), Kazá (dựa vào nhau), Camau,
Copuro’, Chama le’ (dây máu) Chip, Dó, Hà dài, Ja rao, Lao, Man, Bẩu, Pateh,
Phul. Tên thường gắn với con vật: Tikuh (con chuột), Anu (con dúi).
Ví dụ : Chamale’ Điêu, Pi Năng Tắc (nam)
Catơ Thị Cuống, Chamale’ Thị Đăm.
DÂN TỘC CỐNG
Còn gọi là Xắm khổng, Mâng Nhé, Xá Xeng ; sống ở Lai Châu. Các họ tiêu biểu vượt trội : Chang, Chảo, Hù, Lý, Lò, Lung, Séng. Tên : Lý Hoài Sáo, Lò Văn Saư ( nam ), Chang Thị Lin ( nữ ) .
DÂN TỘC HÀ NHÌ ( U Ní )
Sống ở Lai Châu, Tỉnh Lào Cai. Đặt tên theo 12 con giáp. ví dụ : Cà Bơ là cô Bơ sinh ngày con Lợn, Ha Dé là cậu bé sinh ngày con Gà. Nam : Pờ A Vù, Chang Bố Hừ, Lỳ Ly phà ; Nữ : Pờ Gò Sừ, Lỳ Thị Chom, Hù Mí Dẹ
DÂN TỘC LA HỦ
Còn gọi là Xá Pươi ( Xá ở trần ), Xá toong Lương ( Xá lá vàng ), Khù Sung, Cò Sung ( tiếng Thái = ở núi cao ) ; cư trú ở Lai Châu. Có những họ Ly, Vàng, Pờ, Giàng, Phùng, Ma, Sừng … song song còn có mạng lưới hệ thống tông tộc được gọi bằng tiếng La Hủ, thường gắn với 1 loài thú, ví dụ : họ La Lò = Hổ, họ Pha Lạ Thó Lò = họ Sóc, Vàng Là Pa Thờ Ngác Lò ( chim gõ kiến ), Ly Giò Lò = họ Giàng, Ha ná Lò = họ Phù ,
DÂN TỘC LÔ LÔ
Còn gọi là : Lu Lộc Màn, Lu Lu, Qua La, Ô man, Di nhân, Di gia, Lạc Tô ; sống ở Hà Giang, Cao Bằng, Lai Châu, Tỉnh Lào Cai. Có những dòng họ : Bàn, Cáng, Cổ, Chi, Chông, Dao, Dìu, Doãn, Duyền, Hoàng, Hồ, Lang, Làng, Lặc, Lý, Liềng, Lò, Lồ, Lù, Màn, Mèo, Nùng, Pâu, Phái, Sình, Thàng, Thào, Thổ, Vàng, Văn … Ví dụ : Lò Giàng Páo, Lầu Súng Páo, Lò Si Pao, Mùng Dỉ Đổi, Thàng Dúng Kỉnh, Vàng Dĩ Sinh, Chấn Vần Quang, Thàng Thị Kèn …
DÂN TỘC PHÙ LÁ
Sống ở Lai Châu, Sơn La, Lào cai, Hà Giang. Có các nhóm: Phù Lá Lão (Xá Phó),
Phù Lá Hán, Pố Khô Pà, Phù Lá Đen. Các dòng họ : tiêu biểu là A Si, Nhơ Hê… Ví
dụ : Lý Ba Dửn, Đặng Văn Lả, Nìu A Xướng, Nìu Văn Xiêm…
DÂN TỘC SI LA
Sống đa phần ở Mường Tè – Lai Châu. Có 5 họ là Hù, Pờ, Lì, Li, Giàng, trong đó họ Hù và Pờ chiếm hầu hết, mỗi họ gắn với 1 truyền thuyết thần thoại : Hù gắn với Hổ cứu người ; họ Pờ là thanh gươm bảo vệ làng bản. Phân biệt trai gái bằng tên đệm : con trai đệm ” chà “, con gái đệm ” Có ” ( cô ). / .
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Nông Thôn






